SKKN một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để học tốt phân môn luyện từ và câu - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD&ĐT HẬU LỘC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 5
PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG ÂM VÀ TỪ NHIỀU NGHĨA
ĐỂ HỌC TỐT PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU

Người thực hiện: Phạm Thị Na
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hoa Lộc
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt


THANH HÓA, NĂM 2018


MỤC LỤC
STT
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
2.4

6
18
19
19
19


1.MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học là: “Nhằm giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung
học cơ sở.”[1]. Giáo dục Tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ
sở ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người công dân
tốt trong giai đoạn mới. Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy tiếng
Việt là dạy học thông qua giao tiếp. Các hoạt động giao tiếp, đặc biệt giao
tiếp bằng ngôn ngữ là công cụ cực mạnh để học sinh tiếp cận, rèn luyện và
phát triển khả năng sử dụng từ tiếng Việt. Do đó, việc đưa học sinh vào các
hoạt động học tập trong giờ tiếng Việt được giáo viên đặc biệt quan tâm, chú
ý. Ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, một
trong những nội dung khó đó là phần nghĩa của từ.
Ở Tiểu học, Luyện từ và câu là phân môn có vị trí rất quan trọng trong
việc sản sinh lời nói và tạo câu. Các em muốn nói đúng, viết đúng thì phải
nắm vững kiến thức về từ ngữ và ngữ pháp tiếng Việt. Người ta thường nói
“Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Quả đúng như vậy. Nhờ
có điều đó mà tiếng mẹ đẻ của chúng ta trở nên phong phú và uyển chuyển vô
cùng. Trong đó, từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ, vai trò của từ trong hệ
thống ngôn ngữ quy định tầm quan trọng của việc dạy từ ngữ ở Tiểu học. Nếu
như không có vốn từ đầy đủ thì không thể sử dụng ngôn ngữ như một công cụ
giao tiếp được. Vì vậy, giúp học sinh Tiểu học nắm vững lí thuyết cũng như kĩ

- Nghiên cứu nội dung bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa. Tìm ra biện
pháp giúp học sinh lớp 5 luyện tập phân biệt, sử dụng về từ đồng âm và từ
nhiều nghĩa tại Trường Tiểu học Hoa Lộc .
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
1. Nghiên cứu tài liệu: Đọc phân tích các tài liệu dạy học liên quan đến từ
đồng âm và từ nhiều nghĩa như: SGK, SGV Tiếng Việt 5, một số tài liệu tham
khảo liên quan để đưa ra một số giải pháp giúp học sinh phân biệt, sử dụng
đúng từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
2. Phương pháp điều tra thực tế:
- Trao đổi với đồng nghiệp trong khối 5.
- Dự giờ đánh giá.
- Khảo sát chất lượng học sinh bằng phiếu học tập.
3. Dạy thực nghiệm:
- Dạy bài khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
- Luyện tập phân biệt, sử dụng từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
- Thống kê phân loại kết quả sau thực nghiệm.

2- NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2


2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong quá trình phát triển của trẻ, giao tiếp là một điều không thể thiếu.
Trẻ giao tiếp với cha mẹ, với thầy cô, với bạn bè. Trẻ thể hiện những suy
nghĩ, kiến thức của mình thông qua việc nói hoặc viết. Chính vì vậy, việc
nhận biết và sử dụng đúng từ ngữ là hết sức quan trọng. Điều này không chỉ
giúp các em thể hiện đúng, đầy đủ và hay ý tưởng của mình mà còn làm cho
người đọc, người nghe hiểu được điều các em muốn thông báo. Ngoài ra nó
còn giúp cho suy nghĩ của trẻ ngày càng sâu sắc và có hệ thống. Như ta đã
biết từ là yếu tố quan trọng để tạo câu, câu là một yếu tố quan trọng góp phần

(Từ điển Tiếng Việt 2005- Nguyễn Văn Xô- Nhà xuất bản Thanh niên) [3].
Chúng là các từ đa nghĩa. Với tư cách là đơn vị định danh, từ đa nghĩa cho ta
thấy rằng: Từ có thể di chuyển từ chỗ gọi tên cho đối tượng này sang gọi tên
cho đối tượng khác, từ chỗ có nghĩa này, có thể có thêm nghĩa khác:
3


