BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MAI LAN
DỊCH TỄ HỌC UNG THƯ VÚ
TIỂU LUẬN TỔNG QUAN
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MAI LAN
DỊCH TỄ HỌC UNG THƯ VÚ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Diệu
Thuộc đề tài: "Nghiên cứu tỷ lệ mắc mới ung thư vú ở phụ nữ
Hà Nội giai đoạn 2014-2016"
Chuyên ngành : Ung thư học
Mã số
: 62720149
TIỂU LUẬN TỔNG QUAN
3.1.7. Chụp nhũ ảnh............................................................................41
3.3. Một số chương trình sàng lọc UTV hiện nay tại VN và trên TG.....41
3.3.1. Tại một số nước châu Á............................................................41
3.3.2. Sàng lọc phát hiện sớm bệnh ung thư tại các quốc gia châu Âu....44
3.3.3. Úc .............................................................................................46
3.3.4. Tại Hoa Kỳ ...............................................................................46
3.3.5. Tại Việt Nam.............................................................................47
KẾT LUẬN....................................................................................................................................49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Dân số theo nhóm tuổi của Dân số chuẩn thế giới............................7
Bảng 2. Ước tính tỷ lệ mắc và tử vong ung thư vú tại Việt Nam và các quốc
gia khác, 2012.................................................................................15
DANH MỤC HÌNH
Hình 1:
Tình hình mắc và tử vong do ung thư vú trên thế giới......................8
Hình 2.
Ước tính tỷ lệ mắc ung thư vú theo vùng trên thế giới.....................8
Hình 3.
1990 ước tính khoảng 59% số ca mắc ung thư vú tại các nước phát triển (Bắc
Mỹ, châu Âu, Úc, New Zealand và Nhật Bản), mặc dù dân số những vùng này
chỉ chiếm ít hơn ¼ tổng dân số thế giới trong thời gian này [1]. Tình hình này
đã thay đổi đáng kể trong vòng 2 thập kỷ vừa qua, tổng số ca mới mắc được
chia đều ở các quốc gia phát triển và kém phát triển trong năm 2008 [2], [3] và
đến năm 2012 ước tính đa số các ca mới mắc ung thư vú ở nữ giới (53%) được
ghi nhận ở các nước kém phát triển [4]. Mặc dù tỷ lệ mắc ung thư vú ở các
nước phát triển vẫn cao hơn nhưng điều này cho thấy sự thay đổi trong phân bố
bệnh ung thư vú trên thế giới cũng như ung thư vú đang tiếp tục nổi lên như là
một vấn đề sức khỏe ở các quốc gia châu Á, châu Phi, Nam Mỹ nói riêng và
trên toàn thế giới nói chung. Việc so sánh tỷ lệ mới mắc giữa các khu vực và
thời gian giữa các quốc gia có thể cung cấp những thông tin quan trọng về
những nguyên nhân cơ bản và tác động của các can thiệp tự nhiên và có kế
hoạch và đây cũng là những chỉ số trong thực hiện các chiến lược dự phòng.
Vì vậy, để có thêm các bằng chứng khoa học, cơ sở lý luận cho luận án
“Nghiên cứu tỷ lệ mắc mới ung thư vú ở phụ nữ Hà Nội giai đoạn 20142016”, chúng tôi thực hiện chuyên đề này với 2 mục tiêu:
1. Tổng quan về tỷ lệ mới mắc & tử vong do thư vú tại Việt Nam & trên
thế giới.
2. Đánh giá một số biện pháp giảm tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong do UTV.
2
I. Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do ung thư vú
1.1. Một số khái niệm
Tỷ lệ hiện mắc
Hiện mắc đề cập đến tổng số các trường hợp bệnh trong quần thể xác
định vào một thời điểm hay một khoảng thời gian xác định. Đo lường hiện
mắc thường là một tỷ lệ (tỷ lệ hiện mắc), trong đó tử số là những cá thể có
bệnh và mẫu số là tổng số cá thể của quần thể tại thời điểm nghiên cứu. Công
thức tính tỷ lệ hiện mắc:
đường hay thấp tim.
