VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ ANH QUYẾT
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ ANH QUYẾT
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Vũ Công Giao
HÀ NỘI, năm 2019
PHỐ HÀ NỘI................................................................................................. 59
3.1. Quan điểm về tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn
quận Hoàng Mai ........................................................................................ 59
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận
Hoàng Mai ................................................................................................. 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 79
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
BMNN
Bộ máy nhà nước
2
CCHC
Cải cách hành chính
3
UBMTTQ
Ủy ban mặt trận tổ quốc
9
UBND
Ủy ban nhân dân
11
VHTT
Văn hóa thông tin
8
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển xã hội loài người, bất cứ quốc gia nào trên thế giới
cũng có nền văn hóa mang sắc tộc riêng. Văn hóa là tích lũy qua quá trình lao động,
của tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần trong đời sống xã hội, được chọn lọc
qua lịch sử tuyền thống, phát triển của từng dân tộc, từng quốc gia. Ngày nay sự
phân biệt giữa quốc gia này với quốc gia khác không chỉ còn là đường biên giới, mà
như: sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ sùng ngoại, coi thường những giá trị văn
hóa truyền thống, thuần phong, mỹ tục, có nơi còn chạy theo xu hướng “thương mại
hóa”, tính giáo dục suy giảm..., một trong những nguyên nhân của thực trạng nói
trên là do công tác quản lý nhà nước (QLNN) về văn hóa ở các cấp, trong đó có cấp
quận, một cấp trung gian giữa phường và thành phố còn nhiều yếu kém, làm cho
việc QLNN về văn hóa, vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn.
Hoàng Mai là một quận nằm ở cửa ngõ phía nam của Thủ đô Hà Nội, được
thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2004, có vị trí địa lý chiến lược
quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố. Công tác QLNN
về văn hóa trên địa bàn quận trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan
trọng, nhu cầu và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân ngày càng cao, công tác
quản lý đã đi vào nề nếp, nhiều văn bản hướng dẫn được ban hành từ lĩnh vực văn
hóa được thực thi, áp dụng có hiệu lực, hiệu quả trong thực tế, đóng vai trò to lớn,
có ý nghĩa sâu sắc đối với định hướng phát triển văn hóa của Thủ đô.
Tuy nhiên trên địa bàn quận Hoàng Mai, công tác QLNN về văn hóa vẫn còn
nhiều khó khăn, bất cập so với nhu cầu thực tiễn, đòi hỏi công tác quản lý cần có sự
đổi mới. Những hạn chế yếu kém trong công tác quản lý là một trong những nguyên
nhân dẫn đến môi trường văn hóa bị nhiễm độc bởi các sản phẩm “Tây hóa”, dịch
vụ văn hóa độc hại, học đòi, phần nào làm giảm sút, làm suy yếu các chức năng văn
hóa. Việc xây dựng thể chế văn hóa, thực thi các văn bản pháp luật, các chính sách
trên lĩnh vực văn hóa còn chậm, thiếu đồng bộ, các cơ quan chức năng quản lý và
một số cán bộ còn yếu kém, làm hạn chế trong công tác QLNN về văn hóa. Thực
trạng đó đặt ra yêu cầu cấp thiết với việc tăng cường QLNN về văn hóa, góp phần
trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, giải quyết mối quan hệ giữa
phát triển văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội; đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân
dân, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; quản lý văn hóa ở cấp quận tốt để
phát triển kinh tế xã hội trong quá trình đô thị hóa.
2
về văn hóa và con người trong sự phát triển văn hóa”; Các bài viết về“Cơ sở khoa
3
học, thực tiễn của chính sách văn hóa trong kinh” của GS.TS. Trần Ngọc Hiên
đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 20/2006; “Đẩy mạnh xây dựng và nâng cao chất
lượng đời sống văn hóa cơ sở” của tác giả Lê Doãn Hợp đăng trên Tạp chí Cộng
sản, số 773/2007; “Chính quyền địa phương với việc xây dựng đời sống văn hóa ở
cơ sở” của Nguyễn Đức Mạnh đăng trên Tạp chí Cộng sản chuyên đề cơ sở, số
4/2008; “Văn hóa Việt Nam, đã đến lúc bừng nở sức mạnh tiềm ẩn” của GS.TSKH.
