SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD & ĐT NGỌC LẶC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO
HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS MINH TIẾN,
HUYỆN NGỌC LẶC
Người thực hiện: Nguyễn Đức Quang
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THCS Minh Tiến
Sáng kiến kinh nghiệm thuộc lĩnh vực: Quản lý
THANH HÓA NĂM 2019
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
MỤC LỤC...............................................................................................
Phần I: MỞ ĐẦU....................................................................................
1. Lý do chọn đề tài.................................................................................
2. Mục đích nghiên cứu...........................................................................
3. Đối tượng nghiên cứu..........................................................................
4. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................
Phần 2: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM..............................
1
2
2
3
3
3
3
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………...
3
3
4
4
5
5
5
5
6
6
7
7
9
12
15
17
17
19
19
hiện trong các nhà trường, trong đó hoạt động chuyên môn dạy và học là nhiệm
vụ trọng tâm. Hoạt động chuyên môn có tốt, có mạnh thì chất lượng giáo dục
của nhà trường mới cao và xét ở một góc độ nào đó, chất lượng giáo dục là
thước đo năng lực quản lý của Ban giám hiệu và trình độ, năng lực giảng dạy
của đội ngũ giáo viên.
Trong những năm qua, chất lượng giáo dục của trường THCS Minh Tiến
đã có những bước phát triển nhất định, các chỉ số đánh giá, xếp loại về đạo đức
và học lực của học sinh được nâng dần lên nhưng chưa cao và chưa ổn định.
Tình trạng này do nhiều nguyên nhân như: Công tác quản lý, điều hành hoạt
động chuyên môn trong nhà trường chậm được đổi mới, chưa đáp ứng được yêu
cầu; công tác giáo dục học sinh, giảng dạy của giáo viên còn có những hạn chế;
đời sống kinh tế, xã hội, trình độ dân trí, nhận thức của nhân dân trên địa bàn
chưa cao; mức độ quan tâm, đầu tư, định hướng, quản lý việc học tập của các
bậc phụ huynh dành cho con em họ còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó những tác
động tiêu cực của kinh tế thị trường và hội nhập, của mạng Intenet, những mặt
trái của xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận học sinh, làm cho
nhiều học sinh thiếu động cơ học tập, thái độ học tập không tích cực dẫn đến kết
quả học tập không cao thậm chí hằng năm còn có tình trạng học sinh bỏ học.
3
Trong những nguyên nhân kể trên, có nguyên nhân là nguyên nhân khách
quan, có nguyên nhân là nguyên nhân chủ quan. Qua quá trình công tác, với
cương vị là Phó Hiệu trưởng nhà trường phụ trách công tác chuyên môn, tôi
luôn tư duy, suy nghĩ để tìm các giải pháp mới trong quản lý, điều hành hoạt
động chuyên môn trong nhà trường nhằm tác động vào một trong các nguyên
nhân chủ quan nêu trên, vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp quản
lý, chỉ đạo hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở
trường THCS Minh Tiến, huyện Ngọc Lặc” để nghiên cứu, tổng kết, rút ra
Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là một quá trình hoạt động có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch của một người (hay một nhóm người) - gọi là giáo viên 4
nhằm tác động vào hệ thống nhận thức của người đó, để làm phát triển trí thông
minh, phát triển khả năng nhận thức phù hợp với thế giới khách quan và làm
phát triển nhận thức của người đó lên; qua đó tạo ra một con người mới, có
những phẩm chất phù hợp với yêu cầu được đặt ra.
Như vậy, giáo dục là hoạt động hướng tới con người, bằng những biện
pháp hướng tới truyền thụ: Tri thức và khái niệm, kỹ năng và lối sống, tư tưởng
và đạo đức. Từ đó hình thành năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục
đích, mục tiêu, hoạt động lao động, sản xuất và lối sống xã hội.
1.2. Khái niệm về quản lý giáo dục
Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của
chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm
bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo
cho sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.
Quản lý giáo dục trong nhà trường là sự tác động lên tập thể giáo viên,
học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động
họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để
đạt mục đích đã định.
1.3. Quản lý chuyên môn
Quản lý chuyên môn trong nhà trường là quản lý toàn bộ việc giảng dạy,
giáo dục của giáo viên, việc học tập và rèn luyện của học sinh theo nội dung
giáo dục toàn diện nhằm thực hiện mục tiêu, đường lối giáo dục của Đảng. Quản
lý hoạt động chuyên môn đó là công tác chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch, tổ chức
thực hiện chuyên môn của các tổ bộ môn, chỉ đạo hoạt động chuyên môn của
giáo viên nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà
trường thì quản lý hoạt động chuyên môn là quan trọng nhất, là hoạt động trọng
tâm đòi hỏi người quản lý tốn nhiều tâm lực và thể lực nhất.
- Tích cực tư duy, có nhiều biện pháp vận động, huy động các nguồn lực
trong và ngoài nhà trường để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
4. Nguyên tắc quản lý chuyên môn trong nhà trường
Thực hiện nhiệm vụ quản lý chuyên môn trong nhà trường cần dựa trên
các nguyên tắc cụ thể, đó là:
- Đảm bảo nguyên tắc chính trị, xã hội: Tính đảng, tính giai cấp; nguyên
tắc tập trung dân chủ; pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Đảm bảo nguyên tắc tổ chức, quản lý giáo dục: Sự thống nhất của các
thành phần, các bộ phận trong hệ thống; nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân
phụ trách và chịu trách nhiệm.
- Đảm bảo nguyên tắc về hoạt động quản lý giáo dục: phải kết hợp hài
hoà, hợp lý các lợi ích; tính chuyên môn hoá; phối hợp sử dụng các phương
pháp giáo dục phù hợp và hiệu quả.
II. THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CỦA TRƯỜNG
THCS MINH TIẾN TRONG 3 NĂM TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKN
1. Những thuận lợi và khó khăn cơ bản của nhà trường
1.1. Thuận lợi
Cán bộ giáo viên, nhân viên (CBGV, NV) có trình độ đạt chuẩn và trên
truển, có phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức tốt, thường xuyên được tham
gia bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ, thuận lợi cho
quá trình thực hiện nhiệm vụ của nhà trường.
Trường có số lượng học sinh ít, hầu hết các em thuần tính nên dễ định
hướng, dễ giáo dục hơn so với học sinh ở những vùng trung tâm.
1.2. Khó khăn
Năng lực công tác của một số CBGV, NV trên một số lĩnh vực còn có hạn
chế, mức độ tâm huyết, tận tình với công việc không đồng đều nên ảnh hưởng
đến kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Thu nhập và mức sống của đa số nhân dân trên địa bàn còn thấp ảnh
hưởng đến việc đầu tư, chăm lo cho con, em ăn học.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi chưa thực sự được đầu tư có hiệu quả;
thời gian ôn luyện còn chưa thường xuyên, liên tục; một số giáo viên chưa tích
luỹ được nhiều kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
Nguồn học sinh để bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh mũi nhọn hạn chế
nên khó khăn trong công tác phát triển chất lượng mũi nhọn, đặc biệt là giải
HSG cấp tỉnh các môn văn hóa.
4. Thống kê các số liệu về chất lượng giáo dục trong ba năm học trước
khi áp dụng các giải pháp đổi mới quản lý chuyên môn
Bảng 4.1. Công tác phát triển số lượng và duy trì sĩ số
Tổng số
Tổng số
Số HS bỏ
Số HS
Tuyển mới
Năm học
HS đầu
HS cuối
học trong
chuyển
HS lớp 6
năm học
năm học
năm
trường
2014-2015
62
256
255
1
0
7
2014-2015 255
227 89,0
25
9,8
3
1,2
0
0
2015-2016 259
241 93,1
18
6,9
0
0
0
0
2016-2017 249
225 90,4
23
9,2
1
0,4
0
0
Bảng 4.3. Kết quả xếp loại học lực học sinh (chất lượng đại trà)
Xếp loại học lực
Số
Năm học văn hóa lớp 9
nhọn 6,7,8 NC KHKT
Huyện Tỉnh Huyện Tỉnh Huyện Tỉnh
2014-2015
6
0
8
0
1
0
14
1
2015-2016
2
0
7
5
1
0
19
2
2016-2017
2
0
0
0
1
0
20
1
2015-2016 259
190
187 98,4 69
67
97,1
67
57
85,1
2016-2017 249
200
196 98,0 49
48
98,0
48
41
85,4
Với thực trạng chất lượng giáo dục của nhà trường như trên, bản thân đã
tư duy, tìm tòi và vận dụng một số giải pháp quản lý, chỉ đạo hoạt động chuyên
môn trong trường cũng như tích cực tham mưu cho Hiệu trưởng ở một số mặt
công tác với mục đích nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục của nhà
trường trong những năm tiếp theo.
III. CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG
CHUYÊN MÔN ĐÃ ÁP DỤNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC TRONG NHÀ TRƯỜNG
Chất lượng giáo dục trong một nhà trường được nhìn nhận dưới nhiều góc
độ và được đánh giá trên nhiều mặt, nhiều chỉ số như: chất lượng giáo dục đạo
đức; chất lượng giáo dục văn hóa đại trà; chất lượng giáo dục văn hóa mũi nhọn.
Ngoài ra, còn có các yếu tố khác như: việc duy trì sĩ số học sinh, hiệu quả công
tác tuyển sinh đầu cấp; tỉ lệ học sinh lên lớp, tốt nghiệp, thi đậu vào trường
THPT hằng năm, … Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường thì
giáo dục của nhà trường. Bản thân đã tham mưu cho Hiệu trưởng nhà trường áp
dụng nhiều biện pháp để tăng tỉ lệ chuyên cần của học sinh, giảm thiểu tình
trạng học sinh nghỉ học, nhất là trong những thời điểm thời tiết không thuận lợi
(mưa gió, giá rét,…) hay sau các kỳ nghỉ hè, nghỉ tết,… và đặc biệt là giảm thiểu
tình trạng học sinh bỏ học. Các biện pháp đã sử dụng đó là:
- Chú trọng công tác tư tưởng trong CBGV, NV, phụ huynh và học sinh:
Quán triệt đầy đủ quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng đến tập thể CBGV,
NV nhà trường; tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân, phụ huynh về công tác xã
hội hoá giáo dục và phổ cập giáo dục THCS; thường xuyên nhắc nhở, giáo dục
các em học sinh để các em nắm được học tập vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ,
từ đó các em xác định tư tưởng và chăm chỉ học tập để có kết quả tốt.
- Tăng cường các hoạt động Đoàn - Đội và các hoạt động tập thể: Tâm lý
học sinh nói chung và học sinh bậc THCS nói riêng là yêu thích các hoạt động
tập thể, vì vậy nhà trường luôn coi trọng các hoạt động thập thể. Ban giám hiệu
chỉ đạo tăng cường các hoạt động Đoàn - Đội, các hoạt động ngoài giờ lên lớp,
thực hiện có nền nếp, có hiệu quả thời gian sinh hoạt 15 phút đầu giờ và tiết sinh
hoạt lớp cuối tuần, đa dạng hóa các hình thức tổ chức hoạt động như: thi văn
nghệ, thể dục-thể thao, thi an toàn giao thông, thi chúng em kể chuyện Bác Hồ,
9
các trò chơi dân gian, thi nét đẹp đội viên,… để lôi kéo học sinh tham gia nhằm
giảm tỉ lệ học sinh nghỉ học và bỏ học.
- Tập trung nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ giáo viên: Để
nâng cao tinh thần trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) và giáo viên
bộ môn (GVBM), hàng năm vào đầu năm học nhà trường tổ chức bàn giao lớp
và giao các chỉ tiêu đến cuối năm học (trong đó có chỉ tiêu về duy trì sĩ số học
sinh) đến tận GVCN và các GVBM, đưa vào tiêu chí xếp loại thi đua cuối năm
học. Từ đó, trách nhiệm của GVCN, GVBM được tăng cường.
học sinh ở bậc THCS. Các em đang ở tuổi quá độ chưa ý thức đầy đủ được hành
vi, việc làm của mình, thích gì làm nấy, ham chơi, đua đòi, chưa có sự cân nhắc
trước khi hành động,... Nếu giáo dục đạo đức không tốt thì các mục tiêu giáo
dục khác sẽ bị hạn chế và ảnh hưởng. Xác định được tầm quan trọng của việc
10
giáo dục đạo đức cho các em nên các thầy, cô giáo đặc biệt là Ban giám hiệu nhà
trường luôn đặc biệt quan tâm.
Mục đích của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh là phân tích, định
hướng cho các em từ trong tư duy, suy nghĩ đến hành động, việc làm cụ thể,
giúp cho các em trở nên chăm ngoan, chấp hành tốt nội quy, quy định của nhà
trường, biết vâng lời cha mẹ, thầy cô giáo, đi học đúng giờ, chuyên cần đầy đủ;
sống có kỷ cương, nề nếp.
Các biện pháp chủ yếu đã sử dụng để giáo dục đạo đức cho học sinh đó là:
2.1. Tổ chức hợp lý, khoa học các hoạt động giáo dục đạo đức trong
nhà trường; đảm bảo cho tất cả các lực lượng giáo dục tham gia vào quá
trình giáo dục đạo đức cho học sinh.
Ngay từ đầu mỗi năm học, Ban giám hiệu cần đưa ra bàn bạc thống nhất
nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh, từ đó mọi cán bộ giáo viên và các lực
lượng giáo dục thấy được tầm quan trọng của giáo dục đạo đức, cụ thể là:
- Đối với đội ngũ giáo viên phải nghiên cứu kỹ thực tế và bàn bạc những
việc làm để tác động đến học sinh, giúp cho các em ý thức được được việc học
tập và rèn luyện đạo đức là nhiệm vụ chính của người học sinh.
- Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nội quy, nền nếp của học sinh,
giao cho đội cờ đỏ, lớp trực trong tuần kiểm tra theo dõi việc thực hiện nền nếp
của học sinh các lớp, Ban chấp hành chi đoàn và giáo viên Tổng phụ trách Đội
chịu trách nhiệm tổng hợp, nắm tình hình để nhắc nhở, uốn nắn học sinh.
- Với cha, mẹ học sinh thì trao đổi chủ yếu trong phạm vi lớp do GVCN
thể hội ý tổ GVCN để trao đổi, tìm cách xử lý, tháo gỡ hợp lý và hiệu quả nhất.
2.3. Tăng cường giáo dục đạo đức thông qua gỉảng dạy các bộ môn
Quán triệt yêu cầu: giáo viên không chỉ làm nhiệm vụ dạy học là truyền
đạt thông tin kiến thức, mà thông qua các giờ dạy phải lồng ghép được việc giáo
dục đạo đức, giáo dục truyền thống cho các em; xây dựng mục đích, yêu cầu của
bài dạy phải gắn được với việc giáo dục đạo đức, qua đó rèn luyện phẩm chất,
nhân cách, khơi dậy hứng thú học tập, khả năng tự quản, tự tổ chức tạo cho các
em tính chủ động, sáng tạo trong học tập và trong cuộc sống.
2.4. Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động tập thể
Trong nhà trường có nhiều tập thể, mỗi tập thể đều có nội quy riêng. Nội
quy chính là chuẩn mực đạo đức tập thể. Mỗi thành viên của tập thể phải hiểu
được nội quy và thực hiện nội quy.
Giáo dục tập thể là thông qua toàn bộ quá trình giáo dục, giáo dưỡng
trong và ngoài nhà trường hình thành ở thế hệ trẻ ý thức tinh thần tập thể, năng
lực, thói quen cuộc sống; lao động học tập không phải chỉ vì cá nhân mà vì
quyền lợi của tập thể, của người khác, của Tổ quốc và nhân dân.
Trong việc quán triệt về nội dung yêu cầu của giáo dục đạo đức cho học
sinh cần làm cho tập thể giáo viên trong nhà trường nhận thức được giáo dục
đạo đức cho học sinh là một quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục. Điều này
được thể hiện rõ trong hoạt động của nhà trường kể cả trong thời gian nghỉ hè.
Trong công tác chủ nhiệm lớp, cũng cần đề ra yêu cầu kiểm tra, rút kinh
nghiệm đối với các giờ sinh hoạt lớp hằng tuần để nâng cao hiệu quả giáo dục,
chỉ đạo để giáo viên chủ nhiệm làm tốt việc đánh giá xếp loại đạo đức học sinh
từng tháng, học kỳ và cả năm.
2.5. Giáo dục đạo đức thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng có tầm quan
trọng không nhỏ trong việc giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh để các em có
thể lĩnh hội các tri thức khoa học, các chuẩn mực đạo đức và hình thành các
hành vi một cách tự giác.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tạo cơ hội các em bộc lộ năng khiếu
dụng sổ liên lạc điện tử, liên lạc trực tiếp qua điện thoại hoặc gặp gỡ trực tiếp
phụ huynh học sinh để thông báo kết quả học tập và những vấn đề đạo đức của
học sinh cho gia đình biết và nhận thông tin ngược lại từ gia đình.
Chủ động phối hợp hiệu quả với các lực lượng xã hội: Nhà trường luôn
giữ vững mối quan hệ với Đảng uỷ, UBND xã và các đoàn thể địa phương để
phối hợp giáo dục đạo đức cho học sinh.
Phối hợp thường xuyên với Ban công an xã để làm tốt công tác an ninh
trật tự, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường, thường xuyên có
đội học sinh trực tuần theo dõi các hiện tượng xảy ra trong nhà trường.
