VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN VĂN THÀNH
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN VĂN THÀNH
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC&DVLS
Mã số
: 922 9002
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Chương 2 CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI
VỚI PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - MỘT SỐ
28
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN .......................................................
2.1.
Quan niệm và đặc điểm của chính sách xã hội........................
28
2.2.
Quan niệm về giáo dục và đào tạo và chính sách xã hội về
giáo dục và đào tạo................................................................... 37
2.3.
Nội dung và vai trò của chính sách xã hội đối với phát triển
giáo dục và đào tạo............................
42
2.4
Những nhân tố tác động đến phát huy vai trò của chính sách
xã hội đối với phát triển giáo dục và đào tạo..........................
54
Chương 3 CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
65
- THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN..........................
3.1.
Đặc điểm và những yêu cầu trong phát triển giáo dục và đào tạo
Thành phố Hồ Chí Minh ...............................
65
3.2.
Chính sách xã hội đối với phát triển giáo dục và đào tạo ở
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - Thực trạng và nguyên
Bảng 3.2.
Tổng hợp số lượng học sinh/trường và số lượng học sinh,
sinh viên/giáo viên, giảng viên ở các nhà trường ở TPHCM
và cả nước...............................................................................
Bảng 3.3.
Tổng hợp kết quả khảo sát về thực trạng các mối quan hệ cơ
bản của GD&ĐT ở TPHCM hiện nay của CBQL, chuyên
viên.......................................................................
Bảng 3.4.
Kết quả khảo sát về các nội dung phát huy vai trò, hiệu quả của
CSXH trong định hướng phát triển GD&ĐT...........................
Bảng 3.5.
Kết quả khảo sát về các nội dung phát huy vai trò của CSXH
trong tạo động lực phát triển GD&ĐT..................................
Biểu đồ 3.1. Cụ thể hóa kết quả khảo sát về thực trạng các mối quan hệ
cơ bản của GD&ĐT ở TPHCM hiện nay của CBQL,
chuyên viên......................................................................
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
05
Giáo dục thường xuyên
GDTX
06
Giáo dục tiểu học
GDTH
07
Giáo dục và Đào tạo
GD&ĐT
08
Nguồn nhân lực
NNL
09
Nhà xuất bản
Nxb
của Đảng và Nhà nước nhằm tạo ra động lực để phát huy tính năng động, sáng
tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy,
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định: “Chính
sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và
sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân
tộc… Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự
thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội” [28, tr.86]. Đồng thời
coi “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã
hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế” [28,
tr.86]. Từ quan điểm trên của Đảng cho thấy CSXH có vị trí, vai trò đặc biệt
quan trọng trong toàn bộ hoạt động tổ chức, điều hành, quản lý xã hội và trong
giải quyết các vấn đề thực tiễn mà xã hội đặt ra. Nó không chỉ trực tiếp góp phần
tạo nên sự ổn định, phát triển lành mạnh các mối quan hệ xã hội mà còn thúc đẩy
sự phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế một cách bền vững, ổn định, lâu dài.
Đối với GD&ĐT, đây là lĩnh vực giữ vị trí, vai trò rất quan trọng của xã
hội; trực tiếp đào tạo, cung cấp NNL phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc; là nhiệm vụ cơ bản không thể tách rời của cách mạng Việt Nam.
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, trước xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế; trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ... đã kéo theo
hàm lượng trí tuệ khoa học kết tinh trong sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng;
tài năng trí tuệ, năng lực và bản lĩnh trong lao động sáng tạo của con người
không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên, tự phát, mà phải trải qua quá trình
đào luyện công phu, có hệ thống. Điều này làm cho giáo dục được nhìn nhận
không phải là yếu tố phi sản xuất mà là yếu tố bên trong cấu thành của nền sản
2
xuất xã hội. Do đó, phát triển GD&ĐT là vấn đề mang tính tất yếu khách quan;
là con đường quan trọng hàng đầu để đất nước phát triển.
Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, Đảng ta luôn xác định GD&ĐT là quốc sách
tâm đến việc ban hành các CSXH nằm đảm bảo cho GD&ĐT phát triển; các
chính sách đó từng bước phát huy vai trò, hiệu quả trong thực tiễn và góp phần
quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục trên địa bàn. Tuy nhiên, bên cạnh
đó có thể thấy, việc ban hành các CSXH và vai trò của các chính sách đó trong
thực tiễn phát triển GD&ĐT ở TPHCM thời gian qua vẫn còn tồn tại nhiều hạn
chế, bất cập, cụ thể như: “Hệ thống pháp luật và chính sách về giáo dục thiếu
đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung” [90], còn chồng chéo và chưa phù hợp
với yêu cầu của thực tiễn. “Chính sách huy động và phân bổ nguồn lực tài chính
cho giáo dục chưa hợp lý; hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa cao” [90]. Bên cạnh
đó, một số chính sách về phổ cập giáo dục, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ
nhà giáo, chính sách miễn giảm học phí… khi ban hành chưa phát huy hết hiệu
quả trong thực tiễn; chưa đáp ứng được nhu cầu về lợi ích của các thành phần
tham gia hệ thống giáo dục... Đây vừa là thực trạng, nhưng đồng thời cũng là
nguyên nhân cơ bản làm cho chất lượng GD&ĐT trên địa bàn “còn thấp so với
yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới và so với trình độ của các
nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực, trên thế giới” [90].
Từ những vấn đề trên cho thấy, ở nước ta nói chung, TPHCM nói
riêng, để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội thì yêu cầu quan trọng hàng
đầu cần phải phát triển GD&ĐT; đồng thời, muốn phát triển GD&ĐT cần đặc
biệt quan tâm, chú trọng hoàn thiện hệ thống các CSXH về GD&ĐT và thực
hiện đúng đắn các CSXH về GD&ĐT. Để làm được điều này, chúng ta cần
nhận thức đúng thực trạng, nhất là những hạn chế, bất cập trong các CSXH
về GD&ĐT và thực hiện các CSXH về GD&ĐT; từ đó đề xuất các giải pháp
khắc phục phù hợp. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn “Chính
sách xã hội và vai trò của nó đối với phát triển giáo dục và đào tạo ở Thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm luận án tiến sĩ của mình.
4
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
5
quận Bình Thạnh, huyện Hóc Môn, huyện Nhà Bè); khảo sát kết quả thực
hiện CSXH ở một số trường học (các trường mầm non, tiểu học, THCS,
THPT ở 5 quận gồm quận 1, quận 2, quận 3, quận 4, quận 5; các cao đẳng và
đại học nằm trên địa bàn TPHCM bao gồm 6 trường là: Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên; Trường Đại học Bách khoa; Trường Đại học Công nghệ
Thông tin; Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương VI, Trường Cao
đẳng Kinh tế - Công nghệ TPHCM; Trường Cao đẳng Miền Nam).
Phạm vi về thời gian: các số liệu nghiên cứu sinh sử dụng cho quá trình
nghiên cứu luận án được khảo sát, điều tra, tổng hợp từ năm 2013 đến 2018
nhằm đảm bảo tính thực tiễn, thời sự của đề tài.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài luận án là các quan điểm chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà
nước về CSXH và GD&ĐT.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài luận án, tác giả sử dụng các phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra luận án còn
vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và tổng hợp; khái
quát, hệ thống hoá; quy nạp và diễn dịch; logic và lịch sử; tham khảo ý kiến
chuyên gia và phương pháp nghiên cứu tài liệu...
Tác giả tiến hành sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu
điều tra với các đối tượng: Đối tượng là CBQL, chuyên viên cấp Sở GD&ĐT,
Phòng GD&ĐT (250 phiếu/250 người); CBQL, giáo viên, giảng viên ở các
trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT, cao đẳng và đại học trực thuộc
TPHCM (1000 phiếu/1000 người).
5. Đóng góp mới của luận án
Luận án góp phần bổ sung, làm rõ một số vấn đề lý luận về CSXH và
vai trò của CSXH đối với phát triển GD&ĐT. Luận án góp phần làm rõ hơn
luận án
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về chính sách xã hội
Có thể khẳng định, CSXH được hình thành từ lâu đời và phát triển tại
nhiều quốc gia trên thế giới. Nó có vị trí quan trọng trong hệ thống tri thức
các khoa học nói chung, cũng như trong hoạt động thực tiễn của con người.