Trần Ngọc Thêm, trên www.vietimes.com.vn (03/4/2008); “Văn hóa và phát triển vấn đề chiến lược cấp bách ở nước ta hiện nay” của GS.TS Trần Ngọc Hiên đăng
trên Tạp chí Cộng sản ngày 09/8/2016; “Xây dựng văn hóa gia đình - cái gốc của
việc xây dựng con người và xây dựng xã hội văn hóa, đạo đức, văn minh” của Ths
Nguyễn Đức Mạnh đăng trên Tạp chí Cộng sản ngày 07/12/2016... và nhiều công
trình khác.
Tuy nhiên, vấn đề QLNN về văn hóa từ thực tiễn quận Hoàng Mai, Thành phố
Hà Nội hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện.
Vì vậy, luận văn này nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải
pháp, kiến nghị nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN về văn hóa trên địa bàn
quận Hoàng Mai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận
cứ khoa học cho các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về văn hóa tại quận
Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và
pháp luật liên quan đến QLNN trên lĩnh vực văn hóa, nội dung của quản lý văn hóa
cấp quận trong quá trình đô thị hóa của các Thành phố ở Việt Nam.
- Khảo sát, đánh giá, tìm nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế, thực
trạng trong QLNN về văn hóa tại quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc
thượng tầng và hạ tầng kinh tế; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
đường lối đổi mới lĩnh vực văn hóa, các Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt
Nam và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương cũng như các văn bản pháp luật đối
với công tác QLNN về văn hóa. Đồng thời, tác giả có tham khảo và kế thừa có
chọn lọc một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan đến lĩnh
vực văn hóa.
5
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể được tác giả sử dụng trong luận văn bao gồm:
Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương
pháp hệ thống, phương pháp so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn củng cố cơ sở lý luận khoa học về quản lý văn hóa thông qua việc
phân tích tình hình thực tế ở cấp cơ sở (quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội) và đề
xuất các quan điểm, giải pháp làm rõ hơn một số vấn đề lý luận cụ thể về quản lý
văn hóa ở cấp quận, huyện của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần hệ thống hóa đầy đủ về lý luận, những quy định của pháp
luật, thực trạng trong QLNN về văn hóa, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
công tác lãnh đạo thực tiễn của quận và cấp cơ sở đối với lĩnh vực văn hóa; đồng
thời kiến nghị một số giải pháp, quy định của pháp luật liên quan đến việc QLNN
về văn hóa ở cấp quận, huyện của cả nước hiện nay. Luận văn có thể được sử dụng
làm học liệu tham khảo cho việc giảng dạy luận hiến pháp và luật hành chính ở Học
viện KHXH Việt Nam và các cơ sở đào tạo luật khác ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn:
Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong
quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống giá
trị, truyền thống, thị hiếu - những đặc tính của dân tộc. Như vậy định nghĩa này, không
chỉ thể hiện các giá trị truyền thống do con người sáng tạo trong quá khứ mà cả trong
hiện tại nhưng mang đặc tính riêng của từng quốc gia, dân tộc. [30, tr.8]
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chia sẻ định nghĩa sau đây về văn hóa:
“Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhờ
lao động và hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và phát triển con
người, nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội”
[7, tr.81-81].
7
Từ những quan niệm về QLNN về văn hóa có thể đúc kết lại rằng: QLNN về
văn hóa là “Sự quản lý của một Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của
quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và các cơ
chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa” [30, tr.9].
Về bản chất: QLNN về văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều
hành của nhà nước, làm cho văn hóa phát triển theo hướng có ích cho con người,
giúp cho xã hội không ngừng đi lên.
“QLNN về văn hóa có thể hiểu theo nghĩa rộng, bao quát các hoạt động quản
lý của cả bộ máy nhà nước, bao gồm hoạt động lập pháp của Quốc hội, hoạt động
hành pháp của Chính phủ và các tổ chức hành chính địa phương và hoạt động tư
pháp của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân.
Tuy nhiên thông thường, QLNN về văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là
hoạt động quản lý của các cơ quan hành pháp, của các tổ chức hành chính nhà nước
từ Trung ương đến địa phương trong lĩnh vực văn hóa” [30, tr.9].
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hóa
Khác với QLNN trên các lĩnh vực khác với ý nghĩa là sự định hướng lập kế
Thiện, Mỹ, việc QLNN về văn hóa sẽ giúp ích cho con người, giúp cho xã hội, cho
nhân loại ngày càng phát triển đúng với quy luật tự nhiên.
Thứ năm, “QLNN về văn hóa theo nghĩa hẹp là quản lý cái phần tĩnh, cái bề
nổi còn quản lý phát triển văn hóa là quản lý cái phần động, phần chìm, cái phần
nảy sinh, tương tác trong sự vận động của đời sống văn hóa. Theo nghĩa rộng, nếu
xem xét văn hóa là tổng thể những giá trị mà con người đã sáng tạo và tích lũy trong
quá trình hoạt động thực tiễn nhằm cải biến tự nhiên, xã hội và bản thân thì quản lý
phát triển văn hóa mới là chức năng đích thực của QLNN về văn hóa” [ 30, tr.10].
QLNN về văn hóa về thực chất là sự tác động vào quá trình hình thành và vận
động của hệ giá trị theo những mục tiêu định sẵn, nhưng vẫn có sự chuyển đổi dưới
tác động của không gian, thời gian và chủ thể đối với hệ giá trị vốn đã ổn định.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, là năng lực sáng
tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người, là trụ cột phát triển bền vững của mỗi
quốc gia, dân tộc và nhân loại.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, văn hóa càng được khẳng định, có vai
trò quan trọng, nhất là trong điều tiết, cân bằng sự phát triển của đất nước, không để
tốc độ sự phát triển nhanh, dẫn tới những hệ lụy khó lường về văn hóa và cả về kinh
9
tế, xã hội, v.v.v.... Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa
đóng vai trò rất quan trọng. Một quốc gia có nền tảng văn hóa hòa nhập và phát
triển thì nhân dân phát huy được sức sáng tạo, bản sắc văn hóa và sức mạnh khối
đại đoàn kết của toàn dân tộc.
Thứ nhất, “trên phương diện vĩ mô, QLNN về văn hóa sẽ góp phần định
hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ
trương, đường lối văn hóa của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục tiêu, bản
chất của văn hóa dân tộc” [ 30, tr.11].
QLNN về văn hóa, chính văn hóa trở thành một lĩnh vực có giá trị kinh tế, mang lại
lợi nhuận, góp phần nâng cao đời sống người dân, ổn định an ninh xã hội và văn
hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế - xã hội chứ
không đơn thuần của một lĩnh vực bị xem là chủ yếu mang chức năng tuyên truyền
và giáo dục.
1.2. Nội dung, và phương pháp quản lý nhà nước về văn hóa
1.2.1. Nguyên tắc quản lý nhà nước về văn hóa
Nguyên tắc QLNN về văn hóa là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo tổ chức
và hoạt động QLNN trên lĩnh vực văn hóa theo một thể thống nhất.
QLNN về văn hóa phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Đảng lãnh đạo hoạt động văn hóa thông
qua các quan điểm, chủ trương, chính sách thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết,
chỉ thị; thông qua việc xây dựng bộ máy, đội ngũ cán bộ của Đảng tham gia vào bộ
máy chính quyền nhà nước.
Thứ hai, nguyên tắc Nhà nước quản lý. Nguyên tắc này thể hiện qua việc thực
hiện quyền lực của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa thể hiện qua Hiến pháp, luật và
các văn bản dưới luật để quản lý, xây dựng bộ máy QLNN từ Trung ương đến địa
phương, xây dựng cơ chế chính sách, bộ máy cán bộ công chức, viên chức nhà nước
để thực thi các nhiệm vụ về văn hóa.
Thứ ba, nguyên tắc nhân dân làm chủ. Nhân dân làm chủ hoạt động văn hóa
thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các đoàn thể chính trị xã hội…từ
đó nhân dân tham gia xây dựng, đóng góp và giám sát việc thực hiện công tác quản
lý văn hóa của nhà nước.
Thứ tư, nguyên tắc phân định quản lý hành chính và quản lý sự nghiệp văn
hóa. Nguyên tắc này thể hiện ở sự phân định rõ chức năng quản lý hành chính nhà
nước về văn hóa thông tin, bộ, vụ, cục, UBND tỉnh, sở, phòng…quản lý bằng luật
11
12
Bên cạnh đó Nhà nước còn thực hiện chính sách bảo trợ vật chất ở mức độ khác
nhau cho những loại hình văn hoá nghệ thuật không tự tồn tại và phát triển trong
quan hệ kinh tế thị trường như sân khấu tuồng cổ, nghệ thuật chèo...Tuy nhiên, để
tạo điều kiện cho mọi công dân có quyền bình đẳng trong nghiên cứu khoa học kỹ
thuật và sáng tạo nghệ thuật thì phải được quy định rõ trong luật” [ 30, tr.14].
Ví dụ, các Điều 60, 62 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội phát triển
văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của
Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu
thông tin của Nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; “Nhà
nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển,
chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm
quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”.
- Trong QLNN về văn hóa - xã hội, “Nhà nước ban hành các chính sách nhằm
ổn định trật tự xã hội, giữ gìn những nét đẹp của văn hóa truyền thống, xây dựng
nếp sống văn hóa mới” [30,tr.15].
Bên cạnh, Nhà nước cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định những
khuôn mẫu ứng xử trong xã hội như Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn
nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; Nghị định
số 110/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 của Chính phủ quy định về quản lý và tổ chức
lễ hội; hay Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 09/02/2018 của Thủ tướng chính phủ về
“Đâỷ mạnh thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang”.
- Trong QLNN về di sản văn hóa, “Nhà nước ban hành các chính sách và pháp
luật để phát triển sự nghiệp, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa” [ 30,tr.15].
Luật Di sản văn hóa năm 2001 là một văn bản pháp lý quan trọng đối với việc
áp dụng và thực hiện pháp luật để gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc.
địa phương và thông tin công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, phối
hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng liên quan xử lý vi phạm, thực hiện nghiêm
minh, đúng quy định pháp luật, chấn chỉnh kịp thời các hành vi, vi phạm, đặc biệt
chú trọng một số lĩnh vực di sản văn hóa, lễ hội và các hoạt động kinh doanh dịch
vụ văn hóa. Thông qua thanh tra, kiểm tra để nâng cao vai trò QLNN cũng như ý
thức chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động văn hóa.
14
1.2.2.4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tổng kết đánh giá,thi đua khen thưởng
trong lĩnh vực văn hóa
Trong QLNN trên bất cứ lĩnh vực nào cũng có khiếu nại và tố cáo, bởi vì
thông qua QLNN mọi hoạt động có liên quan của con người đều được pháp luật
điều chỉnh hành vi nhằm đạt được hành vi chuẩn mực nhất. Lĩnh vực văn hóa cũng
tồn tại những khiếu nại, tố cáo trong quá trình thực thi pháp luật. Vì vậy, Nhà nước
ban hành hệ thống các luật và các văn bản quy phạm dưới luật để quản lý và giải
quyết khiếu nại tố cáo của công dân và tổ chức nói chung, trong đó có khiếu nại, tố
cáo liên quan đến lĩnh vực văn hóa.
“Hiện tại, để giải quyết khiếu nại, tố cáo có Luật tiếp công dân 2013, Luật
khiếu nại 2011, Luật tố cáo 2018, Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật sở hữu trí
tuệ, Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Du lịch, Luật Thể dục thể thao, Luật
Quảng cáo, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật bình đẳng giới, Pháp lệnh
Thư viện...[ 30, tr. 17].
Căn cứ vào hệ thống pháp luật này, các cơ quan chức năng trong lĩnh vực văn
hóa, cơ quan QLNN về văn hóa có trách nhiệm giải quyết theo thẩm quyền những
nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm khi có sai phạm xảy ra. Ví dụ,
tại Điều 68, chương V, Luật di sản văn hóa 2001 quy định: “1. Tổ chức, cá nhân có
quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc thi hành pháp luật về di sản
nhân và tổ chức trong lĩnh vực văn hóa nhằm đạt được những hành vi xử sự cần
thiết. Hình thức QLNN về văn hóa do pháp luật quy định về thẩm quyền trình tự thủ
tục. Vì vậy việc quyết định sử dụng hình thức QLNN nào, các chủ thể quản lý phải
căn cứ vào các quy định liên quan của pháp luật [21, tr48 ].
- QLNN về văn hóa được thể hiện ra bên ngoài dưới nhiều hoạt động cụ thể
khác nhau, tuy nhiên hình thức QLNN chỉ là những nhóm hoạt động có cùng nội
dung, tính chất và phương thức tác động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản
lý tác động lên cá nhân, tổ chức, cơ quan hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, ví dụ,
Nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tiến hành các hoạt động tổ chức
trực tiếp đến lĩnh vực văn hóa...
“Phương pháp QLNN về văn hóa là cách thức thực hiện quyền lực nhà nước
trong lĩnh vực văn hóa. Những phương pháp quản lý của các cơ quan hành chính
nhà nước được thể hiện dưới những hình thức QLNN nhất định và được tiến hành
trong giới hạn do pháp luật quy định” [ 30, tr.19].
16
Khác với các tổ chức chính trị, chính trị xã hội khi thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của mình các chủ thể QLNN về văn hóa đại diện cho nhà nước, mang quyền lực
nhà nước, vì vậy khác với phương pháp quản lý các tổ chức xã hội chủ yếu là thuyết
phục, phương pháp QLNN về văn hóa không chỉ là thuyết phục đối tượng quản lý
mà còn thực hiện bằng mệnh lệnh hành chính thông qua văn bản, bằng sự cưỡng
bức thông qua các biện pháp cưỡng chế do luật định.
- Quản lý của cơ quan hành chính nhà nước được thể hiện bằng các hình thức
ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thực hiện các hoạt động khác mang tính
pháp lý.
- Phương pháp QLNN về văn hóa phải được tiến hành trong khuôn khổ của
pháp luật, nhất là những phương pháp có tính chất hạn chế quyền của đối tượng
quản lý. Những phương pháp này về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng được
trong quan hệ giữa các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể nhân dân trong quản
lý điều hành, thực hiện nhiệm vụ.
Thứ tư, phải tăng cường thực hiện kiểm tra, giám sát, kịp thời, uốn nắn những
lệch lạc, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm của các tổ chức, cá nhân trong
hoạt động văn hóa. Trong vấn đề này cần coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn hơn
là để những sự việc tiêu cực xảy ra rồi mới xử lý. Hoàn thiện và bổ sung văn bản
pháp luật làm cơ sở pháp lý là điều kiện quan trọng để điều hành việc kiểm tra,
giám sát các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ văn hóa.
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về văn hóa
1.3.1. Chính sách pháp luật
1.3.1.1. Chính sách
Chính sách văn hóa là những cơ chế ưu tiên của nhà nước để phát triển một
lĩnh vực văn hóa hay một đối tượng văn hóa nào đó trong xã hội, ví dụ: Chính sách
phát triển văn hóa vùng đồng bào biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, chính sách ưu tiên
cho văn nghệ sĩ, chính sách bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống...chính vì vậy
tại một thời gian nhất định, giai đoạn nhất định, một địa phương cụ thể, chính sách
quản lý ảnh hưởng rộng lớn đến sự phát triển hay suy thoái của văn hóa. Ví dụ,
chính sách vĩ mô của Nhà nước về văn hóa, trong Hiến pháp năm 2013: Điều 60
“Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”; “Nhà nước, xã hội
phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành
mạnh của nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng
18
nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”;
“Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh
phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có
tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân”.
1.3.1.2. Pháp luật
Chính sách của Nhà nước về văn hóa thể hiện trong các văn bản pháp luật và
các chương trình mục tiêu, chiến lược phát triển văn hóa.
- Các Luật và Pháp lệnh về văn hóa, như: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Di sản văn
hóa, Luật Xuất bản, Luật Điện ảnh, Luật Quảng cáo, Pháp lệnh Thư viện.
- Các chương trình mục tiêu và cuộc vận động như: Chương trình mục tiêu
bảo tồn và tôn tạo di tích danh thắng; Chương trình mục tiêu chấn hưng điện ảnh;
Chương trình mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; Cuộc vận động “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; Một số chương trình liên quan khác như:
Chương trình 135; Chương trình xóa đói giảm nghèo; Chương trình xây dựng nông
thôn mới..., như vậy pháp luật tác động trực tiếp và ảnh hưởng đến hoạt động
QLNN về văn hóa ở các phương diện sau:
Thứ nhất, pháp luật thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong lĩnh vực
văn hóa, làm cho chủ trương, đường lối trở thành ý chí và mục tiêu của toàn xã hội.
Pháp luật luôn phản ánh chủ trương, đường lối của Đảng, thể chế hóa chủ trương,
đường lối đó thành các quy định chung thống nhất trên quy mô toàn xã hội. Vì vậy
việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức tuyên truyền và thực hiện áp
dụng pháp luật phải thấm nhuần các quan điểm của Đảng.
“Trong thực tiễn cho thấy, nếu sử dụng tốt công cụ pháp luật thì chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống. Thông qua pháp
luật, các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng được triển khai một cách
nhanh chóng, cụ thể, rộng lớn hơn” [ 30, tr. 20].
Thực tiễn pháp lý là môi trường để kiểm nghiệm tính đúng đắn, có hiệu quả
chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng. Nhà nước ban hành các văn bản pháp
luật, ấn định những khuôn mẫu hành vi, những mô hình xử sự với các quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể trong xã hội đối với việc QLNN về văn hóa của một quốc
gia. Do đó pháp luật không chỉ là quy phạm hóa chính sách của Nhà nước về văn
hóa truyền thống mà còn đề cao và làm giàu thêm giá trị của bản sắc văn hóa dân
tộc. Bắt đầu từ quan điểm, chủ trương, đường lối của một giai cấp, một chính đảng,
các giá trị văn hóa khi được luật hóa đã trở thành quan niệm, tiêu chí và yêu cầu