SKKN một số biện pháp rèn kĩ năng nói và viết cho học sinh lớp 2, trường tiểu học lương sơn 1, huyện thường xuân - Pdf 57

MỤC LỤC
TT

A
I
II
III
IV
B
I
II
1
2
III
1
2
IV
C
I
II

TÊN ĐỀ MỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
NỘI DUNG
CƠ SỞ LÍ LUẬN
THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Trải qua hàng nghìn năm, cùng với sự tiến hoá của loài người, ngôn ngữ
cũng dần dần được hình thành, phát triển và hoàn thiện. Ngôn ngữ từ mức độ
1


đơn giản là trao đổi thông tin, tiếp đến là biểu lộ tình cảm, trạng thái tâm lí, cao
hơn nữa là yếu tố quan trọng biểu lộ văn hoá, tính cách của con người. Việc sử
dụng ngôn ngữ: nói - viết không thể thiếu trong học tập, lao động - giao tiếp
hằng ngày. Việc nói, viết đúng chuẩn mực là cơ sở để ta có thể đánh giá trình độ
văn hoá về mặt ngôn ngữ của một người. Khi chúng ta dùng sai tức là chúng ta
đã làm nghèo đi vốn Tiếng Việt, làm mất vẻ đẹp của tiếng nói và chữ viết. Xuất
phát từ mục tiêu giáo dục hiện nay: Giáo dục với tư cách là bậc học nền tảng
trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Tiểu học nhằm hình thành những cơ
sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các
kĩ năng cơ bản áp dụng cho cuộc sống sau này. Trong tất cả các môn học, Tiếng
Việt là một trong những môn học quan trọng, chiếm nhiều thời lượng, thời gian
dạy học. Việc dạy học Tiếng Việt trong nhà trường, ở cấp tiểu học đã chú trọng
tới bốn kĩ năng cơ bản đó là: nghe, nói, đọc, viết. Trong bốn kĩ năng này, kĩ năng
nào cũng quan trọng, có quan hệ mật thiết với nhau, song với kĩ năng nghe và
nói là hai kĩ năng học sinh đã có sẵn một số “vốn” nhất định. Học sinh “nghe” thì
dễ nhưng tiếp nhận thông tin và thể hiện, diễn đạt “nói” cho người khác tiếp
nhận lại thông tin một cách hiệu quả thì đó là cả một quá trình học hỏi, trau dồi.
Hai kĩ năng đọc và viết được hình thành và phát triển khi học sinh đi học, bắt
đầu ở cấp tiểu học học sinh mới thực sự thực hiện kĩ năng viết. Thực tế dạy học,
tôi nhận thấy rằng: nhiều thế hệ học sinh của mình còn có nhiều em gặp khó
khăn trong việc nói và viết câu đúng theo chuẩn ngôn ngữ Tiếng Việt.
Vậy, làm thế nào để tất cả đối tượng học sinh, cho dù các em sống ở
những nơi điều kiện có nhiều khó khăn và sách tham khảo chưa được phong

năng sử dụng ngôn ngữ, nói và viết câu của học sinh, những vấn đề còn hạn chế
hoặc khó khăn của học sinh trong cách diễn đạt để từ đó giúp các em thực hiện
tốt hơn kĩ năng nói và viết câu. Điều này đã thôi thúc tôi luôn tìm hiểu tài liệu,
học hỏi đồng nghiệp, suy nghĩ tìm tòi, áp dụng đúc kết kinh nghiệm dạy học của
mình để làm sao nâng cao được chất lượng dạy học của mình trong từng tiết học.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài đó là những kinh nghiệm rèn kĩ năng nói
và viết cho học sinh lớp 2.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp trực quan: tôi tiến hành theo dõi, giúp đỡ trực tiếp.
- Phương pháp thực hành – luyện tập
- Phương pháp thảo luận nhóm: Đối với những từ khó dễ viết sai, hiểu
sai… tôi trao đổi với đồng nghiệp để tìm cách giải quyết tốt nhất.