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu hoạt động của con người cũng càng
đa dạng, phong phú; đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp.
Cho nên việc nghiên cứu CSXH càng trở nên bức bách, mục tiêu gần của nó
là giảm bớt những vấn đề phức tạp, hướng tới sự công bằng xã hội trong
chừng mực nhất định, mục tiêu xa hơn là tiến tới thoả mãn nhu cầu ngày càng
tăng, cho sự phát triển toàn diện của cá nhân con người trong xã hội. Xuất
phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu xung quanh đến CSXH đã được
nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ lâu, tiếp cận đa chiều,
trên nhiều khía cạnh khác nhau, tiêu biểu là các công trình: “Chính sách xã hội
trong xã hội chủ nghĩa phát triển” [128] của tác giả V.Z RôGôVin; “Chính sách
xã hội và quá trình toàn cầu hóa” [72] của tác giả Palier Bruno; “Vai trò của
chính sách xã hội đối với việc phát huy nhân tố con người ở Lào hiện nay” [130]
của tác giả Xi Tha Lườn Khăm Phu Vông...
Ở nước ta, thuật ngữ CSXH xuất hiện trong đời sống khoa học xã hội
và khoa học quản lý ở nước ta chưa lâu, vào khoảng thời gian chuyển tiếp của
thập niên 70 sang thập niên 80. Đồng thời, nó bắt đầu sử dụng chính thức
trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986. Theo thời gian,
những vấn đề liên quan đến CSXH đã được nhiều nhà khoa học ở nước ta
nghiên cứu từng bước đảm bảo có tính hệ thống, khoa học chuyên sâu.
8
Năm 1980, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội đã xuất bản cuốn “Đại Việt sử
ký toàn thư” [22]. Mặc dù cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau, trong
đó bước đầu có đề cập đến CSXH thông qua việc khái quát sự hình thành và
Nghiên cứu CSXH dưới góc độ tiếp cận khác, trong cuốn sách “Một số
vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay [16], tác giả Mai Ngọc
Cường đã giới thiệu một cách khái quát lý luận CSXH ở nước ta trên các vấn đề
về đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc, quá trình thực hiện CSXH, hệ thống các
CSXH phổ biến ở các nước và những nội dung có khả năng ứng dụng ở Việt
Nam. Đồng thời, các tác giả đã đề cập đến thực trạng, thành tựu, hạn chế của
CSXH ở Việt Nam dưới nhiều lĩnh vực như: chính sách giảm nghèo; chính sách
việc làm... Trên cơ sở đó, các tác giả đưa ra những giải pháp và một số khuyến
nghị về xây dựng hệ thống CSXH ở Việt Nam trong những năm tới [16].
Tiếp cận nghiên cứu CSXH dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng, tác
giả Phạm Đức Kiên có công trình luận án tiến sĩ “Đảng lãnh đạo kết hợp phát
triển kinh tế với thực hiện chính sách xã hội từ năm 1991 đến năm 2006” [49].
Trong công trình này, tác giả đã đi vào nghiên cứu nhận thức và vai trò lãnh đạo
của Đảng ta trong việc đề ra và chỉ đạo CSXH trong giai đoạn từ năm 1991 đến
năm 2006, nhất là mối quan hệ tác động giữa thực hiện chính sách kinh tế và
CSXH; chỉ ra những kết quả đạt được và hạn chế trên một số lĩnh vực cụ thể của
CSXH. Từ đó, tác giả đã khái quát 4 bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh
đạo của Đảng kết hợp phát triển kinh tế và thực hiện CSXH.