Tỷ lệ hiện mắc điểm
Thời điểm để tính tình trạng hiện mắc có thể là một khoảng thời gian
ngắn (có thể là một ngày) hoặc có thể là thời điểm không đề cập đến lịch thời
gian mà là một sự kiện cụ thể. Đối với trường hợp như vậy, người ta sử dụng
tỷ lệ hiện mắc điểm.
Số trường hợp có một bệnh nào đó
tại một thời điểm
Tổng quần thể
Tỷ lệ này cho chúng ta ước lượng về xác suất (hay nguy cơ) mà một cá
Pđiểm =
thể có thể có bệnh hoặc tình trạng sức khỏe quan tâm tại một thời điểm.
Tỷ lệ hiện mắc kỳ
Một loại đo lường hiện mắc khác là tỷ lệ hiện mắc kỳ, trong đó tử số là
tổng số các trường hợp bệnh bao gồm những trường hợp bệnh đã có từ trước
và những trường hợp mới xuất hiện trong một khoảng thời gian xác định, có
thể là một tuần, một tháng hay một khoảng thời gian lớn hơn. Mẫu số của tỷ
lệ hiện mắc kỳ có thể thay đổi (do biến động của quần thể như sự nhập cư
hoặc di cư trong khoảng thời gian quan sát), người ta thường lấy giá trị trung
bình của quần thể, thường là quần thể tại thời điểm giữa của khoảng thời gian
nghiên cứu. Cũng cần lưu ý rằng các trường hợp hiện mắc vẫn được tính ngay
cả khi trường hợp đó tử vong, di cư hoặc xảy ra lặp lại trong khoảng thời gian
quan sát.
Số trường hợp có bệnh
Fkỳ =
(đã mắc từ trước và mới mắc)
Trung bình quần thể
bị mắc lần đầu tiên và bỏ qua những trường hợp mắc lại trong cùng khoảng
thời gian nghiên cứu. Nếu mục đích nghiên cứu là tính số lần mắc bệnh trong
quần thể thì số trường hợp sẽ là tổng số lần mắc bệnh của mỗi cá thể trong
thời gian nghiên cứu.
Mẫu số của tỷ lệ mới mắc tích lũy là quần thể có nguy cơ. Quần thể có
nguy cơ là toàn bộ số cá thể có khả năng bị mắc bệnh trong quần thể, nghĩa là
toàn bộ quần thể trừ đi những cá thể đã có bệnh (vì những cá thể này không
có khả năng mắc bệnh) và những cá thể không thể mắc bệnh. Tuy nhiên, trong
5
nhiều nghiên cứu quy mô lớn, thường không có số liệu về tổng số người đã
có bệnh cũng như những người không có nguy cơ phát triển bệnh, người ta
thường lấy toàn bộ quần thể làm mẫu số (có thể bao gồm cả trường hợp
bệnh). Các nghiên cứu đó có cỡ mẫu khá lớn so với số trường hợp mới mắc
nên việc bao gồm các trường hợp bệnh vào quần thể nguy cơ sẽ không làm
thay đổi quá nhiều kết quả nghiên cứu.
Tỷ suất mới mắc
Khi sử dụng tỷ lệ mới mắc tích lũy, các nhà nghiên cứu giả định rằng số
người trong quần thể nghiên cứu không thay đổi đến khi nghiên cứu kết thúc.
Tuy nhiên, trên thực tế, rất ít nghiên cứu, đặc biệt là những nghiên cứu quy
mô lớn có thể duy trì ổn định số người tham gia từ đầu đến khi nghiên cứu kết
thúc. Số người tham gia nghiên cứu có thể thay đổi có thể do sự di cư, nhập
cư, tử vong… Vì vậy, để có một ước lượng chính xác hơn, nhà nghiên cứu có
thể dùng tỷ suất mới mắc.