3


Ngoài ra tôi còn tự tìm hiểu qua sách báo, qua mạng để tham khảo những
câu văn hay, cách viết văn, kinh nghiệm giáo dục học sinh nhằm nâng cao hiệu
quả giáo dục.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Ngôn ngữ là một thứ công cụ có giá trị, có tác dụng vô cùng to lớn, nó có
thể dùng để diễn đạt tất cả những gì con người nghĩ ra, nhìn thấy, biết được từ
những cái nhỏ bé, đơn giản nhất. Ngôn ngữ được thể hiện chủ yếu, cơ bản nhất
dưới hai hình thức: nói và viết. Đến tuổi đi học, các em mới có điều kiện học
chữ, học ngôn ngữ viết. Đây là một hình thức ngôn ngữ mới, có sức diễn đạt lớn
nhưng lại xây dựng theo những quy tắc, chuẩn mực nghiêm ngặt. Như chúng ta

học. Đó là:
1. Thuận lợi:
Đa số các bậc phụ huynh đều thấy được tầm quan trọng của việc học nên
đã tạo điều kiện cho học sinh đến trường đến lớp. Các em có đủ đồ dùng cần
thiết để học tập.
2. Khó khăn:
Nhiều gia đình kinh tế còn gặp khó khăn, đời sống vật chất còn thiếu thốn,
chưa kể một số đông học sinh là con em dân tộc thiểu số, phát âm theo chuẩn
ngôn ngữ Tiếng Việt ít nhiều có sự ảnh hưởng của yếu tố địa phương. Ví dụ:
một số âm chưa rõ: “l” với “đ”: “lời nói” có khi thành “đời nói”; âm “b” trong
một số trường hợp lẫn với âm “v”, “bỏ đi’ thành “vỏ đi”… Các em ít có điều
kiện được tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, kĩ năng giao tiếp có phần
hạn chế. Một số học sinh nhà xa điểm trường đường đi trơn dốc, có khi phải lội
qua suối, trời mưa to không thể đi qua được. Khả năng tiếp thu, trình độ kiến
thức của học sinh không đồng đều.
Bên cạnh đó còn có một số gia đình bố mẹ đi làm ăn xa, gửi con lại cho
ông bà trong khi đó các em lại đang còn nhỏ, tính tự học chưa cao.
Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành khảo sát lớp mình chủ nhiệm trong hai
năm học như sau:
Năm học 2016 – 2017, tôi chủ nhiệm lớp 2A với kết quả là:
Sĩ số

Các kĩ năng

Sĩ số

Các kĩ năng

25


Năm học 2017 - 2018, tôi chủ nhiệm lớp 2D. Kết quả đạt được như sau:
HTT

SL
4
4

HT

TL
16
16

SL
15
15

CHT

TL
60
60

SL
6
6

TL
24
24

hai bộ phận chính của câu, khiến cho nghĩa của câu không trọn vẹn, làm cho
người đọc hiểu sai hoặc buồn cưởi thậm chí cả hụt hẫng thất vọng.
- Câu thừa thành phần: Đây là những câu có thành phần câu lặp lại một
cách không cần thiết.
- Câu không phân định rõ thành phần: là những câu rất khó xác định
thành phần câu làm cho câu rắc rối, lủng củng, nghĩa của câu không rõ ràng, tối
6


nghĩa hoặc vô nghĩa. Nguyên nhân của loại lỗi này khá phức tạp. Trước hết là do
các em không chuẩn bị cho mình một nội dung cần nói, cần viết nên không phân
định được từng ý rạch ròi. Một phần nữa là do các em viết gần như trong tình
trạng vô thức, nhớ từ nào hoặc cụm từ nào là các em viết ngay vào bài không tìm
cách sắp xếp các từ, cụm từ để biểu đạt nội dung cần trình bày.
- Ngoài những kiểu câu sai về ngữ pháp như trên, học sinh còn nói, viết
câu sai về nghĩa, câu không rõ nghĩa, câu không có sự tương hợp về nghĩa giữa
các thành phần câu, các vế câu.
- Một số lỗi khác ngoài câu
Ngoài những lỗi như trên, trong quá trình dạy học, tôi còn phát hiện thấy
học sinh còn mắc một số các lỗi khác, từ đơn giản đến phức tạp như: Hết câu
không biết dùng dấu chấm câu, dùng sai dấu câu, dùng dấu câu một cách tuỳ
tiện, dùng ngôn ngữ nói vào trong ngôn ngữ viết, dùng từ địa phương.
2. Các biện pháp tổ chức thực hiện
Từ những giải pháp trên, tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, đề ra các biện pháp
chủ yếu giúp học sinh rèn kĩ năng nói và viết câu như sau:
Biện pháp 1: Sửa trực tiếp.
Trong quá trình dạy học, bản thân tôi nhận thấy việc sửa trực tiếp hết sức
cần thiết vì dưới sự gợi ý, phân tích, giúp đỡ của giáo viên, các em sẽ nhận thấy
“lỗi” ngay tại lớp và “sửa” hiệu quả. Ưu điểm của biện pháp này là có thể áp
dụng cả khi học sinh nói và viết câu, đoạn văn. Giáo viên có thể cho em nghe lại