Đề cập CSXH theo hướng nghiên cứu phát triển bền vững, năm 2015, tác
giả Phan Huy Đường chủ biên cuốn sách “Chính sách xã hội: Các vấn đề và sự
lựa chọn theo hướng phát triển bền vững” [30]. Nội dung cuốn sách nhấn mạnh:
Việc lựa chọn vấn đề CSXH và phương thức giải quyết thường căn cứ vào hệ
thống các quan điểm và nguyên tắc mang tính truyền thống như quan điểm
nhân văn, quan điểm giai cấp, quan điểm lịch sử cụ thể… Tuy nhiên, việc lựa
chọn các vấn đề chính sách dựa trên các quan điểm và nguyên tắc là khá phức
tạp, nhiều khi chỉ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các nhà lãnh đạo, do đó
10
trong một số trường hợp kết quả đạt được không như mong muốn. Do đó,
Việt Nam hiện nay, cụ thể là: 1) nhóm giải pháp về nhận thức; 2) nhóm giải
pháp về tổ chức thực hiện; 3) nhóm giải pháp về kiểm tra, giám sát; tổng kết
lý luận và thực tiễn việc thực hiện CSXH [52].
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, hiện nay ở nước ta còn có rất
nhiều các công trình nghiên cứu khác đề cập xung quanh đến vấn đề CSXH. Những
công trình này là những cuốn sách, các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các luận
án tiến sĩ, các bài báo khoa học được đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên
ngành, các bài hội thảo khoa học… Tiêu biểu như:
Cuốn sách “Một số vấn đề chính sách xã hội ở nước ta hiện nay” [5] của
tác giả Hoàng Chí Bảo; “Chính sách an sinh xã hội - Thực trạng và giải pháp”
[56] của tác giả Lê Quốc Lý; Luận án tiến sĩ Triết học “Chính sách an sinh xã
hội và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở
Việt Nam” [trích theo 51] của tác giả Nguyễn Văn Chiều; Luận án tiến sĩ Khoa
học Quân sự “Vai trò chính sách xã hội với quân đội và hậu phương quân đội
trong nâng cao tính tích cực của con người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc
hiện nay” [41] của tác giả Đoàn Duy Hoàng; Bài viết “Quan điểm chủ nghĩa
Mác - Lê nin về chính sách xã hội và phúc lợi xã hội” [66] của tác giả Phạm
Xuân Nam; “Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người với tư
cách là đối tượng phục vụ của chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới” [74] của
tác giả Trần Văn Phòng và Nguyễn Thị Hoàng; “Chính sách xã hội trong triết lý
phát triển Hồ Chí Minh” [51] của tác giả Nguyễn Công Lập...
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về chính sách xã hội đối với phát
triển giáo dục và đào tạo
Có thể khẳng định, việc nghiên cứu về CSXH đối với phát triển
GD&ĐT luôn được Đảng, Nhà nước ta, cũng như các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu, tiếp cận trên nhiều bình diện khác nhau. Ngay sau khi đất nước
bước vào công cuộc đổi mới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài viết “Đổi
mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà” [67] đã đưa ra
13
mới. Muốn vậy, nền giáo dục cần phải thay đổi toàn diện, cụ thể, phù hợp với
từng lĩnh vực, từng ngành nghề và từng địa phương. Theo đó, tác giả chỉ rõ:
“Phương hướng tổng quát tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo là
phải đẩy mạnh cơ chế quản lý và các chính sách xã hội đảm bảo cho giáo dục
phục vụ đắc lực (đáp ứng yêu cầu) sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương,
từng tỉnh, từng vùng và trong cả nước...” [35, tr.182].
Trong công trình “Nền kinh tế tri thức, xu thế mới của thế kỷ XXI” [103],
tác giả Ngô Qúy Tùng cho rằng: Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam cần phải
xem xét và tìm ra các giải pháp thực hiện vai trò của GD&ĐT. Theo đó, tác giả
nhấn mạnh việc thực hiện tốt CSXH là một trong những giải pháp quan trọng.
Tác giả khẳng định: “Nhà nước cần có chính sách tăng đầu tư cho giáo dục bằng
cách tạo ra môi trường pháp lý để thu hút vốn từ các nhà đầu từ nước ngoài, từ
các thành phần kinh tế trong nước”; “người học và các tổ chức sử dụng lao động
qua đào tạo cần phải đóng kinh phí đào tạo” [103, tr.203]; “tạo ra cơ chế thị
trường cạnh tranh trong giáo dục” để nâng cao chất lượng trong hệ thống các
trường; coi trọng vấn đề công bằng trước các cơ hội được GD&ĐT của người
dân, “Nhà nước có chính sách hỗ trợ học sinh nghèo học giỏi” [103, tr.204].