→ Đối tượng 1 —
Nghĩa 1
→ Đối tượng 2 —
Nghĩa 2
Từ →
(...)
→ Đối tượng n

Nghĩa n
Sự "di chuyển" đó có nguyên nhân ở nhận thức của người bản ngữ và tính
chất tiết kiệm trong ngôn ngữ. Hai nhân tố này tác động và ảnh hưởng lẫn
nhau đã dẫn đến việc tạo lập từ đa nghĩa của từ vựng.
Các nghĩa của từ đa nghĩa được xây dựng và tổ chức theo những cách
thức, trật tự nhất định. Vì vậy, người ta cũng có thể phân loại chúng. Có nhiều
cách phân loại, nhưng thường gặp nhất là: Nghĩa gốc – Nghĩa chuyển (nghĩa
phát sinh). Nghĩa gốc được hiểu là nghĩa đầu tiên hoặc nghĩa có trước, trên cơ
sở nghĩa đó mà người ta xây dựng nên nghĩa khác.
Ví dụ :Với từ chân : (1) Bộ phận thân thể của người (động vật) ở phía dưới
cùng, để đỡ thân thể đứng yên hoặc vận động rời chỗ; (2) Cương vị, phận sự
của một người với tư cách là thành viên của một tổ chức (có chân trong ban
quản trị),…
Nghĩa (1) của từ chân ở đây là nghĩa gốc. Từ nghĩa (1) người ta xây dựng
nên các nghĩa khác của từ này bằng những con đường, cách thức khác nhau.

+ Từ đồng âm: Các em được học một tiết về từ đồng âm ở tuần 5. Trong tiết
này, các em được học khái niệm về từ đồng âm, các bài tập chủ yếu giúp học
sinh phân biệt về nghĩa của từ đồng âm, đặt câu với từ đồng âm. Tiết dùng từ
đồng âm để chơi chữ đã được giảm tải. Như vậy về thời lượng còn quá ít,
chưa có tiết luyện tập.
+ Từ nhiều nghĩa: Từ nhiều nghĩa được dạy trong 2 tiết ở tuần 7 và một tiết ở
tuần 8. Học sinh được học về khái niệm từ nhiều nghĩa. Các bài tập chủ yếu là
phân biệt từ mang nghĩa gốc, nghĩa chuyển, đặt câu để phân biệt nghĩa, nêu
các nghĩa khác nhau của một từ. Thời lượng còn rất ít so với nội dung kiến
thức khó này.
* Về phía giáo viên :
Trong quá trình dạy các tiết học này, phần lớn giáo viên đã làm tốt vai trò
tổ chức hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức, song do thời lượng quá ít nên
không có thời gian giúp học sinh phân biệt về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
Khả năng lấy thêm ví dụ ngoài sách giáo khoa ở nội dung này đưa vào để
giảng thêm cho học sinh hiểu sâu cũng là một hạn chế đối với nhiều giáo viên.
c- Kết quả khảo sát:
Ngay sau khi dạy phần từ đồng âm và từ nhiều nghĩa xong (khi chưa được
luyện tập nhiều), tôi đã tiến hành khảo sát lớp 5A.
Năm học 2016- 2017 (Thời điểm là tháng 10/2016)
Điểm 9-10

số
34
34

Điểm 7-8

Điểm 5-6



41,1

11

32,4

5

14,7

5

14,7

17

50

10

29,4

2

5,9

Năm học 2017- 2018 (Thời điểm là tháng 10/2017)
Điểm 9-10



TL

3

9,4

13

40,6

13

40,6

3

9,4

6

18,8

15

46,9

10

31,2

với ghế (đồ nội thất); “bàn”(2) là bộ phận tập hợp các phím trong một số loại
đàn hoặc máy tính.
+ Nhiều khi học sinh chưa phân biệt đúng nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ
nhiều nghĩa.
Từ nguyên nhân trên, làm thế nào để học sinh phân biệt được từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa? Theo tôi, mấu chốt của vấn đề là cả GV và HS cần phải
hiểu bản chất kiến thức. Từ đồng âm là nhiều từ đọc giống nhau nhưng nghĩa
hoàn toàn khác nhau. Nghĩa các từ trong văn cảnh đều là nghĩa gốc (còn gọi
là nghĩa chính hay nghĩa đen). Còn từ nhiều nghĩa thì chỉ là một từ có một
nghĩa gốc còn các nghĩa khác là nghĩa chuyển được suy ra từ nghĩa gốc. Trở
lại ví dụ ở trên, trong Ví dụ 1 “bàn” trong “cái bàn” và “bàn” trong “bàn công
việc” đều mang nghĩa gốc, Ví dụ 2 “bàn” trong “cái bàn” mang nghĩa gốc còn
“bàn” trong “bàn phím” mang nghĩa chuyển. Làm thế nào để HS phân biệt
được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ? Giáo viên cần lưu ý học sinh: các từ
mang nghĩa gốc thì nêu được nghĩa nhưng phải bằng cách diễn giải; còn phần
nhiều các từ mang nghĩa chuyển thì nêu nghĩa bằng cách thay thế bằng một từ
khác (mang nghĩa phụ).
Ví dụ: Mùa xuân(1) là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân(2).
Ta thấy rằng: “xuân”(2) được dùng theo nghĩa chuyển vì “xuân” có thể thay
thế bằng “tươi đẹp”.
Để khắc phục được những nguyên nhân kể trên, tôi xin đưa ra một vài
hướng giải quyết như sau.
6


2.3.2. Nghiên cứu phương pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
a- Giúp học sinh nắm vững khái niệm.
* Từ đồng âm: Là từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa
(SGK Tiếng Việt 5 tập 1- trang 51)[4].

đã được giảm tải.
*Từ nhiều nghĩa: Là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển.
Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
(SGK- Tiếng Việt 5 tập 1- trang 67)[4].
Ví dụ: Bé có khuôn mặt rất xinh (nghĩa gốc); Mặt ao lăn tăn gợn sóng (nghĩa
chuyển)
Một từ có khả năng gọi tên nhiều sự vật, hiện tượng, biểu thị nhiều khái
niệm thì từ đó là từ nhiều nghĩa. Các nghĩa ấy có quan hệ mật thiết với nhau.
Ta có thể so sánh từ nhiều nghĩa với từ một nghĩa. Từ nào là tên gọi của một
7


s vt hin tng, biu t mt khỏi nim thỡ ú l t mt ngha. Vớ d: ghi
ụng (b phn tay cm ca cỏi xe p),... T no l tờn gi ca nhiu s vt,
hin tng, biu th nhiu khỏi nim thỡ t y l t nhiu ngha. T ch gi
tờn s vt, tớnh cht, hnh ng ny (ngha 1) chuyn sang gi tờn s vt, tớnh
cht hnh ng khỏc (ngha2). Quan h a ngha ca t ny sinh t ú.
Vớ d: Qu cam (b phn ca cõy c hỡnh thnh t bu nhy hoa- ngha
gc); qu tim, qu i, qu t (nhng vt cú hỡnh dng ging qu- ngha
chuyn).
Nh vy mun phõn tớch c ngha ca t a ngha, trc ht phi miờu
t tht y cỏc nột ngha gc ca t. Ngha ca t c phỏt trin thng
da trờn cỏc c s sau:
- Da vo s ging nhau v hỡnh dỏng gia cỏc s vt hin tng.
Vớ d: tai (ngi)- tai (m); mi (ngi)- mi (thuyn)- mi (dao)
- Da vo chc nng ca s vt, hin tng:
Vớ d: n (cm) - n (tu vo cng n than); ct (c) - ct (t quan h)
- Da vo tỏc ng ca cỏc s vt i vi con ngi:
Vớ d: au (chõn) au (lũng).
- Da trờn quan h gia b phn v ton th:

- Học sinh nêu các đặc điểm của từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và rút ra định
nghĩa.
- Luyện tập để nắm khái niệm trong ngữ liệu mới.
Việc dạy hai bài học trên cũng tuân theo nguyên tắc chung khi dạy Luyện
từ và câu là vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học như:
- Phương pháp hỏi đáp
- Phương pháp giảng giải
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp luyện tập thực hành
- Hình thức học cá nhân
- Thảo luận nhóm
- Tổ chức trò chơi
* Đối với các tiết dạy luyện tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viên chủ
yếu thông qua việc tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh củng cố,
nắm vững kiến thức, nhận diện, đặt câu, xác định đúng nghĩa…
+ Yêu cầu học sinh hiểu và nắm ghi nhớ để vận dụng.
+ Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau.
Điều đặc biệt của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là phát âm giống nhau (nói
đọc giống nhau, viết cũng giống nhau). Ta thấy rõ ràng là “thành”(1) trong
“tường thành”, “thành”(2) trong “thành trì của cách mạng” và “thành”(3) trong
“lễ lạt lòng thành” đều phát âm giống nhau, viết giống nhau. Vậy mà
“thành”(1) , “thành”(2) với “thành”(3) có quan hệ đồng âm, còn “thành”(1) và
“thành”(2) lại có quan hệ nhiều nghĩa.
Để có được kết luận trên đây, trước hết học sinh phải hiểu rõ nghĩa của
các từ “thành”(1), “thành”(2), “thành”(3) là gì?
- “Thành”(1): Công trình xây đắp bao quanh để bảo vệ một khu vực dân cư
hoặc nhà cửa,….
- “Thành”(2): Cái nền tảng, cơ sở vững chắc cho cái khác tồn tại và phát triển.
- “Thành”(3): Chân thành.
Để có thể giải nghĩa chính xác các từ “thành” như trên, các em phải có vốn

từ đồng âm.
Hiện tượng từ đồng âm cùng từ loại như trên học sinh rất dễ nhầm lẫn với
từ nhiều nghĩa. Vì hầu hết các từ nhiều nghĩa đều cùng từ loại. Ví dụ: đi bộ
(rời chỗ bằng chân), đi công tác (di chuyển đến nơi khác để làm nhiệm vụ
hoặc công việc), đi tất (mang, xỏvào chân), đi ô tô (di chuyển bằng phương
tiện)- đều là động từ; bạn cao quá (chiều thẳng đứng trên mức trung bình),
chất lượng cao (tốt hơn mức bình thường), tài trí cao (giỏi hơn người)- đều là
tính từ,...
Vậy khi gặp những từ ngữ có âm giống nhau thì các em chưa vội phán
quyết đó là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa và phải xét thật kĩ về nghĩa xem
chúng có liên quan gì đến nhau không.
Ví dụ: Các từ in đậm trong mỗi nhóm dưới đây có quan hệ với nhau như thế
nào?
a- Đánh cờ, đánh trận, đánh đàn.
b- Xanh rì, xanh đậm, xanh lam.
c- Thi đậu, xôi đậu, ruồi đậu.
d- Tinh hoa, hoa văn.
e- Đường hoàng, học đường.
Xét về từ loại thì ở nhóm a các từ đánh đều là động từ, về nghĩa thì nghĩa
của các từ này có quan hệ với nhau (đều tác động đến một sự vật khác làm
cho sự vật đó thay đổi) nên chúng là từ nhiều nghĩa. Các từ xanh trong nhóm
b đều là tính từ nhưng chúng có quan hệ đồng nghĩa vì cùng chỉ về các màu
xanh khác nhau- đồng nghĩa không hoàn toàn. Các từ đậu trong nhóm c có
quan hệ đồng âm với nhau: (thi) đậu (động từ- trúng tuyển), (xôi) đậu (danh
từ- chỉ một loại hạt dùng để ăn), (ruồi) đậu (Động từ- chỉ hoạt động dừng
10


chân)- các nghĩa này không có liên quan đến nhau. Xét nhóm d, (tinh) hoa
(danh từ - chỉ phần tinh tuý tốt đẹp), hoa (văn) (danh từ- chỉ nét vẽ đẹp trang

nghĩa có nghĩa là phải nêu nghĩa của từ đó trong câu văn. Giáo viên giúp học
sinh hiểu nghĩa của của các từ đồng âm trong từng trường hợp. Chẳng hạn:
Bò kéo xe (gia súc nuôi để làm sức kéo hoặc lấy thịt)- hai bò gạo (đơn vị đo
lường) - cua bò lổm ngổm (hoạt động di chuyển bằng chân, bụng tiếp giáp với
mặt đất). Từ đó học sinh thấy được các nghĩa này không có sự liên quan.
*Hãy phân biệt nghĩa của các từ ngữ in đậm trong các câu sau và cho
biết các từ ngữ đó có quan hệ với nhau như thế nào?
a- Hàng bán nước1 nhưng không bán nước2.
b- Quán ngăn gian1 cốt để ngăn gian2.
c- Trọng tài1 trọng tài2 vận động viên, vận động viên động viên trọng tài.[5]
Đây là một bài tập khó nhưng tương đối thú vị. Tương tự như trên thì học
sinh cũng phải nêu được nghĩa trong mỗi trường hợp: bán nước1 chỉ bán đồ
uống giải khát, bán nước2 chỉ sự phản bội tổ quốc; ngăn gian1 chỉ chia thành
các gian phòng khác nhau có bức vách ngăn, ngăn gian2 chỉ việc đề phòng kẻ
11


gian; trọng tài1 chỉ người điều khiển trận đấu, trọng tài2 có nghĩa là coi trọng
tài năng. Các từ trên có quan hệ đồng âm với nhau.
+ Đối với từ nhiều nghĩa:
Ví dụ : * Xác định nghĩa của từ in nghiêng trong các kết hợp dưới đây và
chia thành 2 loại nghĩa gốc, nghĩa chuyển.
a- Đứng: hãy đứng1 lên, trời đứng2 gió, công nhân đứng3 5 máy một lúc.
b- Chín: quả chín1 mọng, nghĩ chín2 rồi hãy nói, ngượng chín3 cả người.
Đối với dạng này giáo viên cũng giúp học sinh nêu nghĩa của các từ trên
trong từng trường hợp rồi chia ra nghĩa gốc, nghĩa chuyển. Ví dụ: Đứng1 chỉ
hoạt động dừng chân tại chỗ ở tư thế thẳng của người (động vật)- nghĩa gốc;
đứng2 chỉ ngừng chuyển động- nghĩa chuyển; đứng3 chỉ điều khiển ở tư thế
đứng - nghĩa chuyển. Các nghĩa này đều có liên quan mật thiết với nhau, cùng
mang một nét nghĩa ở yên một chỗ nên nó là từ nhiều nghĩa.



Sau khi cho học sinh làm bài cá nhân, thì ta cho học sinh lên bảng trình bày
để vừa củng cố kiến thức về từ, vừa củng cố kiến thức về câu.
Chẳng hạn: Bạn ấy hát rất hay. (giỏi)
Tôi vừa hay tin bác ấy đã trở về. (biết)
Mình đến nhà bạn hay bạn đến nhà mình. (hoặc)
Tôi hay đến nhà ông bà vào mỗi buổi chiều muộn. (thường xuyên)
+ Đối với từ nhiều nghĩa:
* Với mỗi nghĩa dưới đây của từ xuân, em hãy đặt một câu và nói rõ đó là
nghĩa gốc hay là nghĩa chuyển:
a- Chỉ mùa đầu tiên của một năm, từ tháng giêng đến tháng ba. (xuân là danh
từ)
b- Chỉ sự trẻ trung, tươi đẹp. (xuân là tính từ)
c- Chỉ một năm. (xuân là danh từ) [7]
Giáo viên có thể cho học sinh tự làm rồi sau đó nhận xét sửa chữa, nếu có
em còn lúng túng, giáo viên giúp các em hiểu rõ hơn về nghĩa của mỗi từ đó.
Khi đưa bài tập trên ra, tôi thấy nghĩa 1 và 2 học sinh hoàn thành dễ dàng
nhưng sang nghĩa thứ 3 thì nhiều em còn nhầm với nghĩa 1, có em lại nhầm
sang nghĩa của từ xuân có nghĩa là tuổi (Bác ấy đã tròn bốn mươi xuân.).
Ví dụ: - Mùa xuân đến, cây cối lại đâm chồi nảy lộc. (nghĩa gốc).
- Bác ấy đã qua tuổi thanh xuân. (nghĩa chuyển)
- Đã ba xuân trôi qua mà anh ấy vẫn chưa trở về. (nghĩa chuyển)
Sau khi học sinh hoàn thành bài tập, giáo viên nên cho học sinh nhận biết
các nghĩa trên của từ xuân có sự liên quan là đều nói về một cái gì đó mới
mẻ, tươi đẹp nên nó là từ nhiều nghĩa.
* Hãy đặt câu để từ sao có quan hệ là từ đồng âm và từ sao có quan hệ là từ
nhiều nghĩa.
Đây là một yêu cầu kép, mức độ khó của bài tập đã được nâng lên. Trước
khi học sinh làm bài, giáo viên có thể gợi ý, các em phải đặt câu (1 câu hoặc

từ nhiều nghĩa:
a- Chín: Lúa ngoài đồng đã chín vàng. Tổ em có chín học sinh.
Nghĩ cho chín rồi hãy nói.
b- Đường: Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt. Các chú công nhân đang
chữa đường dây điện thoại. Ngoài đường, mọi người đi lại nhộn nhịp.
c- Vạt:- Những vạt nương màu mật
Lúa chín ngập lòng thung.
- Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre.
- Những người Giáy, người Dao
Đi tìm măng hái nấm
Vạt áo chàm thấp thoáng
Nhuộm xanh cả nắng chiều.[4]
* Trong các từ in đậm dưới đây, từ nào là từ đồng âm, từ nào là từ nhiều
nghĩa.
a) Vàng:
- Giá vàng1 trong nước tăng đột biến.
- Tấm lòng vàng2.
- Ông tôi mua một bộ vàng3 lưới mới để chuẩn bị cho mùa đánh bắt hải sản.
b) Bay:
- Bác thợ nề đang cầm bay1 trát tường.
- Sếu giang mang lạnh đang bay2 ngang trời.
- Đạn bay3 rào rào.
- Chiếc áo này đã bị bay4 màu.[7]
Đáp án : vàng1, vàng2 đồng âm với vàng3 ; vàng1 với vàng2 là từ nhiều
nghĩa. Bay1 đồng âm với các từ bay còn lại; bay2 , bay3 , bay4 là từ nhiều
nghĩa.
Dạng 4: Nối từ hoặc cụm từ với nghĩa đã cho:
+ Đối với từ đồng âm:
Nối từ ở cột A với nghĩa thích hợp ở cột B.
A

Các em nên nối những trường hợp mình hiểu chắc chắn trước. Trường hợp
khó còn lại có thể làm theo cả phép loại trừ. Khi chữa bài, giáo viên phải cho
học sinh hiểu rõ từ trong mỗi trường hợp để các em nhận biết sâu hơn đó là từ
đồng âm hay từ nhiều nghĩa.
Dạng 5: Nêu nhiều cách hiểu trong 1 câu cho trước. (Dạng bài tập dành
cho đối tượng có năng lực tốt)
Ví dụ1: Mỗi câu sau có mấy cách hiểu, hãy nêu cụ thể mỗi cách hiểu đó.
a- Công việc nhà chồng chị lo liệu tất cả.
b- Đêm hôm qua cầu gãy.
c- Xe không được rẽ trái.
d- Hổ mang bò lên núi.
e- Hoa mua ở bên đường.
Bài tập này khá thú vị, cùng một ngữ liệu nhưng lại có nhiều cách hiểu
khác nhau. Ta có thể hướng dẫn học sinh hiểu như sau:
a- Cách 1: Công việc nhà chồng / chị lo liệu tất cả. (người vợ lo liệu mọi
công việc của gia đình bên chồng).
Cách 2: Công việc nhà / chồng chị lo liệu tất cả. (người chồng lo mọi công
việc ở nhà)
Cách 3: Công việc / nhà chồng chị lo liệu tất cả. (gia đình bên chồng lo hết
mọi công việc)
b- Cách 1: Đêm hôm / qua cầu gãy. ( đi qua cây cầu gãy vào ban đêm)
Cách 2: Đêm hôm qua / cầu gãy. ( cầu bị gãy vào đêm hôm qua) ....
Dạng bài tập này cũng tương đối khó nên chương trình đã giảm tải. Tuy
nhiên đối với học sinh có năng lực tốt, ta cũng nên giới thiệu thêm để các em
được mở rộng kiến thức. Ta cũng có thể thay bằng yêu cầu khác cho bài trên
như: thêm dấu phẩy để câu văn có các cách hiểu khác nhau. Ví dụ: Công việc
15


nhà, chồng chị lo liệu tất cả. Công việc nhà chồng, chị lo liệu tất cả. Công

a- Mũi thuyền.
b- Mũi súng.
c- Mũi đất.
d- Mũi quân bên trái đang thừa thắng xốc tới.
e- Tiêm ba mũi.[9]
Ở dạng bài tập 1 này học sinh phải tìm được từ đồng nghĩa được dùng theo
nghĩa gốc để thay thế. Bài tập 2 phải tìm được từ đồng nghĩa để thay thế.
Ví dụ:
Bài 1:
a- Căn nhà ổ chuột.->tồi tàn (tối tăm),...
b- Tấm lòng vàng. -> tốt (nhân hậu, nhân ái),...
c- Ý chí sắt đá. ->kiên cường,...
d- Lời nói ngọt ngào-> dễ nghe,...
Bài 2:
a- Mũi thuyền. -> đầu thuyền.
16


b- Mũi súng. -> đầu súng.
c- Mũi đất. -> mỏm đất.
d- Mũi quân bên trái đang thừa thắng xốc tới. -> Đơn vị quân bên trái.....
e- Tiêm ba mũi. -> Tiêm 3 lượt.
Dạng 7: Một số bài tập đố vui, hoặc đưa ra một số mẩu chuyện vui
Bài 1: Đố vui:
a- Mồm bò không phải mồm bò mà lại mồm bò.
Là con gì?
b- Đập thì sống không đập thì chết.
Là quả gì?
c- Chín đầu chín đuôi
Da màu đỏ gạch

2017- 2018. Bằng những biện pháp này, tôi đã giúp các em củng cố, khắc sâu,
mở rộng kiến thức và rèn kĩ năng thực hành các dạng bài tập liên quan đến từ
đồng âm và từ nhiều nghĩa.Từ những biện pháp đã nêu, tôi không chỉ giúp các
em nắm vững kiến thức về từ mà còn giúp các em thấy được sự giàu đẹp,
uyển chuyển của tiếng Việt. Đây là tiền đề, là cơ sở để ta bồi dưỡng cho các
em tình yêu và trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng đối với tiếng mẹ đẻ.
Kết quả cụ thể như sau:
Năm học 2016- 2017 (Thời điểm là tháng 4/2017)

số

34

34

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

Điểm dưới Ghi
5
chú

SL

TL

SL


10

29,4

0

0

Nội dung

Từ đồng âm
và từ nhiều
nghĩa
Tiếng Việt

Năm học 2017- 2018 (Thời điểm là tháng 1/2018)

số

32

32

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6



15

46,9

2

6,3

0

0

23

71,9

9

28,1

0

0

0

0

Kết quả đạt được tuy chưa thật sự mĩ mãn, nhưng cũng là nguồn động

làm nền tảng giúp các em học sinh lớp 5 học tốt phân môn Luyện từ và câu
nói riêng cũng như môn Tiếng Việt nói chung.
3.2.Kiến nghị:
- Đối với nhà trường và Phòng giáo dục- Đào tạo:
Cần đầu tư về tài liệu, thường xuyên mở chuyên đề để giáo viên tham khảo,
trao đổi, thảo luận, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
- Đối với Bộ GD-ĐT:
Khi xây dựng chương trình, cần tăng thời lượng để học sinh được luyện
tập, củng cố nhiều hơn nội dung kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa.
Trong quá trình thực hiện sáng kiến “Một số kinh nghiệm giúp học sinh
lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để học tốt phân môn Luyện
từ và câu ”. Tôi đã tham khảo một số tài liệu dạy học thuộc phân môn, một số
bài viết liên quan cũng như học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè, đồng nghiệp. Do
thời gian và năng lực còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu
sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để bài viết của tôi được
hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

19


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN Hậu Lộc, ngày 10 tháng 3 năm 2018
VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết:

Phạm Thị Na


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status