học sinh khác? Em thấy câu văn của bạn thế nào?/ Em có nhận xét gì về câu văn
của bạn?../ Em hãy sửa lại giúp bạn…Từ đó, học sinh khác sẽ phát hiện chỗ
sai và giúp bạn khắc phục để có những cách nói hoặc viết đúng và hay.
Biện pháp 4: Đưa ra các câu văn khác nhau cùng diễn đạt một ý để học
sinh lựa chọn câu văn hay, phù hợp.
Trường hợp này, thường gặp ở những học sinh còn lúng túng khi đặt câu,
các em cốt làm sao đặt câu đúng theo yêu cầu. Để giúp học sinh, tôi khuyến
khích các học sinh đưa ra nhiều câu văn khác nhau để học sinh lựa chọn.
Ví dụ: Khi đặt câu với từ “mở”, học sinh viết: Em mở cặp. Tôi hướng dẫn học
sinh: Em đặt câu như vậy đã đúng rồi nhưng em hãy xem câu của em vừa đặt
với câu: “Em mở cặp lấy sách vở ra học.”, câu nào đủ ý và hay hơn? Học sinh
chắc chắn sẽ chọn câu thứ hai.
Ví dụ: Cũng là giới thiệu về một mùa mà em yêu thích, tôi khích lệ các học sinh
của mình đưa ra nhiều cách nói và các em đã có nhiều cách giới thiệu: Mùa em
thích nhất là mùa hạ; Em thích mùa xuân nhất, mùa xuân là mùa đầu tiên trong
năm; Trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông em thích mùa xuân nhất; Một năm có
8


bốn mùa, bát đầu là mùa xuân, tiếp theo là mùa hạ rồi đến mùa đông và cuối
cùng là mùa xuân, mùa nào cũng có vẻ đẹp riêng nhưng em thích mùa thu nhất…
Biện pháp 5: Ra thêm các bài tập, yêu cầu học sinh đặt câu, viết đoạn văn
theo chủ điểm đã học.
Ngoài các bài tập trong sách giáo khoa, tôi còn dành thời gian nghiên cứu,
tìm tòi các mẫu câu, đoạn văn phù hợp để các em được thực hành nhiều hơn, bởi
thực hành, luyện tập là vấn đề vô cùng quan trọng, giúp các em củng cố kiến
thức, rèn luyện kĩ năng viết câu, vì vậy, tùy vào các tiết học cụ thể, tôi xem học
sinh nào còn chưa học tốt ở phần nào, tôi sẽ ra thêm các bài tập ở phần đó và
kiểm tra, hướng dẫn các em thực hiện vào đầu buổi học và các tiết ôn luyện. Đối
với tất cả học sinh trong lớp, tôi yêu cầu học sinh phải nắm chắc các kiến thức