IR =
Số trường hợp mắc bệnh
Tổng số thời gian không có bệnh của mỗi cá thể
thực tế là nguy cơ tử vong thay đổi tùy theo tuổi, giới tính, chủng tộc, tầng
lớp kinh tế xã hội và các yếu tố khác. Sẽ là không hợp lý nếu dùng tỷ suất này
để so sánh giữa các khoảng thời gian khác nhau hoặc giữa các khu vực địa lý
khác nhau.
Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi
Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi được tính trên một quần thể dân số tham chiếu
(được gọi là Dân số chuẩn).
Trong Dân số chuẩn, dân số theo từng nhóm tuổi đã xem như là trọng số
(wi) được sử dụng trong quá trình chuẩn hóa. Có rẩt nhều bộ trọng số (w i)
khác nhau được sử dụng, việc sử dụng các bộ trọng số (w i) khác nhau này sẽ
tạo ra các giá trị tỷ lệ chuẩn khác nhau. Dân số chuẩn thế giới được sử dụng
nhiều nhất được trình bày trong Bảng 1.
Bảng 1. Dân số theo nhóm tuổi của Dân số chuẩn thế giới.
STT
Nhóm tuổi
Dân số
7
1
0-4
12.000
2
5-9
10.000
3
10-14
4.000
14
65-69
3.000
15
70-74
2.000
16
75-79
1.000
17
80-84
500
18
85+
500
wi là dân số tại nhóm tuổi thứ i của dân số chuẩn
là tỷ lệ mắc tại nhóm tuổi thứ i
Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi (ASR) được tính theo công thức như sau:
8
1.2. Tỷ lệ mắc mới và tử vong ung thư vú trên thế giới
Hình 1: Tình hình mắc và tử vong do ung thư vú trên thế giới
(nguồn GLOBOCAN 2012)
Hình 2. Ước tính tỷ lệ mắc ung thư vú theo vùng trên thế giới
(Nguồn GLOBOCAN 2012)
Hình 2 cho thấy sự dao động địa lý trong tỷ lệ mới mắc ung thư vú trên
thế giới, theo ước tính của GLOBOCAN năm 2012. Tỷ lệ mới mắc cao nhất ở
Bắc Âu và Tây Âu, Bắc Mỹ và New Zealand, và một số nước phía nam của
Nam Mỹ (Uruguay và Argnetina). Sự khác biệt về địa lý trong nguy cơ được
thể hiện rõ ở châu Âu, với tỷ lệ cao ở các vùng phí Bắc và Tây Âu, trong khi
các vùng phía Nam và Đông Âu lại có tỷ lệ thấp đến trung bình [12]. Tỷ lệ
mới mắc thấp ở châu Phi, châu Á và Trung và Nam Mỹ. Hình tỷ lệ tử vong do
ung thư vú trên thế giới cũng đưa ra một bức tranh tương tự (hình 3).
Tỷ lệ mới mắc ung thư vú chuẩn theo tuổi (quốc tế) đã được thu thập từ số
liệu cả các ghi nhận ung thư quần thể từ các năm 2006-2007 được biểu diễn ở
biểu đồ 2. Tỷ lệ dao động từ 25,6 ca trên 100.000 dân tại Thái Lan (3 đơn vị
ghi nhận) đến 95,3 trên 100.000 dân ở Hà Lan [13]. Tỷ lệ này cũng dao động ở
các vùng miền, với tỷ lệ ở Israel cao xấp xỉ 50% so với các nước khác ở châu
Á. Tỷ lệ này cũng cao ở các vùng Bắc Âu, Tây Âu hơn Đông Âu. Tỷ lệ tử vong
chuẩn theo tuổi (quốc tế) cũng được thu thập tại các đơn vị ghi nhận quần thể
từ 2008-2012 được trình bày ở biểu đồ 3. Tỷ lệ tử vong do ung thư vú cao nhất
ở Barbados (26,1 trên 100.000 dân), Armenia (24,2) và Ireland (19,7) và thấp
nhất là Guatemala (4,9), Triều Tiên (5,2) và Ai Cập (5,9).