Xác định coi CSXH đối với đội ngũ nhà giáo là một trong những vấn đề
quan trọng để phát triển GD&ĐT, tác giả Nguyễn Thị Bình trong bài viết “Một
số vấn đề cốt lõi trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam” in
trong cuốn sách “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam”
[4], cho rằng: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo là tất yếu và cần
tập trung vào những vấn đề cốt lõi như: “Về sứ mạng và mục tiêu GD&ĐT;
cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân chứ không thể chỉ chỉnh sửa một vài bộ
phận, hoặc một vài mặt nào đó; đổi mới về nội dung và phương pháp, chính
sách nhà giáo để xây dựng được đội ngũ có chất lượng” [4, tr.12].
Cũng đề cập vấn đề này, tác giả Hoàng Tụy trong công trình “Cải cách
giáo dục toàn diện, mạnh mẽ và triệt để là yêu cầu của cuộc sống hiện đại”, in
thực trạng nền giáo dục Việt Nam và so sánh giáo dục Việt Nam trước và sau
15
đổi mới trên tất cả các khía cạnh khác nhau. Từ những vấn đề trên, tác giả đã
kết luận: “Trong suốt hơn 20 năm (1986 - 2008), giáo dục Việt Nam tiếp tục
phát triển và đổi mới. Trong quá trình đổi mới, Việt Nam đã tạo nên một giai
đoạn quan trọng trong việc phát triển hệ thống giáo dục, tạo ra cơ hội phát
triển giáo dục để phát triển con người. Các chính sách quốc gia về phát triển
giáo dục và phát triển nguồn nhân lực đã góp phần phát triển hệ thống giáo
dục, gia tăng về số lượng cũng như chất lượng, đảm bảo công bằng trong cơ
hội tiếp cận giáo dục, làm cho trẻ em các vùng dân tộc thiểu số, vùng khó
khăn về kinh tế - xã hội có điều kiện đến trường. Điều này góp phần vào quá
trình đưa giáo dục Việt Nam từng bước phát triển, đuổi kịp xu hướng phát
triển chung của quốc tế [31].
Cũng tiếp cận theo hướng nghiên cứu này, trong bài viết “Bàn thêm về mối
quan hệ giữa chiến lược phát triển kinh tế xã hội và chiến lược phát triển
giáo dục trong quá trình thực hiện chiến lược” [trích theo 52] tác giả Nguyễn
Văn Thành đi sâu vào phân tích tính nhất quán về nội dung giữa hai chiến
lược kinh tế xã hội với chiến lược giáo dục. Theo tác giả “Chính sách kinh tế
xã hội đi liền với chính sách giáo dục nhằm tạo ra sự phát triển đồng bộ giữa
các chính sách”. Trong đó, coi phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế
xã hội là yếu tố hàng đầu của giáo dục; là một trong bốn khâu quan trọng để
đột phát, thực hiện chiến lược. Đồng thời, chiến lược phát triển kinh tế cũng
là tiền đề để cho chiến lược giáo dục căn cứ, bám sát với những nhu cầu và
khả năng của kinh tế. Các chính sách phát triển kinh tế xã hội có ảnh hưởng
quan trọng đến sự phát triển giáo dục theo hướng nào; là tiền đề và là cơ sở để
đánh giá sự phát triển của giáo dục và đào tạo [trích theo 52].
Nghiên cứu chuyên sâu về chính sách GD&ĐT, tác giả Phạm Tất Thắng có
bài viết về “Hoàn thiện chính sách giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân
mới đào tạo và nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục đại học thích ứng với
Cách mạng công nghiệp 4.0. Để giải quyết được những vấn đề này, tác giả đã
gợi ý 3 giải pháp và một số gợi ý về chính sách ở nước ta, cụ thể:
17
Một là, cần tiếp tục gia cố những yếu tố nền móng, đổi mới tư duy về
phát triển giáo dục trong tổng thể chiến lược phát triển của quốc gia.
Hai là, nâng cao vai trò của Nhà nước trong mối quan hệ tương tác với
thị trường, tạo động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao... Nhà nước
cần có chính sách hỗ trợ hình thành và phát triển các vườn ươm khởi nghiệp
đổi mới sáng tạo trong các trường đại học đào tạo về công nghệ, trước mắt ưu
tiên đối với các lĩnh vực nước ta có thế mạnh, như công nghệ thông tin, công
nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học.