lại từng câu sau khi đã tách câu.
Ví dụ: Khi viết đoạn văn nói về con vật nuôi em thích, một học sinh viết:
Em rất thích con gà trống nhà em nó có bộ lông nhiều màu sắc, đôi cánh
chắc khỏe, trên đầu nó có cái mào đỏ chót… (học sinh: Lô Thị Phương )
Tôi hướng dẫn học sinh tách câu: Em rất thích con gà trống nhà em. Nó có
bộ lông nhiều màu sắc. Đôi cánh chắc khỏe. Trên đầu nó có cái mào đỏ chót…
Biện pháp 7: Kiểm tra bài làm, chấm bài, chữa lỗi thường xuyên.
Việc kiểm tra bài, chấm, chữa bài thường xuyên là việc làm hết sức cần
thiết vì đó không chỉ thúc đẩy, động viên học sinh học tập mà còn giúp giáo viên
kịp thời phát hiện năng lực học tập, sáng tạo cũng như những thiếu hụt của các
em để kịp thời bồi dưỡng, khắc phục. Trong quá trình kiểm tra, chấm bài, tôi đã
giúp học sinh nhận ra sai sót trong khi viết câu và giúp các em sửa chữa, viết lại
câu văn, đoạn văn từ mức đạt yêu cầu trở lên và rất hiệu quả. Khi học sinh viết
đoạn văn, tôi kiểm tra, nhận xét, dựa trên ý diễn đạt của học sinh, tôi đã hướng
dẫn học sinh lựa chọn cách diễn đạt để hoàn thành đoạn văn được tốt hơn.
Biện pháp 8: Đa dạng các hình thức dạy học để thu hút sự chú ý của học
sinh, tạo được hứng thú học tập cho các em.
Tuỳ theo từng bài học, tiết học, tôi có thể cho học sinh đóng vai, hỏi đáp,
tổ chức trò chơi, hoạt động theo nhóm…nhằm gây hứng thú, thu hút sự chú ý
của các em để tăng kĩ năng nói và viết của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học.
Ở những tình huống đóng vai, học sinh của lớp tôi đã mạnh dạn hơn nhiều, kĩ
năng nói và viết cũng được nâng lên, các em rất hào hứng không chỉ thể hiện mà
còn cả ở việc nhận xét đóng vai của bạn. Tôi đã cho học sinh đóng vai nhiều ở
các tiết kể chuyện, các tình huống trong tiết Tập làm văn hay trong môn Đạo
đức…học sinh đều thực hiện khiến tôi hài lòng. Ở các hoạt động trò chơi, học
10


mà chơi, chơi mà học đều mang đến nhiều mong đợi và thích thú cho học sinh.
Vì vậy tôi đã lồng ghép trò chơi vào tiết học để học sinh bớt căng thẳng nhưng

11


dấu câu, có câu văn buộc họ sinh phải suy nghĩ, tư duy để xác định nghĩa của câu
để từ đó lựa chọn dấu câu phù hợp. Ví dụ: Bài viết này của ai mà chữ đẹp thật
đấy( ). Học sinh phải suy nghĩ và hiểu đay là câu tỏ ý khen vậy cần điền dấu (!)
chứ không phải dấu (?). Nhưng nếu là câu: Bài văn này của ai mà chữ đẹp thế
nhỉ thì cuối câu cần điền dấu (?) vì ý câu này vừa muốn hỏi vừa muốn khen và
quan trọng là muốn hỏi để biết ai viết đoạn văn….
Biện pháp 11: Áp dụng các biện pháp dạy học sinh chữa lỗi trong từng
phân môn Tiếng Việt.
a) Phân môn Tập đọc:
Trong phân môn Tập đọc, học sinh thường sai ở việc trả lời câu hỏi thiếu
thành phần. Vì thế, ngay từ bài học đầu tiên tôi chỉ cần hướng dẫn và yêu cầu các
em trả lời lại cho đầy đủ câu. Hình thành ý thức, kĩ năng trả lời câu hỏi cho các
em.
Ví dụ: Trả lời câu hỏi bài đọc: Có công mài sắt, có ngày nên kim.
Giáo viên

- Lúc đầu, cậu bé học hành thế nào?
- Em có nhận xét gì về câu trả lời của
bạn?
- Em hãy giúp bạn trả lời lại cho đủ
câu nào?
GV nhận xét, chốt câu đúng.

Học sinh

- nhác đọc, nhác viết ạ!
- Bạn trả lời chưa đầy đủ câu ạ!

* Dạng 1: Điền từ còn thiếu để được câu văn đúng.
Ví dụ 1: Bài tập 4c – Tuần 7: Chọn từ chỉ hoạt động thích hợp với mỗi chỗ trống.
Cô … chúng em chăm học.
Nhiều học sinh lúng túng khi tìm, lựa chọn từ. Tôi đã gợi ý cho các em
liên hệ với việc cô dạy các em ở lớp để chọn từ. Đây là câu có thể lựa chọn được
nhiều từ để điền: khuyên, bảo, mong, khen... Tôi khuyến khích các em suy nghĩ
và lựa chọn từ hợp lý nhất để điền. Nhiều học sinh đã chọn từ “khuyên”: Cô
khuyên chúng em chăm học.
Ví dụ 2: Bài tập 2 – Tuần 8: Chọn từ trong ngoặc đơn thích hợp với mỗi chỗ
trống: (giơ, đuổi, chạy, nhe, luồn)
Con mèo, con mèo
…. Theo con chuột
… vuốt, … nanh
Con chuột …. quanh
Luồn hang … hốc.
Chỗ trống ở dòng 2, có học sinh chọn từ “chạy”, có học chọn đúng từ
“đuổi”. Tôi cho học sinh chọn từ “đuổi” giải thích cách chọn. (thực tế con mèo
đang đuổi theo bắt con chột để ăn thịt khác với việc chạy bình thường.)

