Luận văn thạc sĩ Tín hiệu thẩm mĩ nhân vật dế mèn - Pdf 58

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

TÍN HIỆU THẨM MĨ NHÂN VẬT DẾ MÈN
TRONG TÁC PHẨM “DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÍ”- TÔ HOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Kim Anh

HẢI PHÒNG - 2016


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i
LỜI CAM ĐOAN


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................. ii
MỤC LỤC....................................................................................................... iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.......................................................................... v
DANH MỤC BẢNG....................................................................................... vi
MỞ ĐẦU......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN .........8
1.1. Vài nét về truyện đồng thoại và nhân vật truyện đồng thoại ................... 8
1.1.1. Vài nét về truyện đồng thoại ................................................................. 8
1.1.2. Nhân vật truyện đồng thoại................................................................... 9
1.2. Một số vấn đề về tín hiệu thẩm mĩ........................................................... 14
1.2.1. Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ................................................................... 14
1.2.2. Đặc trưng của tín hiệu thẩm mĩ............................................................. 16
1.2.3. Cơ chế tạo nghĩa thẩm mĩ bằng phương thức ẩn dụ ............................. 23
1.3. Nhà văn Tô Hoài và tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí”............................ 25
1.3.1. Tô Hoài với thể loại truyện đồng thoại ................................................. 25
1.3.2. Sơ lược về tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí“........................................ 26
1.4. Tiểu kết chương 1..................................................................................... 28
CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT TÍN HIỆU
THẨM MĨ NHÂN VẬT DẾ MÈN TRONG TÁC PHẨM “ DẾ MÈN PHIÊU
LƯU KÍ” CỦA TÔ HOÀI............................................................................... 30
2.1. Dẫn nhập .................................................................................................. 30
2.2. Khảo sát các hình thức ngôn ngữ biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ nhân vật Dế
Mèn trong tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí”................................................... 30
2.2.1. Biến thể miêu tả là tên gọi của nhân vật Dế Mèn ................................. 31
2.2.2. Biến thể miêu tả là từ ngữ biểu thị ngoại hình của nhân vật Dế Mèn......... 36



- Cbh

- Cái biểu hiện

- Cđbh

- Cái được biểu hiện

- DMPLK

- “Dế Mèn phiêu lưu kí”

- HV

- Hành vi

- HVMR

- Hành vi mở rộng

- HVPT

- Hành vi phụ thuộc

- TH

- Tín hiệu

- THTM


Danh từ/cụm danh từ làm tên gọi THTM nhân

31

vật Dế Mèn
2.2

Danh từ /cụm danh từ gần nghĩa biểu đạt tên

32

gọi THTM nhân vật Dế Mèn (Tên gọi khác của
Dế Mèn)
2.3

Từ ngữ miêu tả ngoại hình của nhân vật Dế

36

Mèn

2.4

Các sự kiện quan trọng trong hành trình của

39

nhân vật Dế Mèn
2.5

sâu nặng với Hà Nội, mảnh đất ngàn năm văn hiến. Văn chương Tô Hoài có
sức hấp dẫn lớn đối với với đông đảo nhiều thế hệ độc giả. Ông đặc biệt gặt
hái thành công ở những tác phẩm viết về đề tài loài vật. Tác phẩm mang ông
đến gần với độc giả nhất chính là tập truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí” (DMPLK)
sáng tác năm 1941. Qua tác phẩm, Tô Hoài đã xây dựng nên một thế giới loài
vật phong phú, đẹp đẽ, ấn tượng nhất là nhân vật Dế Mèn với cách cảm, cách
nghĩ đặc biệt về cuộc sống. Có thể thấy vùng đất thẩm mĩ xanh tươi trong


2
sáng tác của Tô Hoài chính là tập truyện DMPLK – tác phẩm đã làm say sưa
bao thế hệ bạn đọc suốt hơn 70 năm qua.
1.3. Tác phẩm DMPLK được đưa vào giảng dạy và học tập chính khóa
trong chương trình Ngữ văn THCS từ đầu lớp 6 đã nhiều thập kỉ nay. Đây có
lẽ cũng là dụng ý của những người thực hiện chương trình khi mở ra thế giới
văn chương cho học sinh THCS ở năm học lớp 6 bằng một tác phẩm đồng
thoại đậm chất dân gian và giàu triết lí. Từ góc độ của người giáo viên THCS,
chúng tôi nhận thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu nhân vật trung tâm
trong tác phẩm này dưới góc độ vận dụng lí thuyết THTM là cách làm rất cần
thiết trong việc phát triển tư duy ngôn ngữ văn học cho học sinh, nâng cao
năng lực chuyên môn cho giáo viên.
1.4. Nghiên cứu về THTM trong những năm gần đây được đông đảo
các nhà ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm. Nhiều công trình khoa học đã vận
dụng lí thuyết này vào nghiên cứu, khảo sát THTM trong thơ ca, ca dao Việt
Nam. Tuy nhiên, sự vận dụng lí thuyết này trong văn xuôi thì hầu như còn rất
hạn chế. Đặc biệt, việc xem xét tìm hiểu một hình tượng nhân vật văn học như
một THTM trong tác phẩm văn xuôi, nhất là trong truyện đồng thoại Việt
Nam nói chung, truyện DMPLK của Tô Hoài nói riêng thì chưa có công trình
nghiên cứu nào thực hiện.
Trên đây là những lí do cơ bản để chúng tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề

án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Đại học
quốc gia TP. Hồ Chí Minh,...
Dưới góc độ văn chương, các nhà nghiên cứu đều thống nhất đánh giá
DMPLK là tác phẩm nổi tiếng sớm nhất trong đời viết văn của Tô Hoài, thể
hiện tài quan sát tỉ mỉ thế giới sinh vật nhỏ bé, tài năng quan sát tinh tế, óc
nhận xét sắc sảo, hóm hỉnh và tình yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên tha thiết
của tác giả...
2.2. Nghiên cứu tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” dưới góc độ ngôn ngữ
Dưới sự phát triển rất nhanh của ngôn ngữ học hiện đại, tác phẩm
DMPLK trong những năm gần đây đã được nghiên cứu từ góc nhìn ngôn ngữ


4
học, tiêu biểu phải kể đến một số công trình: Ngôn ngữ khẩu ngữ trong tác
phẩm của Tô Hoài của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga (2000). Tác giả đã tiến
hành khảo sát số lượng các từ thuộc khẩu ngữ, phân tích những nhân tố quy
định sự tồn tại của chúng, đồng thời phân loại và khẳng định vai trò tích cực
của việc sử dụng từ thuộc khẩu ngữ trong các tác phẩm của Tô Hoài. Với
Cách xưng gọi trong DMPLK (2001), tác giả Tạ Văn Thông đã chỉ ra sự khéo
léo, tài tình trong việc sử dụng hai hệ thống từ ngữ xưng gọi của các nhân vật
và của người kể chuyện trong DMPLK, và nhận xét: “Những cách xưng gọi
như vậy trong truyện đã góp phần tạo nên các hoạt cảnh sâu sắc, làm tôn lên
những nét cá tính trong những mối quan hệ giữa nhân vật với nhân vật, giữa
nhân vật với hoàn cảnh, đồng thời cả người kể và độc giả... để rồi cuối cùng
tạo nên sự cuốn hút đối với người đọc bằng giọng điệu riêng cùng sự biến hoá
muôn màu của cuộc sống được diễn đạt bằng lời”...Gần đây nhất là công trình
nghiên cứu: Hội thoại trong Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài, Luận văn
Thạc sĩ của tác giả Giáp Thị Thủy, Trường ĐHSP, Đại học Thái Nguyên...
Chúng tôi nhận thấy, tác phẩm DMPLK phần nhiều được xem xét ở
góc độ văn chương, tiếp cận tập truyện ở góc độ ngôn ngữ học còn chưa

4.2.1. Khảo sát các hình thức ngôn ngữ biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ nhân
vật Dế Mèn trong tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí”
4.2.2. Ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu thẩm mĩ nhân vật Dế Mèn trong
tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí”
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi đã sử dụng phối hợp những
phương pháp, thủ pháp nghiên cứu chính sau:
* Phương pháp nghiên cứu tổng kết những vấn đề lí luận của ngôn ngữ
học truyền thống và hiện đại có liên quan kết hợp với các thành tựu nghiên
cứu về lí luận văn học, thi pháp học…để tiếp cận và luận giải đối tượng
nghiên cứu.
* Phương pháp thống kê, phân loại: phương pháp này được chúng tôi
sử dụng để tìm ra đầy đủ số lượng các biểu thức ngôn ngữ miêu tả đối tượng


6
nghiên cứu trung tâm là THTM nhân vật Dế Mèn trong tác phẩm. Từ các số
liệu cần thiết đã thu thập được, chúng tôi triển khai phương pháp phân loại
các số liệu theo tiêu chí đã xác định để tìm ra những hình thức biểu đạt khác
nhau của tín hiệu nghệ thuật nhân vật Dế Mèn trong tác phẩm DMPLK.
* Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phương pháp phân tích diễn ngôn
là phương pháp phân tích ngữ nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ gắn với ngữ
cảnh sử dụng. Phương pháp này được áp dụng khi khảo sát sự xuất hiện của
các từ ngữ chỉ nhân vật Dế Mèn cùng với các từ ngữ khác xuất hiện kèm theo
ở những ngữ cảnh khác nhau trong tác phẩm với tư cách là những tín hiệu
thẩm mĩ văn chương thuộc các cấp độ khác nhau, phân tích ý nghĩa của các
biểu thức đó trong từng hoàn cảnh sử dụng, đối tượng sử dụng.
* Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đây là phương pháp quan trọng,
không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học. Phương pháp này giúp chúng tôi
tìm ra những điểm riêng, khác biệt trong việc sử dụng tín hiệu thẩm mĩ nhân


8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Vài nét về truyện đồng thoại và nhân vật truyện đồng thoại
1.1.1. Vài nét về truyện đồng thoại
1.1.1.1. Khái niệm chung về truyện đồng thoại
Khái niệm truyện đồng thoại trong văn học Việt Nam hiện đại vốn
được vay mượn từ Trung Hoa. Ban đầu, đồng thoại được hiểu theo nghĩa
rộng, gồm tất cả mọi tác phẩm có tính kể chuyện cho trẻ em. Về sau, đến thời
Ngũ Tứ, người ta mới xem đồng thoại là văn học huyễn tưởng có tính đặc thù,
trở thành một thể loại độc lập, có địa vị quan trọng trong văn học nhi đồng.
Cách hiểu này được duy trì từ đó cho đến nay.
Đồng thoại là một thể loại có những đặc trưng riêng biệt về nội dung và
nghệ thuật. Hầu hết các tài liệu đều cho rằng đồng thoại tràn đầy viễn tưởng.
Từ mây gió tuyết sương, ngày tháng đến trời mây trăng sao, từ côn trùng,
chim, cá, thú dữ đến hoa lá, cỏ cây...đều có thể được nhân cách hóa trở thành
nhân vật có tư tưởng, có tính cách, có hành động và lời nói xuất hiện trong
đồng thoại.
Căn cứ vào những nội dung trên đây, có thể nhận thấy, truyện đồng thoại
(Tonghua) trong cách hiểu của người Trung Hoa thực chất là truyện cổ tích.
1.1.1.2. Một số nghiên cứu về truyện đồng thoại ở Việt Nam
Trong quá trình du nhập vào văn học Việt Nam, khái niệm truyện đồng
thoại đã được quy ước lại, thể hiện cách hiểu đầy sáng tạo, riêng biệt của
người Việt. Danh từ đồng thoại xuất hiện trong Việt ngữ được ghi nhận lần
đầu tiên bởi công trình Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh (Quan hải tùng
thư xuất bản, 1932). Về khái niệm truyện đồng thoại, cho đến nay ở Việt Nam
tồn tại một số nhóm ý kiến chính:
- Nhóm 1: Các bộ từ điển, gồm Từ điển Hán – Việt, Từ điển Tiếng
Việt, Từ điển thuật ngữ văn học... Các bộ Từ điển này đều thống nhất cho
rằng đồng thoại là thể truyện cho trẻ em, trong đó loài vật và các vật vô tri

hiện tượng tự nhiên… và cả những đồ vật vô tri, được khai thác từ nguồn
truyện kể truyền thống hoặc lấy nguyên mẫu có sẵn trong thực tế đời sống.


10
Trước hết, muông thú là nhân vật phổ biến nhất trong truyện đồng
thoại. Từ những loài sống dưới nước đến những loài bay trên trời; từ những
loài vật nuôi tới những loài thú hoang dã...tất cả đều có thể trở thành nhân vật
của truyện đồng thoại. Về thú, có: mèo, chó, trâu, ngựa, dê, voi...Về chim, có:
gà, vịt, bồ câu, quạ, chèo bẻo...Về côn trùng, có: dế, bọ ngựa, cào cào, ong,
ruồi...Về các loài lưỡng cư, có: cóc, ếch, nhái, chẫu chàng... Thế giới nhân
vật trong Dế Mèn phiêu lưu kí là thế giới côn trùng, chim chóc, các loài lưỡng
cư như Dế Mèn, Dế Choắt, Cóc, Nhái, Chẫu Chàng, Bọ Ngựa, Ếch Cốm,
Châu Chấu Voi, Xiến Tóc, Cốc, Bói Cá…
Sau muông thú, đối tượng được tập trung khai thác là cỏ cây, hoa lá.
Các tác giả truyện đồng thoại đã đưa vào tác phẩm của mình những đối tượng
quen thuộc như: hồng nhung, râm bụt, phù dung, mướp, vạn tuế... bởi đó là
hiện thân của cái đẹp hiện hữu trong cuộc sống.
Các đồ vật được chọn làm nhân vật trong truyện đồng thoại cũng đều là
những đồ vật quen dùng, gắn bó trong đời sống sinh hoạt của các em như:
thước kẻ, bút chì, quyển vở, phấn, búp bê...
Ngoài ra, một số hiện tượng tự nhiên như: mây, gió, mặt trời; một số
kí tự , khái niệm như: chữ a, dấu huyền, nốt si, nốt la... cũng đã được xây
dựng thành nhân vật trong truyện đồng thoại của Trần Hoài Dương, Xuân
Quỳnh, Phạm Đức... loại nhân vật này không nhiều nhưng sự xuất hiện của
chúng làm cho thế giới nhân vật truyện đồng thoại trở nên thật sự phong phú,
hấp dẫn.
Nhân vật con người cũng có mặt trong truyện đồng thoại Việt Nam
hiện đại.
Chẳng hạn như thằng Lớn, Thằng Bé, thằng Xược, Cai Vườn... trong

Một là, biện pháp đặt tên nhân vật. Nhân vật được gọi tên theo danh từ
chung, chẳng hạn, những những đồ dùng quen thuộc hàng ngày đã trở thành
nhân vật trong truyện đồng thoại: Thước Kẻ, Bút Mực, Bút Chì, Tẩy...trong câu
chuyện Vì sao Thước Kẻ chui ra khỏi cặp của tác giả Nguyễn Kiên. Ở đó, anh
chàng Thước Kẻ là bạn với anh Bút Mực, chị Bút Chì và cô Tẩy.


12
Cũng có thể gọi tên nhân vật dựa theo một đặc điểm nào đó của đối
tượng: gọi theo đặc điểm ngoại hình, như: Gà Nhép, Chuột Lé, Ếch Xanh,
Châu Chấu Voi, Dế Choắt...; gọi theo chức vụ, nghề nghiệp, như: Huyện
Chạch, Lục Lươn, Khán Mè, Ếch Cốm Đại Vương...; gọi theo thứ bậc, quan
hệ như: Thỏ mẹ, Thỏ anh, bác Gấu, chị Cào Cào, anh Gọng Vó...Tên nhân
vật, ngoài ý nghĩa định danh bao giờ cũng bao hàm một lượng thông tin nhất
định về thái độ và tình cảm của nhà văn với nhân vật.
Hai là, biện pháp miêu tả ngoại hình trong xây dựng nhân vật đồng
thoại. Truyện đồng thoại có sự chú trọng nhất định tới phương diện miêu tả
ngoại hình nhân vật, muốn qua ngoại hình để làm nổi bật thế giới nội tâm và
tính cách nhân vật. Do quy mô của tác phẩm và tâm lí tiếp nhận của đối tượng
trẻ em nên việc miêu tả ngoại hình chủ yếu được thực hiện theo lối chấm phá,
ngắn gọn. Theo đó, các tác giả chỉ tập trung vào một vài nét tiêu biểu của
nhân vật, rồi dùng các biện pháp, từ ngữ thích hợp để miêu tả, làm cho chúng
hiện ra như màu sắc vốn có và mang tính biểu cảm. Có thể dẫn ra những chi
tiết miêu tả nhân vật Dế Mèn trong tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” của Tô
Hoài: Hình ảnh một chàng Dế thanh niên cường tráng hiện ra sắc nét chỉ qua
vài nét chấm phá sắc sảo: đôi càng mẫm bóng; cái vuốt nhọn hoắt; đôi cánh
dài; đầu to; hai răng đen nhánh; sợi râu dài và uốn cong... So với truyện kể
truyền thống, việc miêu tả ngoại hình và nội tâm nhân vật là một bước tiến
lớn của nghệ thuật kể truyện hiện đại.
Ba là, xây dựng hệ thống hành động, thông qua hành động để làm

may lâu đời này. Tình huống này đi ngược với mục đích phiêu lưu của hai
anh em. Để giải thoát cho nhân vật của mình, tác giả buộc phải nghĩ ra tình
huống: Dế Trũi bị bọn Châu Chấu Voi bắt đi đâu mất. Nhờ tình huống này mà
Mèn có thể đường hoàng rời khỏi vùng cỏ may, cũng từ đây tính cách nhân
vật, tình bạn cao đẹp của cặp đôi nhân vật này càng được bộc lộ rõ nét.
Năm là, hình tượng nhân vật trong truyện đồng thoại mang tính biểu
tượng về con người. Đó là kết quả của việc sử dụng biện pháp nhân hóa
vào việc miêu tả loài vật. Nhân cách hóa là một thủ pháp nghệ thuật truyền
thống, nảy sinh từ xa xưa và được vận dụng rộng rãi trong văn học nghệ thuật,


14
nhất là văn học cho thiếu nhi vì tính hấp dẫn của nó tạo ra sự thích ứng rất cao
phù hợp với tâm lí trẻ em. Văn hào Pháp Antole France từng nói: “Trẻ em và
những loài vật rất hiểu nhau. Hòn đá biết nói cho những người nào biết nghe”.
Với cái nhìn hồn nhiên của mình, nhi đồng rất giàu trí tưởng tượng, các em
thấy cái gì cũng có hồn người, từ con chó, con mèo, con chim, con cá đến cỏ
cây hoa lá và cả những đồ vật không sức sống như cái bàn, cái ghế, viên gạch,
hòn bi… Trên thế giới và ở Việt Nam đều đã có rất nhiều tác phẩm thành
công viết về loài vật. Chúng ta không khó để có thể kể ra câu chuyện rất tiêu
biểu về chú Ếch Ping của S.Agold, Dế Mèn của Tô Hoài, những trang truyện
như thế đã làm say mê biết bao thế hệ bạn đọc, làm nên sức sống của văn học
đồng thoại.
Hơn nữa, nghệ thuật nhân hóa buộc nhà văn phải xây dựng xã hội loài
vật theo “mô hình xã hội” con người. Mỗi nhân vật loài vật, theo đó là một
hình ảnh khách quan của thế giới con người... thể hiện quan niệm về cuộc
sống của tác giả. Các nhân vật - con vật Dế Mèn, Dế Chũi, Xiến Tóc, Bọ
Ngựa, Ếch Cốm… trong “Dế Mèn phiêu lưu kí” đều mang cốt cách của từng
loại người trong xã hội Việt Nam. Ở mỗi con vật ấy, Tô Hoài đã lựa chọn
những đặc điểm tiêu biểu của giống loài rồi gán cho những đặc điểm điển


Cđbh (YNTM)

Từ sơ đồ trên có thể thấy, cả hợp thể cbh và cđbh tạo thành TH ngôn
ngữ thông thường trở thành cbh cho một cđbh mới là YNTM của THTM
trong tác phẩm văn chương. Bới vậy, trong văn chương không thể đồng nhất
phương tiện – THTM với TH ngôn ngữ thông thường được sử dụng làm chất
liệu của tác phẩm. Sự khác biệt này đúng như Ch.bally đã nói: “Giữa cách
dùng ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ của nhà văn có một vực thẳm không
vượt qua được” . Đáng chú ý hơn, nếu như mối quan hệ giữa cbh và cđbh
trong ngôn ngữ tự nhiên có thể là võ đoán thì mối quan hệ giữa cbh và cđbh
trong THTM lại luôn luôn có lí do và là lí do liên hội. TH ngôn ngữ tự nhiên
muốn trở thành THTM trong tác phẩm văn chương thì phải trải qua một quá
trình khái quát hóa nghệ thuật mang tính biểu trưng thì mới đạt được giá trị
thẩm mĩ nhất định.


16
Trong luận văn này, chúng tôi đồng thuận cách hiểu về THTM của tác
giả Phạm Thị Kim Anh: “THTM là TH thuộc hệ thống các phương tiện biểu
hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực,
của tâm trạng (những chi tiết, những sự vật, hiện tượng, những cảm xúc thuộc
đời sống hiện thực và tâm trạng), những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của
chất liệu ngôn ngữ với văn chương; các yếu tố của chất liệu màu sắc với hội
họa; âm thanh có nhịp điệu với âm nhạc...) được lựa chọn và sáng tạo trong
tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ” [7,tr.24]. Một THTM cần hội đủ
các điều kiện: 1.cbh: hình thức vật chất (chất liệu) nghệ thuật; 2.cđbh:
YNTM; 3.chủ thể sáng tạo bao gồm thế giới phát ngôn (tạo ngôn, tác giả), thế
giới tiếp nhận (thụ ngôn-công chúng bạn đọc); 4.thuộc về một hệ thống THTM
nhất định [35, tr.29].

Một là, cấp cơ sở: THTM đơn ứng với một chi tiết, một nhân vật, hiện
tượng thuộc thế giới khách quan, ví dụ: mặt trời, con thuyền, nỗi nhớ...Đó là
những THTM vi mô hay THTM cơ sở có chức năng tham gia cấu tạo nên
những THTM ở cấp độ cao hơn trong tác phẩm. THTM đơn được tạo nên
bằng các từ hay cụm từ, có thể là những từ ngữ, thành ngữ, điển cố hay những
hình ảnh đơn lẻ mang YNTM. Tác giả Đỗ Hữu Châu viết: “Phương tiện sơ
cấp của văn học là các THTM. Rồi cái THTM đó mới được thể hiện bằng các
TH ngôn ngữ thông thường...” [dẫn theo 7, tr.24].
Hai là, cấp độ xây dựng: THTM phức. Là loại THTM vĩ mô ứng với
nhiều sự vật, hiện tượng...được xây dựng từ những TH đơn nhưng ý nghĩa
không phải là kết quả của phép cộng đơn giản những YNTM của các THTM
đơn. Loại TH phức hợp này được tạo ra để biểu biện những YNTM mới đa
dạng, phức tạp trong tác phẩm văn chương. Nói cách khác, THTM phức là tổ
hợp của nhiều THTM đơn, nhiều ý nghĩa thẩm mĩ phức tạp hơn ý nghĩa thẩm
mĩ của TT đơn. Đó có thể là những hình tượng văn học, hình tượng nhân vật
trong tác phẩm, kể cả một tác phẩm đồ sộ. Theo đó, hình tượng nhân vật Dế
Mèn trong “Dế Mèn phiêu lưu kí” cũng được coi là một THTM và thuộc loại
THTM phức. THTM này được kiến tạo từ nhiều THTM đơn, THTM phức


18
hợp thuộc nhiều cấp độ lớn nhỏ khác nhau. Chẳng hạn, có THTM đơn như tên
gọi nhân vật: Mèn, Choắt, Chũi, Cốc, Châu Chấu…có THTM phức như cuộc
phiêu lưu bất ngờ, tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa để được làm Chánh phó thủ
lĩnh tổng Châu Chấu...
c. Tính tác động
Đặc tính này có cơ sở từ bản chất của tín hiệu như ý kiến của
P.Guiraud: “Một tín hiệu là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi
ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [dẫn theo 16, tr.48].
Hiệu quả tác động của THTM trước hết là hình thành nên những hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status