3. Các giải pháp nâng cao chất lượng học sinh đại trà
Nâng cao chất lượng đại trà luôn là nhiệm vụ cơ bản và trọng tâm của nhà
trường trong mỗi năm học. Chất lượng đại trà thấp đồng nghĩa với việc không
hoàn thành nhiệm vụ năm học. Chính vì vậy mà Ban giám hiệu nhà trường hết
sức chú trọng, đầu tư nhiều công sức xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng đại
trà, tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch bằng nhiều biện pháp:
3.1. Tập trung làm tốt công tác tư tưởng trong đội ngũ CBGV, NV
Để tập thể sư phạm nhà trường đoàn kết, vui vẻ, thoải mái, cùng nhau
thực hiện tốt nhiệm vụ năm học thì Ban giám hiệu nhà trường cần làm tốt công
tác tư tưởng trong đội ngũ CBGV, NV. Chính vì vậy, vào đầu mỗi năm học nhà
trường quán triệt sâu sắc nhiệm vụ năm học, nâng cao tinh thần tự học và sáng
tạo trong chuyên môn; ý thức trách nhiệm cá nhân, tận tụy trong công tác; phân
công, công việc phù hợp với chuyên môn, năng lực của từng giáo viên; thường
xuyên động viên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để mọi người cố gắng hoàn
13
thành tốt nhiệm vụ, vươn lên đạt thành tích xuất sắc trong giảng dạy. Ở một số
trường hợp cần thiết có thể gặp gỡ, trao đổi, động viên CBGV, NV trước khi
giao nhiệm vụ mục đích là để người đó thông suốt, thoải mái về tư tưởng trước
khi nhận một nhiệm vụ khó khăn nào đó.
ra đề, coi và chấm kiểm tra chéo giữa các giáo viên để đảm bảo tính khách quan
và đánh giá chính xác năng lực của học sinh. Chú trọng công tác chấm bài, chữa
bài và trả bài đúng quy định. Quản lý điểm trên phần mềm trực tuyến, giao
GVBM cập nhật điểm hằng tuần lên hệ thống. Giáo viên trả bài phải công bố
đáp án và thang điểm để học sinh tự đối chiếu bài của mình, thông báo kết quả
kiểm tra kịp thời cho phụ huynh học sinh biết. Chỉ đạo các tổ chuyên môn xây
dựng thư viện câu hỏi và bài tập kiểm tra, đề kiểm tra của từng bộ môn để giáo
viên, học sinh tham khảo và sử dụng trong hoạt động dạy và học.
14
- Tổ chức có hiệu quả việc dạy và học các tiết thực hành, thí nghiệm ở các
môn như: Vật lý, Hoá học, Sinh học, chú trọng thực hiện các tiết trong chương
trình địa phương môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, nâng dần chất lượng dạy và học
môn Tiếng Anh bằng cách tăng cường tham gia sinh hoạt cụm chuyên môn.
- Căn cứ chỉ tiêu về chất lượng được giao hằng năm, nhà trường giao chỉ
tiêu chất lượng cho các tổ chuyên môn đồng thời chỉ đạo các tổ chuyên môn
giao chỉ tiêu về chất lượng đến từng GVBM, tạo điều kiện để giáo viên tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về chất lượng học sinh ở bộ môn mình phụ trách.
- Tập trung chỉ đạo Ban kiểm tra nội bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra
chuyên môn theo kế hoạch; kiểm tra thường xuyên và kiểm tra đột xuất về hồ
sơ, giáo án, giờ dạy và công tác ra đề, chấm chữa bài của giáo viên đặc biệt là
tăng cường dự giờ, thăm lớp và tổ chức thảo luận, đánh giá, rút kinh nghiệm giờ
dạy. Đưa kết quả kiểm tra hồ sơ, giáo án, kết quả các đợt dự giờ, xếp loại giờ
dạy vào đánh giá, xếp loại thi đua hằng tháng, học kỳ và cả năm học.
3.3. Tăng cường công tác phụ đạo nâng học lực của học sinh.
Vào đầu mỗi năm học, nhà trường căn cứ vào kết quả xếp loại học sinh
của năm học trước hoặc có thể kết hợp với khảo sát để nắm chắc học lực học
sinh từ đó phân loại học sinh theo học lực đối với từng khối lớp.
Sau mỗi đợt thi đua cần tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm và tổng kết thi
đua để biểu dương, khen thưởng kịp thời những giáo viên, học sinh có thành tích
cao trong giảng dạy và học tập, trong thực hiện phong trào; nghiêm khắc nhắc
nhở, phê bình những giáo viên, nhân viên thực hiện không hiệu quả hoặc có vi
phạm quy chế chuyên môn, những học sinh không thực hiện tốt hoặc có vi phạm
nội quy làm ảnh hưởng đến kết quả chung từ đó tạo khí thế thi đua sôi nổi và tạo
động lực cho các phong trào thi đua tiếp theo trong đơn vị.
4. Giải pháp phát triển chất lượng học sinh mũi nhọn
Trong thực tế công tác, bản thân nhận thấy việc duy trì sĩ số, nâng cao
chất lượng đại trà đã khó, việc nâng cao chất lượng mũi nhọn lại càng khó hơn.
Chất lượng mũi nhọn phản ánh năng lực chuyên môn sâu của mỗi giáo viên và
khả năng tổ chức, quản lý của Hiệu trưởng, đó là bề nổi của nhà trường, là yếu
tố then chốt tạo nên thương hiệu và vị trí của mỗi nhà trường. Để phát triển được
chất lượng mũi nhọn, tăng được số học sinh giỏi các cấp, bản thân tôi đã tham
mưu cho Hiệu trưởng nhà trường áp dụng các biện pháp như sau:
4.1. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cụ thể, tổ chức thực hiện đảm bảo
thống nhất theo trình tự các bước và liên thông giữa các năm.
Hằng năm, căn cứ vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học đã được phê
duyệt và chỉ tiêu được UBND huyện, Phòng GD&ĐT giao để bàn bạc, trao đổi,
thống nhất xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HSG, học sinh mũi nhọn và tổ chức
thực hiện một cách thống nhất theo trình tự các bước cơ bản đó là:
- Việc thành lập đội dự tuyển: Đối với các lớp 7, 8, 9 tổ chức khảo sát
theo môn kết hợp với kết quả học tập bộ môn và kết quả tham gia kỳ khảo sát
cấp huyện ở năm học trước để chọn và thành lập đội dự tuyển (lưu ý đối với
những học sinh đã đạt giải trong năm học trước ở môn nào thì tiếp tục đưa vào
danh sách đội tuyển của môn đó để các em phát huy thế mạnh của mình). Riêng
đối với lớp 6 thì kết hợp khảo sát với kết quả học tập ở bậc Tiểu học để chọn học
sinh vào đội dự tuyển và tạo nguồn ngay từ tháng 9 hằng năm đảm bảo mỗi học
sinh chỉ tham gia 1 môn để các em tập trung ôn luyện đạt kết quả cao; trường
hợp đặc biệt đối với những học sinh có khả năng tiếp thu tốt có thể xem xét cho
để có những điều chỉnh phù hợp, kịp thời trong quá trình ôn luyện, bồi dưỡng
cho học sinh; việc làm này cũng giúp các em học sinh trong đội tuyển rèn luyện
được tâm lý thi cử vững vàng, tự tin; kỹ năng làm bài, trình bày bài thi tốt hơn
góp phần để các em đạt kết quả tốt nhất trong kỳ thi cấp huyện, cấp tỉnh.
4.2. Thực hiện phối hợp đồng bộ các biện pháp hỗ trợ
Bên cạnh việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và tổ chức thực hiện theo
trình tự 4 bước cơ bản nêu trên, người quản lý cần quan tâm thực hiện phối hợp
một số biện pháp khác nhằm hỗ trợ tích cực cho công tác bồi dưỡng HSG, học
sinh mũi nhọn của nhà trường.
- Làm tốt công tác tư tưởng, động viên giáo viên và học sinh
+ Đối với giáo viên: Để giáo viên phát huy hết khả năng, năng lực của
mình trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh mũi nhọn, Ban giám hiệu
nhà trường cần quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng, động viên, khích lệ, khơi
dậy nhiệt huyết để giáo viên phát huy hết khả năng của mình, dồn toàn tâm, toàn
lực cho công tác bồi dưỡng HSG. Bằng các biện pháp cụ thể như: Động viên,
giao nhiệm vụ, các hình thức biểu dương, khen thưởng hoặc có thể bằng sự phê
bình một cách tế nhị (nêu gương, khen ngợi những giáo viên có học sinh giỏi
qua đó tác động đến giáo viên chưa có học sinh giỏi, kích thích tâm lý làm giáo
viên tức trí, quyết tâm giảng dạy, bồi dưỡng để có học sinh giỏi).
Bên cạnh đó nhà trường cũng cần tạo điều kiện về mặt thời gian cho giáo
viên bồi dưỡng học sinh giỏi, đặc biệt là bồi dưỡng học sinh giỏi dự thi cấp tỉnh;
đưa thành tích bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh mũi nhọn thành tiêu chí hàng
đầu trong bình xét thi đua, treo thưởng xứng đáng cho giáo viên có học sinh đạt
giải nhất cấp huyện và đạt giải cấp tỉnh.
