Giảm giá trị của Lợi thế Thương mại - Pdf 58

Giảm giá trị của Lợi thế Thương mại - Tính hợp lý
của việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính
Xác định giảm giá trị của Lợi thế Thương mại theo Chuẩn mực lập Báo cáo tài
chính quốc tế được xem là bước quan trọng trong việc chuyển đổi kế toán tài
chính và lập Báo cáo tài chính từ phương pháp giá phí đến phương pháp giá trị
hợp lý. Sự chuyển đổi này phản ánh nhu cầu của người sử dụng báo cáo tài chính
cũng như nỗ lực của cơ quan ban hành chính sách nhằm đảm bảo có được thông
tin kế toán phù hợp hơn.
Trong thực tế, các công ty áp dụng phương pháp giá trị hợp lý để xác định giá trị
có thể thu hồi của các đơn vị tạo tiền (CGU) dựa trên giá thị trường được cho là
đem lại kết quả có độ tin cậy cao nhất. Tuy nhiên các nghiên cứu đã tiến hành
khảo sát, so sánh trong 249 công ty thuộc năm ngành khác nhau để rút ra những
kết luận về tính hiệu quả của việc áp dụng phương pháp này. Từ đó, bài viết đã
liên hệ với thực tiễn của Việt nam và gợi ý một số vấn đề cần sửa đổi và hoàn
thiện đối với chuẩn mực kế toán số 36 (VAS 36) trong thời gian tới.

1. Giới thiệu phương pháp giá trị hợp lý trong việc xác định giảm giá trị Lợi
thế thương mại của HKAS 36

Việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đã dẫn đến những thay
đổi đáng kể về công tác kế toán và phương pháp lập báo cáo đối với Lợi thế
thương mại được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Hồng Kông.
Phương pháp xác định giảm giá trị của Lợi thế thương mại theo IFRS hoàn toàn
khác với các phương pháp ghi nhận và xử lý trước đó. Về nguyên tắc, Lợi thế
thương mại sẽ được xem xét giảm giá trị khi đơn vị không thể bù lại được giá trị
ghi sổ trên Bảng cân đối kế toán.

Xác định giảm giá trị của Lợi thế thương mại theo Chuẩn mực kế toán Hồng Kông
số 36 (HKAS 36) “Giảm giá trị của tài sản” được áp dụng cho kỳ lập báo cáo tài
chính từ 1/1/2005, yêu cầu xác định “Giá trị có thể thu hồi” đối với Lợi thế thương
mại theo năm. Giá trị có thể thu hồi của Lợi thế thương mại được so sánh với giá

các tổ chức tài chính. Do trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nhu cầu cần thiết đối
với các tổ chức tài chính ghi giảm giá cổ phần, báo cáo lỗ và giảm công nợ để xác
định giá trị hợp lý của ngân hàng và của tổ chức tài chính, đến năm 1947, phương
pháp này xuất hiện lại trong việc xác định “Hàng tồn kho” theo giá trị thuần có thể
thực hiện được hoặc theo giá thị trường.

Ngày nay, việc đo lường theo phương pháp giá trị hợp lý đang trở nên phổ biến
trong chuẩn mực lập báo cáo tài chính bao gồm:

- Chứng khoán giao dịch hoặc công nợ để dàn xếp nghĩa vụ thanh toán theo công
cụ tài chính;
- Tài sản hoặc công nợ có được từ hợp nhất kinh doanh và xác định giá trị ban đầu
của Lợi thế thương mại;
- Tài sản hoặc công nợ được điều chỉnh định kỳ như xác định giảm giá trị của tài
sản, giảm giá trị của Lợi thế thương mại;
- Nghiệp vụ liên quan đến trao đổi tài sản giữa các bên độc lập không thanh toán
bằng tiền;

Kế toán về Lợi thế thương mại đã thay đổi ở Hồng Kông từ 1/1/2005 theo Chuẩn
mực số 3 “Hợp nhất kinh doanh” (HKFRS 3) và HKAS 36. Hiện tại, Lợi thế
thương mại được ghi nhận ban đầu theo HKFRS 3 như là giá trị chênh lệch giữa
giá mua và giá trị hợp lý của tài sản trừ (-) đi giá trị hợp lý của công nợ phải trả
(trong trường hợp giá mua cao hơn giá trị hợp lý của tài sản và công nợ).

Theo quy định của HKAS 36, Lợi thế thương mại có được từ Hợp nhất kinh doanh
không được khấu hao mà được xác định giảm giá trị hàng năm hoặc bất cứ khi nào
có sự kiện hoặc dấu hiệu chỉ ra rằng giá trị có thể thu hồi bị giảm sút, đó là giá trị
ghi sổ vượt quá giá trị có thể thu hồi. Một vấn đề đáng bàn luận trong việc xác
định giá trị có thể thu hồi của Lợi thế thương mại xuất phát từ thực tế rằng Lợi thế
thương mại không tạo ra lợi nhuận 1 cách riêng biệt, do chúng không thể nhận

- Giá trong hợp đồng kinh tế được coi là bằng chứng tốt nhất trong sự trao đổi
ngang giá trừ (-) đi chi phí liên quan trực tiếp đến việc bán tài sản đó;
- Trong trường hợp không có hợp đồng kinh tế nhưng tài sản được trao đổi trên thị
trường, giá trị hợp lý là giá thị trường trừ (-) chi phí bán tài sản đó. Giá thị trường
hợp lý thường là giá bỏ thầu, khi giá bỏ thầu không tồn tại, dựa vào giá của nghiệp
vụ giao dịch gần nhất;
- Trong trường hợp không có hợp đồng kinh tế và giá thị trường cho tài sản thì giá
trị hợp lý được dựa trên thông tin sẵn có phù hợp nhất để phản ánh giá trị mà đơn
vị có thể thu được từ việc bán tài sản giữa các bên có hiểu biết trong sự trao đổi
ngang giá sau khi trừ đi chi phí bán tài sản đó tại ngày báo cáo.

Khi không tồn tại Hợp đồng kinh tế, giá trị hợp lý của tài sản hay đơn vị tạo tiền
(CGU) được xác định bởi thị trường. Thị trường được xác định là thị trường mà tất
cả các điều kiện đều tồn tại, (i) tài sản được trao đổi trong thị trường là đồng nhất;
(ii) người mua và người bán có thể tìm được ở bất cứ thời gian nào; (iii) giá cả sẵn
có đến công chúng.

Đơn vị tạo tiền (CGU) có liên quan đến từng đơn vị và thay đổi về các bộ phận
bên trong tài sản nên không thể có tài sản là đồng nhất, đồng thời do bản chất
chuyên dụng của tài sản nên cũng không thể xác định được người mua và người
bán ở bất cứ thời gian nào; trong khi giá cả đối với tài sản đồng nhất (chẳng hạn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status