Tại các quốc gia thuộc châu Âu, tỷ lệ mắc ung thư vú gia từ năm 1985
đến năm 2010 trừ các nước như Đan Mạch, Pháp, tỷ lệ này bắt đầu giảm từ
năm 2010. Tại các nước phát triển thuộc khu vực châu Mỹ như Hoa Kỳ,
Canada khuynh hướng mắc ung thư vú gia tăng mạnh mẽ từ năm 1980 đến
năm 2000 và giảm xuống, ổn định từ những năm 2005. Các nước châu Á tỷ lệ
11
mắc ung thư vú vẫn tiếp tục gia với đường cong gần như là một hình thẳng
đứng (hình 4).
Hình 4. Khuynh hướng mắc ung thư vú theo thời gian ở các quốc gia trên
mới mắc tăng trong toàn bộ thời gian ở Đức (Saarland) và Hà Lan trong suốt
thời gian nghiên cứu, Tỷ lệ này cũng tăng ở Pháp (6 đơn vị ghi nhận ung thư)
và Thụy Sĩ (6 đơn vị ghi nhận ung thư), những giảm ở Pháp (1,2% mỗi năm
từ 2003) và ổn định ở Thụy Sĩ (từ 2000), Tỷ lệ mới mắc ung thư vú ổn định ở
Áo từ những năm 2003-2007, Ngược lại, xu hướng tử vong do ung thư vú ở
cả 6 nước Tây Âu đều giảm trong nghiên cứu này,
Nam Âu: tương tự như Pháp, tỷ lệ tại Ý và Tây Ban Nha giảm từ những
năm 1999 và 2002, Tỷ lệ tiếp tục tăng ở Croatia và Slovenia từ những năm
1993 và ổn định trong toàn bộ thời gian ở Malta, Tỷ lệ tử vong do ung thư vú
ở 6/7 nước Nam Âu tiếp tục tăng và ổn định ở Croatia,
Đông Âu: Tỷ lệ mới mắc tăng (1,7-2,3%) từ 1993 đến 2008/2008 ở cả 4
nước Đông Âu, Xu hướng tử vong do ung thư vú có nhiều biến động, Tại
Rumani và Liên bang Nga, tỷ lệ tử vong giảm từ đầu những năm 2000, sau đó
tiếp tục tăng, Tỷ lệ tử vong cũng giảm ở Hungary và slovakia nhưng ổn định
ở Bungari và Ukraine từ những năm 1993 và Cộng hòa Czech kẻ từ những
13
năm 2009, Ngược lại, tại cộng hòa Moldova, tỷ lệ tử vong do ung thư vú tăng
1,2% mỗi năm từ nh năm 1998-2012.
Châu Á: Tỷ lệ mới mắc ung thư vú tăng chậm từ 1993 tại Trung Quốc
(3 đơn vị ghi nhận), Nhật Bản (4 đơn vị ghi nhận) và Thái Lan (3 đơn vị ghi
nhận). Tại Singapor tỷ lệ mắc ung thư vú tăng đến 2002 và sau đó ổn định. Ở
Ấn độ tỷ lệ mắc cũng gia tăng từ năm 2000. Ngược lai, tỷ lệ mắc ở Israel
giảm 1,6% mỗi năm từ 1999- 2007. Tỷ lệ tử vong do ung thư vú ở Nhật Bản
và Kuwait tăng từ năm tăng từ năm 1993-2012. Tỷ lệ tử vong do ung thư vú
ổn định ở định ở Trung Quốc (Hồng Kông) , Kyrgyzstan và Singapor.
Châu Phi: Tỷ lệ ung thư vú ở Uganda tăng 5,2% mỗi năm từ năm 19932007. Tỷ lệ tử vong ở Ai Cập tăng 1,3% mỗi năm từ năm 2000-2001 và
Mauritius là 3,5% mỗi năm từ 1993-2012 trong khi tỷ lệ này ổn định ở Nam Phi.