Ba là, các cơ sở giáo dục đại học cần tăng cường liên kết với các doanh
nghiệp, các trường đại học quốc tế để xây dựng các phòng thí nghiệm theo
hình thức hợp tác công - tư” [13].
Nghiên cứu CSXH dựa trên cơ sở các tiếp cận bao trùm và bền vững, năm
2017, tác giả Lê Ngọc Hùng có công trình nghiên cứu bàn về “Chính sách giáo
dục ở Việt Nam nhìn từ cách tiếp cận phát triển bao trùm và bền vững” [45].
Trong nghiên cứu này, tác giả khái quát về lý thuyết phát triển bao trùm, bền
vững: các giai đoạn, mô hình và chiều cạnh; chỉ ra tình hình giáo dục qua tỷ lệ
đi học đúng tuổi của Việt Nam; Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhân lực
Việt Nam... Từ đó, tác giả đã đặt ra hai vấn đề và thảo luận về chính sách, cụ
thể: “tại sao giáo dục của Việt Nam đạt thành tích cao không thua kém các
nước phát triển nhưng Việt Nam vẫn nghèo? Tại sao Việt Nam đã chi tiêu rất
nhiều cho giáo dục, vậy có cần phải đầu tư nhiều hơn nữa cho giáo dục?” Từ
những vấn đề đặt ra trên, tác giả đã giải quyết lần lượt từng vấn đề cụ thể và
đưa ra nhận định mang tính khái quát: “Sự phát triển bao trùm và bền vững, thể
hiện ở xu thế chuyển đổi các mô hình phát triển từ chiều rộng sang hiệu quả
[40] của tác giả Đặng Xuân Hoan; “Một số ý kiến về đổi mới chính sách giáo
dục và đào tạo đội ngũ trí thức” [17] của tác giả Lê Văn Cường; “Đổi mới
giáo dục ở Việt Nam nhằm tạo công bằng xã hội và phát triển bền vững”
[44] của tác giả Lê Ngọc Hùng; “Về công tác xã hội hóa giáo dục ở nước ta
những năm qua và các giải pháp đồng bộ cần thực hiện thời gian tới” [38]
của tác giả Nguyễn Vinh Hiển... Những công trình này, mặc dù nghiên cứu,
tiếp cận dưới góc độ khác nhau, tuy nhiên, nhìn chung đều khẳng định được vị
19
trí, vai trò của CSXH đối với phát triển GD&ĐT; coi đó là yếu tố góp phần
quan trọng vào phát triển nền giáo dục nước ta hiện nay. Một số công trình đã
đi vào khái quát và chỉ rõ được những yêu cầu, giải pháp trong đổi mới CSXH
nhằm phát triển GD&ĐT theo từng góc độ, phạm vi nghiên cứu nhất định.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về chính sách xã hội và vai trò
của chính sách xã hội đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo ở Thành
phố Hồ Chí Minh
Có thể khẳng định, trong những năm gần đây, trước xu hướng phát triển
mạnh mẽ, toàn diện mọi mặt về đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội... đã làm cho
nhu cầu nguồn nhân lực ở TPHCM không ngừng tăng nhanh về số lượng, đòi hỏi
cao về chất lượng. Điều này cũng đặt ra những yêu cầu mới trong phát triển
GD&ĐT ở Thành phố. Để giải quyết được vấn đề này, việc nghiên cứu về CSXH
và vai trò của CSXH đối với phát triển GD&ĐT ở TPHCM đã được nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu, đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Nghiên cứu trực tiếp đến CSXH và vai trò của CSXH đối với phát triển
GD&ĐT ở TPHCM dựa trên cơ sở phát triển nguồn nhân lực, năm 2014, tác
giả Võ Thị Kim Loan có công trình luận án tiến sĩ về “Phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Thành phố Hồ
Chí Minh” [55]. Trong công trình này, khi đề cập đến CSXH đối với phát
triển GD&ĐT ở TPHCM tác giả khẳng định: “Để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục