Thiết kế một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi (2017) - Pdf 58

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

KHUẤT THỊ THANH KIM

THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC
TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO
TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin trân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo khoa giáo dục mầm non và các thầy cô giáo trong tổ
bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp em trong quá trình học tập
tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo – T.S. Đỗ Thị Thu
Hương - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập,
nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế.
Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để
đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Khuất Thị Thanh Kim

1.2.2. Phân tích kết quả khảo sát..................................................................... 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1.................................................................................. 30
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN
TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI ........................................................... 35
2.1. Nguyên tắc lựa chọn và tổ chức trò chơi học tập cho trẻ mẫu giáo........ 35
2.1.1. Nguyên tắc lựa chọn trò chơi học tập ................................................... 35
2.1.2. Tổ chức trò chơi học tập ....................................................................... 35
2.2. Một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn..... 37


2.2.1. Trò chơi: “Ai giỏi nhất” ........................................................................ 37
2.2.2. Trò chơi: “Thi xem ai nói đúng”........................................................... 38
2.2.3. Trò chơi: “Kể đủ ba thứ”....................................................................... 38
2.2.4. Trò chơi: “Hãy nói từ trái nghĩa” .......................................................... 39
2.2.5. Trò chơi: “Cái gì đã thay đổi”............................................................... 40
2.2.6. Trò chơi: “Người đưa thư”.................................................................... 41
2.2.7. Trò chơi: “Người chăn nuôi giỏi” ......................................................... 42
2.2.8. Trò chơi: “Cái túi bí mật” ..................................................................... 43
2.2.9. Trò chơi: “Tôi muốn, tôi muốn” ........................................................... 43
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2.................................................................................. 45
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................................................... 46
3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................. 46
3.2. Địa điểm và phạm vi thử nghiệm............................................................. 46
3.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm................................................... 46
3.4 Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 60
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3.................................................................................. 61
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM.......................................... 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 64




đó, trò chơi học tập là một trò chơi được các giáo viên mầm non sử dụng khá
nhiều trong quá trình dạy học cho trẻ. Khi tham gia vào trò chơi học tập trẻ sẽ
lĩnh hội được ở cả hai mặt: vui chơi và nhận thức. Trẻ sẽ vừa được vui chơi,
vừa được lĩnh hội những kiến thức có trong trò chơi mà không cảm thấy bị
căng thẳng hay gò bó. Chính vì vậy mà trò chơi học tập được sử dụng vừa là
phương pháp dạy học vừa là hình thức tổ chức dạy học cho trẻ mẫu giáo với
phương châm “học mà chơi, chơi mà học”.
Hiện nay, ở các trường mầm non, việc sử dụng trò chơi vào hình thức dạy
học rất phổ biến. Tuy nhiên, thường thì các trò chơi sẽ được phục vụ cho các
hoạt động học như: hoạt động làm quen môi trường xung quanh, hoạt động
làm quen với các biểu tượng toán, hoạt động tạo hình… còn ở hoạt động phát
triển ngôn ngữ cho trẻ còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi học
tập vẫn phổ biến nhưng không được giáo viên chú trọng vào các hoạt động
học. Và trò chơi học tập kích thích sự phát triển vốn từ ở trẻ còn khá ít,
thường thì công việc phát triển vốn từ chỉ được thực hiện khi cô trao đổi với
trẻ về một điều gì đó, hoặc thông qua những cuộc đối thoại giữa trẻ với người
lớn. Giáo viên sẽ ít khi nào để ý đến việc trẻ phát ra âm thanh của từ và hiểu
ý nghĩa của từ đó có đúng hay không. Trong khi đối với trẻ ở lứa tuổi mẫu
giáo, công việc phát triển vốn từ là một điều hết sức quan trọng và đáng được
quan tâm ở các trường mầm non.
Chính vì những lí do trên, chúng tôi hiểu rõ nhiệm vụ cơ bản của việc phát
triển vốn từ cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn, cũng như vai trò to
lớn của trò chơi học tập trong việc phát triển vốn từ cho trẻ và mạnh dạn
nghiên cứu đề tài: “Thiết kế một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”.