Tỷ lệ mới mắc ung thư vú có đường cong đặc trưng theo tuổi cụ thể ở
Tây Á
Số ca
Tử vong
vong/tỷ lệ
Số ca tử
ASR
ASR
mắc
vong
1.676.633 43,3 521.817 12.9
40.3876
227.054
Trung Quốc 187.213
Nhật Bản
55.710
Mongolia
125
Bắc Triều Tiên 5.707
Hàn Quốc
17.140
Đông Nam Á
107.545
Brunei
83
27
68.531
6,1
0,30
22.1
51.5
9.4
36.8
52.1
34.8
48.6
48.6
40.3
19
38,7
22,1
47
65,7
29,3
32,6
23
47.984
13.801
50
16,4
9,9
0,26
0,25
0,40
0,41
0,13
0,40
0,22
0,47
0,40
0,47
0,48
0,49
0,36
0,25
0,37
0,48
0,42
Hình 6 cho thấy tỷ lệ mới mắc ung thư vú chuẩn theo tuổi tại Việt Nam
năm 2012. Đường cong bắt đầu tăng từ độ tuổi 40 và đạt đỉnh tại nhóm tuổi
50-54 tuổi và giảm mạnh từ 64 tuổi (số liệu từ Globocan 2012).
16
Hình 6. Tỷ lệ mới mắc ung thư vú chuẩn theo tuổi tại Việt Nam
(Nguồn: GLOBOCCAN 2012).
18
Trong các yếu tố nguy cơ gây ung thư vú, nổi bật nhất là tiền sử gia
đình có người mắc ung thư vú. Một phụ nữ có mẹ hoặc chị gái, em gái hoặc
con gái đã bị ung thư vú thì nguy có bị bệnh này cao gấp 2-3 lần so với các
phụ nữ khác. Nếu người trong gia đình mắc ung thư vú khi ở tuổi trẻ thì nguy
có cao hơn. Nguy cơ cũng tăng khi trong gia đình có từ hai người trở lên mắc
ung thư vú [1].
2.1.1.2. Yếu tố di truyền, đột biến gen
Như chúng ta đã biết, biến đổi hay đột biến một số gen có thể làm tế
bào chuyển thành ác tính. Năm 1994 người ta tìm thấy sự liên quan giữa đột
biến gen ức chế tạo u là BRCA-1 và BRCA-2 nằm trên nhiễm sắc thể 17 và
13 với ung thư vú, ung thư buồng trứng và một số loại ung thư khác [1].
BRCA -1là gen ức chế tạo u, có vai trò trong sửa chữa AND. Một số
nghiên cứu chỉ ra rằng có khoảng 80 đến 90% gặp đột biến gen BRCA-1 và
gặp ở những gia đình có ung thư vú, ung thư buồng trứng, trong đó 40% gặp
ở gia đình có ung thư vú. BRCA1 chỉ ra nguy cơ 85% ung thư vú. Đột biến
gen BRAC1 chiếm khoảng 71% trong số các đột biến gen và nguy cơ ung
thư vú trong số này khoảng 62%. Đột biến gen BRAC1 chiếm 8% ung thư vú
trước tuổi 30, 5% sau tuổi 30 và 1% sau tuổi 50. Phụ nữ ung thư vú có đột
biến gen này có nguy cơ phát triển ung thư vú đối bên là 64%. Đột biến gen
BRCA1 biểu hiện ở tuổi trẻ hơn và giai đoạn thấp hơn. Những u này thường
có tỷ lệ tăng sinh cao, độ mô học cao và thường di bội thể; tỷ lệ tái phát thấp
hơn so với những ung thư khác. Ung thư biểu mô thể tủy là loại hay gặp nhất
trong số những bệnh nhân có đột biến gen này [2].
BRCA-2 là một gen lớn có 27 exon mã hóa một phân tử protein với
3418 acid amin. BRCA-2 chiếm khoảng 35 đến 40% ung thư vú mang tính
di truyền và đã tìm thấy trong những gia đình bị ung thu vú gặp cả ở nam và
nữ. Hầu hết đột biến BRCA-2 gặp ở giai đoạn cuối của quá trình tổng hợp