VIÊN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LIÊN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ TRONG
BỐI CẢNH MỚI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN NĂNG
LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2019
VIÊN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LIÊN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ TRONG
BỐI CẢNH MỚI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN NĂNG
LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM)
Ngành:Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 8340412
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM QUANG TRÍ
tôi đang công tác và gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất về mặt tinh thần cho tôi
yên tâm học tập, những học viên khóa 8 chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công
nghệ đã luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập.
Do thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều, nên luận
văn không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của
thầy, cô và anh chị học viên./.
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Liên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ............................................. 7
1.1. Khái niệm nhân lực khoa học công nghệ ........................................... 7
1.2. Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ năng lượng nguyên tử ....... 8
1.3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ lĩnh
vực năng lượng nguyên tử ...................................................................... 13
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ
TRƯỜNG HỢPVIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM........ 22
2.1. Giới thiệu tổng quan về Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam ..... 22
2.2. Thực trạng công tác phát triển nhân lực tại Viện Năng lượng
nguyên tử Việt Nam (2014-2017) ........................................................... 28
2.3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển nhân lực
tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam .............................................. 40
2.4. Đánh giá tổng hợp công tác phát triển nhân lực ngành NLNT tại
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam ................................................... 47
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC
Đồng vị phóng xạ
4
IAEA
Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế
5
KH&CN
6
KH&KTHN
7
LPƯ
8
LPƯNC
Lò phản ứng nghiên cứu
9
NCHN
15
Viện NLNTVN
Công nghệ xạ hiếm
Khoa học và Công nghệ
Khoa học và kỹ thuật hạt nhân
Lò phản ứng
Đánh giá không phá hủy
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhu cầu tuyển dụng nhân lực giai đoạn 2015 - 2020 ................................32
Bảng 2.2.Nhu cầu đào tạo nhân lực trong lĩnh vực NLNT năm 2015-2017 .............35
Bảng 2.3.Các khóa đào tạo bồi dưỡng cán bộ ...........................................................36
Bảng 2.4. Kết quả đào tạo và mức độ đáp ứng nhu cầu đào tạo ...............................37
Bảng 2.5.Phân bố nhân lực theo trình độ, ngạch bậc, độ tuổi...................................45
Bảng 2.6.Trình độ Lý luận chính trị tính đến 15/12/2017 ........................................46
Bảng 2.7. Bảng tổng hợp nhân lực tuyển dụng được trong giai đoạn 2013 – 2017
của Viện NLNTVN ........................................................................................47
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1.Sơ đồ Tổ chức bộ máy của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam ..........26
Hình 2.2.Quy trình đào tạo các khóa ngắn hạn của Viện NLNTVN ........................35
Hình 2.3.Quy trình phân tích.....................................................................................35
đào tạo cán bộ về NLNT để phục vụ cho dự án điện hạt nhân (ĐHN) trong tương
lai. Ngày 22 tháng 11 năm 2016 Quốc hội đã phê duyệt Nghị quyết số
31/2016/QH14 về việc dừng thực hiện chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh
Thuận. Với nghị quyết này của Quốc hội yêu cầu Viện Năng lượng nguyên tử cũng
cần có những định hướng phát triển lại cho việc ứng dụng NLNT vào phát triển
kinh tế xã hội khi dừng xây dựng Nhà máy điện hạt nhân.
Lĩnh vực NLNT của Việt Nam được hình thành và phát triển hơn 40 năm nay,
thực sự đã đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội. Ứng dụng kỹ thuật hạt
nhân và công nghệ bức xạ đã góp phần phát triển ngành y học hạt nhân, điều trị ung
thư trong các bệnh viện, tạo ra các giống lúa, đậu tương,…bằng đột biến phóng xạ
trong nông nghiệp, phát triển các kỹ thuật chiếu xạ thanh trùng giúp mở rộng việc
1
xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, dịch vụ sang các nước tiên tiến được thực
hiện. Trong công nghiệp, ứng dụng kỹ thuật hạt nhân để đánh giá chất lượng, hỏng
hóc, lão hóa các thiết bị công nghiệp, các công trình giao thông v.v. đang ngày càng
được phổ biến rộng rãi. Ngoài việc thúc đẩy các ứng dụng vào đời sống, ngành hạt
nhân còn đóng góp tích cực cho nghiên cứu cơ bản như vật lý hạt nhân, thủy nhiệt,
cơ học dòng chảy, khoa học vật liệu thép hợp kim … và đưa nền tảng khoa học
công nghệ Việt Nam lên một trình độ cao hơn.