+ Đối với học sinh: Giao cho giáo viên bồi dưỡng thường xuyên quan
tâm, nắm bắt điều kiện, hoàn cảnh, tâm lý, nguyện vọng của các em trong quá
trình ôn tập, bồi dưỡng; Ban giám hiệu nhà trường có kế hoạch và bố trí ít nhất 3
17
này cần thực hiện ngay sau khi Sở GD&ĐT công bố môn thi thứ 3 vào lớp 10.
Thực hiện phân công giáo viên, xếp thời khóa biểu và tổ chức ôn tập cho
học sinh đối với 3 môn Toán, Ngữ văn và môn thứ 3 vào các buổi chiều trong
tuần với thời lượng 2 buổi/môn/tuần để hệ thống lại những kiến thức cơ bản mà
các em đã học trong chương trình lớp 9, qua đó giúp các em có kết quả tốt hơn
trong kỳ thi vào lớp 10 bậc THPT.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRONG VIỆC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CỦA NHÀ TRƯỜNG
Sau 2 năm nghiên cứu, tìm tòi và vận dụng các biện pháp như đã trình bày
ở trên vào công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động chuyên môn, bản thân tôi nhận
thấy các giải pháp, biện pháp trên đều có mối quan hệ thống nhất mật thiết với
nhau, tác động lẫn nhau và hỗ trợ cho nhau. Vì vậy chúng ta không nên sử dụng
các biện pháp một cách riêng lẻ, độc lập mà cần phối hợp sử dụng đồng thời các
18
biện pháp một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị và tùy
theo từng giai đoạn cụ thể để vận dụng thì sẽ đạt được hiệu quả cao hơn, từ đó
mới nâng cao được chất lượng công tác giáo dục của nhà trường.
Nhờ áp dụng các giải pháp hợp lý, phù hợp với đặc điểm, tình hình của
nhà trường nên chất lượng giáo dục của trường trong 2 năm gần đây được nâng
lên rõ rệt cả về việc đảm bảo duy trì sĩ số, cả về chất lượng đại trà, chất lượng
mũi nhọn, tỉ lệ học sinh lên lớp, tốt nghiệp và thi vào lớp 10 bậc THPT. Sau đây
là bảng thống kê các kết quả về chất lượng giáo dục của trường THCS Minh
Tiến trong 2 năm học có áp dụng các giải pháp đổi mới quản lý chuyên môn.
Bảng thống kê các kết quả về chất lượng giáo dục
trong 02 năm học 2017-2018 và 2018-2019
Bảng 1. Công tác phát triển số lượng và duy trì sĩ số
Tổng số
Tổng số
Năm học
học
Tốt
Khá
TB
Yếu
sinh
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
2017-2018 257
242 94,2
15
5,8
0
0
0
0
2018-2019 267
253 94,8
14
5,2
0
0
0
HS mũi
Thi
TDTT
KTLM
Năm học văn hóa lớp 9
nhọn 6,7,8 NC KHKT
Huyện Tỉnh Huyện Tỉnh Huyện Tỉnh
2017-2018
7
0
10
0
5
4
24
1
2018-2019
5
2
0
0
0
0
4
Ghi chú: Năm học 2018-2019 huyện và tỉnh không tổ chức các cuộc thi:
cuộc thi HS giỏi TDTT và cuộc thi vận dụng KTLM đồng thời đến thời điểm
15/4/2019 chưa có kết quả kỳ khảo sát chất lượng HS mũi nhọn lớp 6,7,8.
19
xin được cập nhật sau khi năm học 2018-2019 kết thúc
Phần III
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Việc chăm sóc, bồi dưỡng, giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con
người là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước, của toàn dân nhưng trọng
trách chính được đặt lên vai ngành giáo dục, trong đó đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục là nòng cốt. Vì vậy, bất cứ ai công tác trong ngành giáo dục, đặc biệt là
cán bộ quản lý giáo dục thì phải luôn tư duy, tìm cách để nâng cao chất lượng
giáo dục mà cụ thể là nâng cao chất lượng của trường mình đang công tác.
Nâng cao chất lượng giáo dục là một quá trình, cần phối hợp nhiều biện
pháp để tác động đến nhiều yếu tố, vì vậy người quản lý giáo dục ở mỗi nhà
trường rất cần có tư duy bao quát, cái nhìn tổng thể, đánh giá đúng thực trạng
chất lượng giáo dục của đơn vị để quyết định yếu tố nào cần tác động trước, yếu
tố nào tác động sau và tác động bằng những biện pháp nào cho phù hợp thì mới
đem lại kết quả như mong muốn; cần phải kết hợp hài hoà giữa giáo dục tri thức
và giáo dục đạo đức để tạo ra những con người có ích cho xã hội sau này.
Thông qua việc tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng các biện pháp quản lý, chỉ
đạo hoạt động chuyên môn ở trường THCS Minh Tiến trong 2 năm qua, tôi nhận
thấy để nâng cao được chất lượng giáo dục của một nhà trường thì chúng ta
(nhất là người quản lý) không thể nóng vội muốn đạt mục đích trong thời gian
ngắn mà cần hết sức kiên trì thực hiện lâu dài. Để làm được điều đó, người quản
lý giáo dục trước hết phải tận tâm, tận lực, hết lòng vì học sinh, coi trường là
nhà, ân cần, tận tụy với học sinh, luôn luôn trăn trở, tư duy để tìm ra các biện
pháp có hiệu quả; phát huy tối đa những mặt mạnh của trường; đánh giá sát,
đúng những mặt yếu để có kế hoạch khắc phục, ngoài ra cần năng động, nhạy
bén, linh hoạt để tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng bên ngoài, của xã hội.
Qua quá trình nghiên cứu, vận dụng các giải pháp trong thực tiễn công tác
của bản thân, tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm trong quản lý, chỉ đạo hoạt động
chuyên môn để nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường đó là:
luyện, học tập theo sự hướng dẫn của các thầy cô giáo; tham gia nhiệt tình các
hoạt động tập thể để phát triển toàn diện.
2.2. Đối với cán bộ, giáo viên
Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, sáng tạo và hiệu quả các nhiệm vụ của cá
nhân được phân công. Tích cực, chủ động phối hợp với đồng nghiệp trong thực
hiện nhiệm vụ theo sự chỉ đạo của tổ chuyên môn, của đoàn thể và nhà trường.
2.3. Đối với các tổ chuyên môn, các tổ chức đoàn thể
Các tổ chuyên môn thực hiện tốt nhiệm vụ điều hành chuyên môn của tổ,
bám sát nội dung kế hoạch, nhiệm vụ năm học và theo sự chỉ đạo của nhà
trường; các tổ chức, đoàn thể nâng cao tinh thần, trách nhiệm, tích cực phối hợp
với nhà trường để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra về chất lượng giáo dục.
2.4. Đối với nhà trường
Tập trung chỉ đạo các tổ chuyên môn, chỉ đạo CBGV, nhân viên và học
sinh thực hiện tốt nhiệm vụ của từng bộ phận, từng cá nhân. Chú trọng phối hợp
với các tổ chức, đoàn thể trong thực hiện nhiệm vụ nhằm đạt các chỉ tiêu đề ra.
Thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của các bộ
phận, cá nhân để nắm bắt tình hình và có những điều chỉnh kịp thời, phù hợp và
đạt hiệu quả cao trong công tác.
Quan tâm, làm tốt công tác thi đua khen thưởng để động viên, khích lệ kịp
thời những CBGV và học sinh có thành tích cao trong giảng dạy và học tập, có
21
nhiều đóng góp trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, qua đó tạo phong trào
mạnh mẽ, tạo động lực phấn đấu cho toàn thể CBGV, NV trong đơn vị.
Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục để huy động mọi nguồn
lực vào hoạt động giáo dục của nhà trường; thực hiện đồng bộ, phối hợp hài hòa,
hợp lý các biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục.
2.5. Đối với gia đình học sinh
Cần quan tâm, theo dõi sát sao việc học tập và rèn luyện của con em mình
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết
22
Nguyễn Đức Quang
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TT
1
2
3
4
5
Tên tài liệu
Những vấn đề chung của giáo dục
học
Giáo dục học đại cương, tập 1
Đại cương khoa học quản lý và
quản lý giáo dục
Những vấn đề cơ bản của khoa
học quản lý giáo dục
Quản lý và lãnh đạo nhà trường
hiệu quả
Tác giả
Phan Thanh Long
xếp loại
xếp loại
xếp loại
Một số kinh nghiệm trong
công tác dự giờ, kiểm tra
Ngành GD cấp
1
C
2008-2009
đánh giá giờ lên lớp ở trường
tỉnh
THCS Minh Tiến-Ngọc Lặc
2 Một số kinh nghiệm nâng cao Ngành GD cấp
B
2012-2013
chất lượng công tác kiểm tra
huyện
23
3
nội bộ ở trường THCS Minh
Tiến-Ngọc Lặc
Một số kinh nghiệm chỉ đạo
nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục đạo đức cho học
sinh ở trường THCS Minh
Tiến-Ngọc Lặc