13


Chỗ trống ở dòng 3, tôi yêu cầu học sinh chỉ ra vị trí các bộ phận của con
mèo: Vuốt ở dưới chân, nanh là răng nanh nằm trong miệng. Vì thế học sinh dễ
dàng lựa chọn và điền đúng: “Giơ vuốt, nhe nanh” mà không điền “Giơ nanh,
nhe vuốt”. Hai chỗ trống còn lại, học sinh dễ dàng điền đúng.
* Dạng 2: Đặt câu theo mẫu (Ai (cái gì, con gì)? là gì?/ làm gì?/ như thế nào?
Tôi cho học sinh ghi nhớ một số “mẹo” khi đặt và phân biệt các loại câu này.
- Đối với mẫu câu: Ai/ cái gì/ con gì? là gì? cần nhớ trong câu có từ “là”.
Ví dụ: Mẹ em là giáo viên.

Tôi cho học sinh ghi nhớ kiến thức: Cuối câu hỏi, ta phải điền dấu chấm
hỏi, các câu còn lại ta phải điền dấu chấm. Đa số học sinh đã làm tốt.
Ví dụ 2: Bài tập 3 – Tuần 28: Điền dấu chấm hay dấu phẩy vào ô trống?
Giáo viên
Học sinh
Khi nào chúng ta dùng dấu chấm?
…khi chúng ta viết hết một câu.
Chữ đầu câu phải viết như thế nào?
- Chữ đầu câu phải viết hoa ạ!
Lưu ý trường hợp tên riêng cũng viết hoa
nên ta phải xem khi gặp từ này đã hết
câu hay chưa để điền dấu chấm câu cho - Làm tốt bài tập.
đúng.

+ Loại bài dùng dấu phân cắt câu, bộ phận của câu.
Ví dụ 1: Bài tập 3 – Tuần 8; Bài tập 4 – Tuần 12:
Em có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu sau?
Chúng em luôn kính trọng biết ơn các thầy giáo cô giáo.
Chăn màn quần áo được xếp gọn gàng.
Tôi giúp học sinh hiểu: các từ, các cụm từ có nhiệm vụ, tương đương với
nhau trong cùng một câu, ta phải dùng dấu phẩy để tách chúng.
Trong câu 1: “ kính trọng” tương đương với “ biết ơn”, “ thầy giáo” cũng
như “cô giáo”. Như vậy các câu trên, học sinh sẽ biết dùng dấu phẩy.
Chúng em luôn kính trọng, biết ơn các thầy giáo, cô giáo.
Chăn màn, quần áo được xếp gọn gàng.
Ví dụ 2: Bài tập 3 – Tuần 4; Bài tập 3 – Tuần 35 – Tiết 1.
Ngắt đoạn văn sau thành 4 câu rồi viết lại cho đúng chính tả:
Trời mưa to Hòa quên mang áo mưa Lan rủ bạn đi chung áo mưa với mình
đôi bạn vui vẻ ra về. (Bài tập 3 – Tuần 4).
Với việc hướng dẫn học sinh nắm vững cách dùng dấu chấm như trên, sau

Học sinh đã vận dụng được việc làm mẫu của tôi để đặt được những câu
văn đúng, đầy đủ, từ mức đạt yêu cầu trở lên.
Ví dụ: Mỡ lợn trắng tinh; Em mở cặp để lấy sách vở ra học bài…
e) Trong phân môn Tập làm văn.
Trong phân môn này, học sinh phải sử dụng câu chủ yếu qua các dạng bài
tập: Nhìn tranh nói, viết câu (đoạn) theo nội dung tranh; Nói, viết lời chào, cảm
ơn, xin lỗi, đề nghị, chúc mừng; Viết đoạn văn kể về người, về vật …Nói chung
ở dạng bài tập nào thì cũng vẫn có học sinh sử dụng câu sai, song qua việc chữa
16


trực tiếp và hướng dẫn các em tự chữa lỗi dưới nhiều hình thức và biện pháp
khác nhau, tôi thấy rằng số lượng và số lỗi học sinh lớp tôi chủ nhiệm đã giảm
đáng kể.
* Các biện pháp hỗ trợ khác
- Sắp xếp chỗ ngồi hợp lý cho học sinh để tiện kèm cặp, giúp đỡ học sinh.
- Động viên các em tự tin, mạnh dạn khi nói, khi đọc bài.
- Yêu cầu các em đọc to, nói to, nói rõ khi đọc hoặc khi phát biểu ý kiến.
Động viên, khích lệ các em. Tuyệt đối tránh để các em rụt rè hoặc tự ti. Nghiêm
cấm việc cười nhạo, chế diễu bạn của các học sinh khác.
- Xây dựng tổ nhóm học tập, em nói viết câu tốt kèm cặp, giúp đỡ em còn
chậm, chưa giao tiếp và viết câu đúng.
- Tôn trọng lắng nghe và thấu hiểu khó khăn của học sinh khi thực hiện
bài tập để giúp các em giải quyết tốt vấn đề.
- Đề xuất với các bậc phụ huynh quan tâm, tạo điều kiện tốt về việc mua
sắm đồ dùng, góc học tập, thời gian học tập và nhắc nhở các em học tập cũng
như chuẩn bị bài đầy đủ trước khi đến lớp.
- Đề xuất với phụ huynh xây dựng tổ nhóm học tập ở địa phương có sự
kèm cặp của phụ huynh.
- Bản thân tôi cũng không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên


SL
11
11

CHT

TL
40,7
40,7

SL
0
0

TL
0
0

17


Đến giữa học kì II của năm học 2017 – 2018, Tôi đã tiến hành khảo sát
chất lượng lớp 2D và thu được kết quả như sau:
Sĩ số

Các kĩ năng

HTT


nghĩa của từ ở mặt chữ viết và có ý thức viết nói và viết đúng. Vì vậy để dạy học
sinh sử dụng câu đúng, Giáo viên cần phải nắm vững ngữ nghĩa, cấu tạo ngữ
pháp của Tiếng Việt, trên cơ sở đó cần đề ra phương pháp, biện pháp dạy học
sinh phù hợp. Chúng ta có thể dạy học sinh ở mọi lúc, mọi nơi và dạy cả ở khi
dạy các môn học khác chứ không riêng gì một Tiếng Việt. Tạo cho học sinh có ý
thức nói và viết câu đúng.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. KẾT LUẬN:

Trong quá trình dạy học, tôi đã rút ra bài học hết sức quý báu cho bản thân
mình. Đó là: Muốn nâng cao hiệu quả dạy học tới mức có thể thì:
- Trước hết, người thầy phải trau dồi ngôn ngữ của mình.
- Khi dạy học, giáo viên phải phát âm đúng chuẩn.
- Các bài tập đưa ra cho học sinh thực hiện thì “lệnh” cần phải ngắn gọn,
rõ ràng, dễ hiểu.
- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh một cách cụ thể, ngắn gọn.
- Bên cạnh đó cũng rất cần có những nhận xét chính xác, tuyên dương
động viên học sinh một cách kịp thời để tạo hứng thú cho học sinh.
Và điều quan trọng không thể thiếu, đó là người giáo viên phải thực sự
“Yêu nghề, mến trẻ”. Phải hết mực thương yêu, tận tuỵ dạy dỗ học sinh và
không ngừng học hỏi nâng cao kiến thức cũng như trình độ chuyên môn nghiệp
vụ của bản thân.
II. ĐỀ XUẤT
18


Qua nhiều năm trực tiếp dạy học, tôi thấy học sinh còn rụt rè, chưa mạnh
dạn, chủ động trong giao tiếp, chưa có sự cọ sát thực tế nhiều vì vậy tôi mong
muốn nhà trường, các cấp lãnh đạo cần tăng thêm các buổi hoạt động ngoại
khóa, các hình thức sinh hoạt, giao lưu các câu lạc bộ nhiều hơn nữa để các em

2
3

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
Năm học
giá xếp loại
xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở,
(A, B,
loại
Tỉnh...)
hoặc C)
Sở GD&ĐT

C

2014 - 2015

----------------------------------------------------

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status