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (NLNTVN) tiền thân là Viện Nghiên
cứu hạt nhân Đà Lạt, đảm nhận các nhiệm vụ chính trong nghiên cứu và ứng dụng
NLNT, bao gồm cả phát triển điện hạt nhân (ĐHN) của đất nước. Trong giai đoạn
hiện nay, Viện tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng năng lượng
nguyên tử, xây dựng lò nghiên cứu, các phòng thí nghiệm đồng bộ về nghiên cứu
công nghệ, thiết kế nhà máy điện hạt nhân, phân tích an toàn các công nghệ thiết
kế ĐHN, xử lý chất thải phóng xạ, nghiên cứu vật liệu thép hợp kim sử dụng
trong lò phản ứng và các ngành công nghiệp khác, và các phòng thí nghiệm hiện
nhu cầu cả về số lượng và chất lượng.
Ở Việt Nam, trên phạm vi cả nước có một số tác giả nghiên cứu về những vấn
đề liên quan), với đề tài “cải cách chính sách phát triển nhân lực cho hoạt động
nghiên cứu – triển khai” đã đề cập tới các vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và
quản lý nhân lực cho hoạt động nghiên cứu – triển khai ở nước ta trên cơ sở phân
tích hiện trạng nhân lực này, kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế
giới. Tác giả đã đề xuất một số cải cách chính sách trong đó đáng lưu ý là giải pháp
phối hợp chính sách đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) với chính sách
khoa học và công nghệ (KH&CN). Đây là gợi ý có giá trị cho nghiên cứu đề tài
luận văn.
- Nguyễn Thúy Hà (2013), với đề tài “Chính sách phát triển nguồn nhân lực
khoa học công nghệ”, trên cơ sở phân tích thực trạng những thành tựu và hạn chế
của nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay, đã đề xuất các giải
pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực này, trong đó đặc biệt chú ý đến các chính
sách phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Trần Chí Thành (2013) về cần một giải pháp đột phá trong đào tạo nguồn
nhân lực ngành hạt nhân đăng trên Tạp chí Tia sáng đã đề cập đến vai trò, thực
trạng nguồn nhân lực năng lượng hạt nhân. Bài viết giúp tác giả định hướng xây
dựng đề xuất chính sách đặc biệt để phát triển nhân lực và thu hút những cán bộ
xuất sắc có trình độ trong lĩnh vực NLNT.
- Đỗ Thị Mai (2014) về nhân sự cho phát triển năng lượng điện hạt nhân đăng
trong tạp chí Tài chính đã bàn chi tiết nhu cầu, một số chính sách tài chính cho thực
3
hiện dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Bài viết này giúp luận văn trong việc xây
dựng khung phân tích các chính sách phát triển nhân lực cho lĩnh vực năng lượng
hạt nhân.
- Phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại
Viện NLNTVN.
- Đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cho Viện
NLNTVN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý
thuyết và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cho Viện
Năng lượng nguyên tử Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác phát triển nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ tại Viện NLNTVN.
+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác phát triển nguồn nhân lực
khoa học và công nghệ tại Viện NLNTVN với số liệu được thu thập trong khoảng
thời gian từ năm 2014 đến 2017.
+ Về nội dung: Luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng phát triển
nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại Viện NLNTVN và đề xuất các giải pháp
phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cho Viện NLNTVN.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp phương pháp thu thập - tổng hợp và phân tích - diễn giải các thông
tin thứ cấp và vận dụng tổng hợp kiến thức chuyên ngành để đề xuất giải pháp.
Những thông tin dùng trong phân tích được thu thập gồm:
- Nguồn thông tin thứ cấp: thông tin bên ngoài là sách báo, tài liệu đã xuất
bản, mạng internet, các nghiên cứu tổng kết liên quan đến hoạt động thu hút nhân
lực trước đây; thông tin bên trong là các báo cáo thường niên của Viện NLNTVN từ
năm 2014 đến 2017.
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến chuyên gia về các giải pháp
phát triển nguồn nhân lực của Viện NLNTVN
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
và phát triển kinh tế(OECD) và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp
quốc (UNESCO).
Theo cách tiếp cận của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) nhân
lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây
(OECD, 1995):
- Tốt nghiệp cao đẳng trở lên về một lĩnh vực KH&CN;
- Hoặc chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực
KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tối thiểu là cao đẳng trở lên.
Như vậy, kể cả những người có bằng cấp nhưng không làm việc trong lĩnh
vực KH&CN cũng được coi là nhân lực KH&CN. Theo OECD, những người đáp
ứng cả 2 yêu cầu trên đây, tức là vừa có bằng cấp trong lĩnh vực KH&CN vừa làm
một nghề về KH&CN được coi là nhóm nhân lực then chốt trong lĩnh vực KH&CN
(key group of HRST).
Theo cách tiếp cận của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp
quốc (UNESCO), “Nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động
KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của
mình, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ”
Theo quan niệm của một số quốc gia, nhân lực phụ trợ là yếu tố quan trọng
góp phần để các hoạt động KH&CN được tiến hành thuận lợi. Chính vì vậy, Chính
phủ ở các quốc gia này rất quan tâm đến đội ngũ nhân lực phụ trợ để họ có điều
kiện thuận lợi thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho KH&CN.
Nhìn vào 2 cách tiếp cận trên đây, khái niệm nhân lực KH&CN giữa OECD
và UNESCO có khác biệt, thể hiện ở chỗ:
7
- Theo UNESCO, nhân lực KH&CN bao hàm cả đội ngũ nhân lực phụ trợ,
trong khi đó OECD không tính bộ phậnnàyvà nhân lực KH&CN, trừ trường hợp họ
có bằng cấp.
Như vậy, nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT được hiểu theo nghĩa rộng, bao
hàm cả nhân lực KH&CN có trình độ được xác định thông qua bằng cấp và nhân
lực KH&CN có kỹ năng, đã, đang và sẽ hoạt động trong lĩnh vực NLNT.
1.2.2. Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực NLNT
và yêu cầu phát triển nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực NLNT
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế, vai trò của nhân lực KH&CNlĩnh vực NLNT càng thể hiện rõ
nét hơn. Nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT là một trong những yếu tố quyết định
sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế
từ dựa vào nông nghiệp và thủ công sang máy móc công nghiệp là chính. Đây là
quá trình sử dụng nguồn lao động được đào tạo, kết hợp với công nghệ, phương
pháp tiên tiến nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển
và ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu
quả và bền vững.
1.2.3. Vai trò của nguồn nhân lực KH&CN lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Việt Nam
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi năng lượng hạt nhân hay năng lượng
nguyên tử được phát triển và sử dụng trên toàn thế giới, năng lượng nguyên tử đã
trở thành một trong những nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho ngành điện
lực tại các nước công nghiệp phát triển. Việc ứng dụng công nghệ bức xạ một cách
rộng rãi trong các lĩnh vực như: công nghiệp, y học, nông nghiệp,.. cũng đã mang
lại hiệu quả kinh tế - xã hội to lớn.
Tại Việt Nam những nghiên cứu, ứng dụng NLNT đã có nhiều đóng góp
phục vụ trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực y tế và nông nghiệp.
Ở lĩnh vực nông nghiệp, có hơn 50 giống cây trồng được tạo ra bằng phương pháp
được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực
hiện công việc”. Trong khi đó, UNESCO sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân
lực theo nghĩa hẹp và cho rằng phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành
nghề của dân cư luôn phù hợp yêu cầu phát triển của đất nước. Theo tổ chức Lao
động Thế giới (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không
chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự
phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thỏa
mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Liên hiệp Quốc thì nghiêng về sử dụng khái
niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử
10
dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao
chất lượng cuộc sống.
Như vậy, tựu trung lại, nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực
KH&CN nói riêng dùng để chỉ sức người gồm cả khả năng và phẩm chất tham gia
vào lao động sản xuất. Nói đến nguồn nhân lực tức là nói tới những gì cấu thành
khả năng, năng lực và sức mạnh sáng tạo của con người và nguồn nhân lực thì chất
lượng là điều quan trọng chứ không phải số lượng.
1.2.4.2. Phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT
Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 (theo Quyết định số
481/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) đã đưa ra quan điểm:
Phát triển KH&CN cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là
động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững. KH&CN phải đóng
vai trò chủ đạo để tạo được bước đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình
tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mục tiêu đến năm 2020 đưa KH&CN thực
sự trở thành động lực then chốt, đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó có một số lĩnh vực KH&CN đạt trình độ tiên
trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Nhận thức rõ vai trò của đội ngũ nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT,
gần đây trong một số văn kiện quan trọng định hướng phát triển nhân lực NLNT
đến năm 2020, Đảng và Nhà nước đã đề ra chủ trương phát triển nguồn nhân lực
trong lĩnh vực NLNT. Điển hình là trong Quyết định số 1558 có đề ra:
- Đến năm 2020, đào tạo nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng để
phục vụ quản lý, ứng dụng và bảo đảm an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử đảm bảo khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ, vận hành, duy tu,
bảo dưỡng, quản lý nhà máy điện hạt nhân, tiến tới từng bước nội địa hóa, tự chủ về
công nghệ cụ thể: nhân lực phục vụ nhà máy điện hạt nhân mỗi năm đào tạo 240 kỹ
sư, cử nhân; 35 thạc sĩ, tiến sĩ (trong đó đào tạo tại nước ngoài 20 kỹ sư, cử nhân;
15 thạc sĩ, tiến sĩ).
1.2.4.3. Vấn đề đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT
Quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT phải gắn kết chặt
chẽ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn
nhân lực KH&CN tới năm 2020 và tầm nhìn năm 2030.
Cần hình thành một mạng lưới tổ chức KH&CN trong lĩnh vực NLNT. Xây
dựng quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN lĩnh vực NLNT trong từng mốc thời
gian cụ thể để có kế hoạch triển khai đào tạo. Thiết lập mối quan hệ giữa doanh
nghiệp – nhà khoa học, bao gồm mạng lưới chuyên gia, để tìm đầu ra cho các sản
phẩm ứng dụng trong lĩnh vực NLNT. Huy động các nguồn lực từ các doanh nghiệp
12
đầu tư cho nghiên cứu, triển khai các hoạt động trong KH&CN lĩnh vực NLNT. Đổi
mới việc tuyên truyền các hoạt động KH&CN lĩnh vực NLNT để tôn vinh các cá
nhân, tập thể điển hình trong nghiên cứu, sáng tạo ứng dụng KH&CN trong lĩnh
vực NLNT. Tuyên truyền cho người dân hiểu được tầm quan trọng, những thành
tựu trong ứng dụng NLNT.
+ Giúp duy trì và nâng cao số lượng, chất lượng nguồn nhân lực
+ Nâng cao hàm lượng chất xám, hướng tới những phát hiện mới, sáng tạo
mới. Trình độ chuyên môn càng cao, hiểu biết càng sâu rộng thì càng có nhiều cơ
hội phát huy tính sáng tạo.
+ Giúp người học cập nhật tri thức mới, bổ túc nghề nghiệp, củng cố các kỹ
năng trong xử lý công việc.
+ Từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến
Chính phủ ban hành đề án phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử là muốn nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực phải đi trước một
bước, Nhà nước đầu tư kinh phí để xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng nguồn
nhân lực, đặc biệt là các chuyên gia có trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu
nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đảm bảo an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử.
Để phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ trong lĩnh vực NLNT,
cần phải tạo được bước chuyển mạnh, trong tâm là xây dựng các cơ sở giáo dục và
đào tạo, các tổ chức nghiên cứu và triển khai KH&CN trong lĩnh vực NLNT, đồng
thời chú trọng xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp nhằm nâng cao trình độ
nguồn nhân lực trong lĩnh vực NLNT.
Sự cần thiết của việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực
+ Thông qua đào tạo, người lao động có thể bổ sung thêm kiến thức về nghề
nghiệp về bảo hộ lao động, giảm bớt các tai nạn lao động, có đủ sức khỏe, phát huy
hết khả năng làm việc của mình vì lợi ích chung của đơn vị.
+ Số lượng và chất lượng nhân lực thay đổi hợp lý, góp phần nâng cao tính
ổn định và năng động cho tổ chức, tạo ra sức mạnh vững chắc để đơn vị tồn tại và
phát triển.
+ Làm cho người lao động thêm tự tin vào bản thân, tạo cảm giác yên tâm
làm việc, gắn bó lâu dài với công ty, phát huy hết khả năng để cống hiến cho tổ
chức, coi lợi ích của tổ chức như chính lợi ích của bản thân mình.
Ý nghĩa của việc đào tạo, bồi dưỡng
gia cao cấp, thông qua các chương trình nghiên cứu hợp tác trao đổi với đối tác,...
cũng là những hình thức đào tạo cần quan tâm và thực sự hiệu quả.
Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định và
chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một số
công việc nhất định. Đào tạo được biểu hiện là các hoạt động nhằm giúp cho người
lao động có thể thực hiện tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình.
Về lý luận, đào tạo nhân lực KH&CN nói chung và nhân lực KH&CN trong
lĩnh vực NLNT nói riêng là hoạt động truyền tải thông tin, kỹ năng thực hành, nghề
nghiệp hay kiến thức trong lĩnh vực KH&CN nhằm đạt mục tiêu để người học có
15
thể lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ
thống và có thể áp dụng chúng trong hoạt động KH&CN. Đào tạo là một biện pháp
giúp cho cán bộ nghiên cứu phát huy sự say mê khoa học của mình. Do vậy cần có
nhiều hình thức đào tạo để người nghiên cứu có thể lựa chọn và không giới hạn độ tuổi.
1.3.2. Thu hút nhân lực KH&CN
Công tác thu hút nhân lực có thể được hiểu là các biện pháp, cách thức cần
thiết của nhà quản lý nhằm lôi cuốn, phát triển nhân lực khoa học và công nghệ
ngành NLNT, đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức.
Nhận thức, thái độ đối với nhân lực KH&CN ngành NLNT
Để thu hút được nguồn nhân lực KH&CNngành NLNT người sử dụng lao
động cũng phải có những yêu cầu cần làm rõ. Cần trả lời ba câu hỏi theo một trật tự
logic nhất định là: Thu hút nhân lực NLNT để làm gì? Thu hút ai? Thu hút như thế
nào? Trước hết chọn người phải phù hợp yêu cầu công việc. Sau khi trả lời câu hỏi:
Thu hút để làm gì? Mới tìm cách trả lời câu hỏi thứ hai là: Thu hút ai? Một cách
đơn giản để trả lời câu hỏi thứ hai là việc chọn người thích hợp cho công việc, giải
quyết được công việc nhưng lại không phí sức của người sử dụng và không quá tốn
kém. Sau khi xác định được thu hút ai thì mới có thể trả lời được thu hút như thế
NLNT; Quyết định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ
quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp đối với người làm việc trong các đơn
vị thuộc lĩnh vực năng lượng nguyên tử của Bộ Khoa học và Công nghệ.
- Với các đề án, dự án như trên nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ
ngành NLNT mỗi năm đào tạo 240 kỹ sư, cử nhân; 35 thạc sĩ, tiến sĩ (trong đó đào
tạo tại nước ngoài 20 kỹ sư, cử nhân; 15 thạc sĩ, tiến sĩ).
Riêng đối với lĩnh vực điện hạt nhân, đảm bảo đủ nhân lực cho chủ đầu tư,
cơ quan an toàn hạt nhân, cơ quan nghiên cứu triển khai và hỗ trợ kỹ thuật theo yêu
cầu nhiệm vụ của các cơ quan này ở thời điểm năm 2030. Vận hành ổn định các cơ
sở đào tạo đại học, trên đại học chuyên ngành điện hạt nhân.
Mặc dù hiện nay chưa có số liệu thống kê cụ thể về nhu cầu nhân lực NLNT
đến năm 2030 nhưng dựa trên định hướng phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực
NLNT của Chính phủ và căn cứ vào hiện trạng cũng như nhu cầu nhân lực đến năm
2020, có thể dự báo rằng nhu cầu nhân lực NLNT đến năm 2030 của nước ta là rất lớn.
Các yêu cầu riêng về thu hút nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
Xuất phát từ đặc thù của ngành NLNT dẫn đến nhân lực NLNT có những
đặc điểm riêng so với các ngành nghề khác trong xã hội, cụ thể như sau:
- Nhân lực được đào tạo cơ bản:
Tại Việt Nam, Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về đào tạo
nguồn nhân lực và Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện hạt nhân (ĐHN) Ninh Thuận,
17
chức năng và nhiệm vụ của Ban trên là trú trọng phát triển đào tạo nhân lực cho
phát triển ngành NLNT. Ngoài ra Chính phủ cũng giao cho 05 trường đại học đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành NLNT: Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại
học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), Đại học Điện lực, Trung tâm
đào tạo hạt nhân tại Viện NLNT Việt Nam (Bộ KH&CN), Đại học Khoa học tự
nhiên (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh), Đại học Đà Lạt (Thủ tướng