2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trẻ em luôn giành được nhiều sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã

câu đố theo chủ đề, trẻ 5 – 6 tuổi.” [2].
Trong cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non” [9], tác giả Nguyễn Ánh
Tuyết cũng đã trình bày sự phát triển vốn từ ở từng giai đoạn, lứa tuổi.
Bài “Một số khuynh hướng nghiên cứu về mối liên hệ giữa giới và sự phát
triển ngôn ngữ ở trẻ em” của tác giả Nguyễn Thanh Bình đăng trong tạp chí
Ngôn ngữ số 1 năm 2003 cũng đã đề cập đến vốn từ của trẻ về mặt số lượng
cũng như cơ cấu từ loại.
Tạp chí Giáo dục mầm non có rất nhiều bài viết về cách tổ chức, quản lí
những sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên và cán bộ quản lí ngành mầm
non. Trong đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mầm non. Trong tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2006 tác giả Đinh Thị
Uyên có bài dịch tìm hiểu về chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non Hàn Quốc. Đây là một góc nhìn mở cho nền giáo dục mầm non Việt Nam
hiện nay.
Tạp chí Giáo dục mầm non số 01/2009, có bài “Một số biện pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến cũng đề cập tới
việc tạo thói quen nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp với trẻ.
Có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp phát triển ngôn ngữ
nhưng hầu hết các tác giả đưa ra phương pháp chung trong việc phát triển vốn
từ cho trẻ, chưa có tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu vấn đề phát triển vốn từ
cho trẻ thông qua trò chơi học tập. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề
chúng tôi đã tìm hiểu về đề tài “Thiết kế một số trò chơi học tập nhằm phát
triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”.


3.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và thiết kế một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho
trẻ 5-6 tuổi.
4.Đối tượng – phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Một số trò chơi học tập phát triển vốn từ cho trẻ 5-6


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận về thiết kế một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn
từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
1.1.1. Một số vấn đề lí luận về ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm về ngôn ngữ
Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người, có ngôn ngữ và
khả năng sử dụng ngôn ngữ là đặc trưng quan trọng để phân biệt con người và
động vật. Nó là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên
trong xã hội loài người, nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau
những hiểu biết và truyền cho nhau những kinh nghiệm.
Ngôn ngữ mang tính xã hội, ngôn ngữ không chỉ tồn tại cho riêng một cá
nhân một người nào mà cho cả cộng đồng. Ngôn ngữ chính là phương tiện
giao tiếp và là công cụ tư duy của con người. Mặt khác, ngôn ngữ không
mang tính giai cấp, nó ứng xử bình đẳng với mọi người trong xã hội. Ngôn
ngữ giúp cho con người giao tiếp trong mọi hoạt động, giúp con người biểu lộ
cảm xúc, bày tỏ những nguyện vọng của mình với người đối diện.
Dưới góc độ của các nhà sinh lý học, ngôn ngữ là tín hiệu của hệ thống tín
hiệu thứ hai, hệ thống các đường liên hệ tạm thời, là cơ sở cho tư duy trừu
tượng (theo thuyết phản xạ của Paplốp). Còn đối với các nhà ngôn ngữ học,
ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các bộ phận: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
Như vậy, ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu đặc biệt, được dùng làm
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và là phương tiện tư duy của con
người.
1.1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ
a. Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế
giới xung quanh.



quen tốt và học được những cách ứng xử đúng đắn.
Ngôn ngữ giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mỹ trong thơ ca, truyện
kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thể đem đến cho
trẻ từ những ngày thơ ấu. Sự tác động của lời nói nghệ thuật như một phương
tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mỹ cho trẻ.
c. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành
viên của cộng đồng.
Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một
thành viên của xã hội loài người. Nhờ có lời chỉ dẫn của người lớn, trẻ dần
dần hiểu được những quy định chung của cộng đồng, trước hết là nề nếp sinh
hoạt của gia đình, trường mầm non, sau đó là một số quy định ngoài xã hội.
Những gì trẻ được phép làm và những gì không được làm. Ngoài ra ngôn ngữ
còn là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của
mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, giáo dục trẻ. Điều đó
giúp trẻ hòa nhập với mọi người. Nhờ có ngôn ngữ, thông qua các câu chuyện
kể, trẻ dễ dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội, và hòa nhập
xã hội tốt hơn.
Tóm lại, ngôn ngữ có vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất để trẻ
lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để trẻ giao lưu với những người xung quanh, để
tư duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, hình thành và phát triển nhân
cách của trẻ.
1.1.1.3. Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
a. Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo
* Vốn từ xét về mặt số lượng
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là một quá trình từ thấp đến cao với các giai
đoạn mang những đặc trưng khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ.


Trẻ sơ sinh chưa hiểu được ngôn ngữ của người lớn. Ở giai đoạn này, trẻ
mới bắt đầu cảm nhận ngữ điệu, giọng nói của mẹ.

3 – 5 tuổi

1222 từ

Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ nội thành
Hà Nội thì vốn từ của trẻ mẫu giáo là:
Trẻ 4 tuổi: 1900 – 2000 từ
Trẻ 5 tuổi: 2500 – 2600 từ
Trẻ 6 tuổi: 3000 – 4000 từ.


Còn theo thống kê của tác giả Đinh Hồng Thái, đến năm thứ 3 trẻ đã sử
dụng trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ và các loại khác rất ít.
Danh từ chỉ là đồ dùng, đồ chơi quen thuộc, các con vật gần gũi như: mèo,
chó, gà…Động từ chỉ hoạt động gần gũi của trẻ và những người xung quanh
như: ăn, uống, ngủ, đi…
Trẻ 4 tuổi có thể nắm được xấp xỉ 700 từ. Ưu thế vẫn thuộc về danh từ và
động từ. Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ.
Trẻ 5 – 6 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1033 từ, tính từ và các loại
từ khác đã chiếm tỉ lệ cao hơn.
Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi: Cuối 3
tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 107%; cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi tăng
40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi vốn từ của trẻ chỉ tăng 10,40%; cuối 6
tuổi so với đầu 6 tuổi vốn từ cũng chỉ tăng 10,01%.
Mặc dù số lượng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà tâm lí học, ngôn ngữ học
đưa ra không khớp nhau, nhưng sự chênh lệch không lớn lắm; bởi lẽ số lượng
từ của trẻ phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác nhau trong đó quan trọng
nhất là tác động của môi trường như sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên với
những người xung quanh, trình độ của bố mẹ…
 Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại


35,52%

8,64%

3,73%

6 tuổi

30,97%

30,97%

Trẻ mẫu giáo nói nhiều nhưng chưa phải là nói hay, vì vậy cần mở rộng
các loại từ để trẻ nói hay, biêt sử dụng từ gợi cảm, từ văn học. Trẻ mẫu giáo
cũng bắt đầu bộc lộ những nét riêng: có trẻ dùng các tính từ, trạng từ nhiều
hơn những trẻ khác. Vốn từ của trẻ mang tính chất cá nhân rõ rệt, cùng một
lứa tuổi, trẻ có vốn từ rất phong phú về thể loại, nhiều về số lượng; nhưng có
trẻ vốn từ rất nghèo nàn.
Theo nghiên cứu của tác giả Đinh Hồng Thái, đến 3 – 4 tuổi, về cơ bản,
vốn từ của trẻ đã có đủ các loại từ. Tuy nhiên, tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơn
nhiều so với các loại khác: danh từ chiếm 38%, động từ 32%; còn lại là tính
từ 6,8%, đại từ 3,1%, phó từ 7,8%, tình thái từ 4,7%; quan hệ từ và số từ còn
ít xuất hiện: số từ 2,5%: số từ 2,5%, quan hệ từ 1,7%.


Giai đoạn 5 – 6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại
trong vốn từ của trẻ. Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi (chỉ khoảng 50%) nhường
chỗ cho tính từ và các loại từ khác tăng lên: tính từ đạt tới 15% , quan hệ từ
tăng lên đến 5,7%, còn lại là các loại từ khác.

có thể có nhiều loại con (gà, mèo, chó…).
Cam, đu đủ, chuối: Mức độ thứ nhất của sự khái quát; quả: Mức độ thứ
hai của sự khái quát.
- Mức độ thứ ba của sự khái quát: Trẻ 5 – 6 tuổi có thể nắm được mức
độ thứ ba của sự khái quát.
Ví dụ: đồ vật có thể chỉ đồ chơi như búp bê , máy bay, ô tô…; đồ gỗ chỉ
các đồ dùng, vật dụng được làm từ gỗ (bàn, ghế, giường…); phương tiện giao
thông (xe máy, tàu thủy, tàu hỏa, máy bay…).
Búp bê mức độ thứ nhất của sự khái quát; đồ chơi mức độ thứ hai của sự
khái quát; đồ vật mức độ thứ ba của sự khái quát.
- Mức độ thứ tư của sự khái quát: Trẻ hiểu được những từ biểu thị sự
khái quát tối đa – những khái niệm thực sự khoa học.
Ví dụ: vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng…
Khả năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào tuổi
thiếu niên.
Đối với trẻ em tuổi mầm non, khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa
biểu danh (mức độ zero và mức độ 1). Mức độ 2 và 3 chỉ dành cho trẻ mẫu
giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn.
b. Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ 5 – 6 tuổi có thể sử dụng thông thạo tiếng mẹ đẻ để giao tiếp. Khả
năng ngôn ngữ liên quan chặt chẽ đến sự phát triển trí tuệ những trải nghiệm


của trẻ. Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tăng lên đáng kể, có khoảng 3000 –
4000 từ. Trong đó loại từ được tích lũy khá phong phú, không những về
danh từ, động từ mà còn cả về đại từ, liên từ, tnh từ… đủ để giao tiếp
với những người xung quanh. Danh từ và đại từ vẫn chiếm ưu thế nhưng
tính từ và các loại từ khác cũng được trẻ sử dụng nhiều hơn. Cụ thể:
Về danh từ: nội dung, ý nghĩa của các từ được mở rộng, phong phú hơn;
những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn


Hư từ

Danh từ

291

40%

Động từ

230

30%

Tính từ

58

7,3%

Đại từ

25

2,7%

Số từ

17

1.1.2. Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
1.1.2.1. Khái niệm từ
Cho đến nay, đã có khoảng 300 định nghĩa về Từ. Các nhà khoa học
đứng trên những phương diện nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những quan
điểm xem xét Từ trên phương diện ngữ pháp học (phối hợp mặt ngữ âm
và mặt ngữ nghĩa) được chấp nhận hơn cả.


Dưới góc độ ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ học đã định nghĩa về Từ
Tiếng Việt như sau:
- Từ là đơn vị nhỏ nhất, là một âm hay một tổ hợp âm có nghĩa của
một ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để
xây dựng nên câu.
- Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bao gồm hình thức âm thanh
ổn định và hoàn chỉnh về ý nghĩa. Hai phần này liên quan mật thiết và hỗ trợ
cho nhau để biểu hiện ý nghĩa của con người. Từ không chỉ biểu thị các sự
vật hiện tượng đơn lẻ mà biểu thị cả một nhóm sự vật hiện tượng tập hợp lại
theo một dấu hiệu nhất định, do đó từ có tính chất khái quát cao.
- Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp – Từ vựng học Tiếng Việt, Hà Nội
1985: Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để tạo
câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết “rời” .
Qua các định nghĩa trên cho thấy, dù chưa có sự thống nhất nhưng đã
có quan điểm chung về Từ Tiếng Việt ở chỗ: Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý
nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi
tên,
được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo nên câu.
1.1.2.2. Vốn từ
Vốn từ của một ngôn ngữ là tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ cố
định của ngôn ngữ đó. Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng từ
phong phú có thể lên tới hàng chục vạn từ. Vốn từ vựng của một ngôn

2. Hư từ: gồm các loại từ định từ, phó từ, kết từ, tình thái từ.
Tóm lại, từ là đơn vị cơ bản để xây dựng câu, không có từ thì không
có ngôn ngữ. Trẻ mẫu giáo được tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ
Tiếng Việt sẽ có cơ hội được hình thành khái niệm về từ, hiểu được ý
nghĩa của từ và tập sử dụng vốn từ Tiếng Việt trong các tình huống giao
tiếp một cách chủ động, tích cực, góp phần vào quá trình củng cố và phát
triển Tiếng Việt.


1.1.2.4. Phát triển vốn từ
Phát triển vốn từ được hiểu như là một quá trình lâu dài trẻ tch lũy vốn
từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tnh huống
giao tiếp cụ thể. Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ được sử dụng
trong câu, trong lời nói. Vì vậy, công tác phát triển vốn từ cần được tiến
hành chặt chẽ với việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ. Xem xét quá trình
hình thành và phát triển vốn từ ở trẻ, ta có thể thấy được trẻ lĩnh hội nghĩa
cụ thể của từ và nội dung khái niệm của từ, nó có liên quan đến quá trình
nhận thức của trẻ; đồng thời, trẻ còn lĩnh hội vốn từ như là một yếu tố của
lời nói như cách sử dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau,
dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa…, cách sử dụng từ trong câu.
Phát triển vốn từ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của
trẻ. Lĩnh hội vốn từ là điều kiện quan trọng để phát triển trí tuệ và để
giải quyết nhiệm vụ tích lũy và chính xác hóa biểu tượng, hình thành khái
niệm, phát triển tư duy. Vốn từ nghèo nàn ảnh hưởng đến giao tiếp của
trẻ. Cùng với việc phát triển vốn từ, chúng ta thực hiện nhiệm vụ giáo dục
đạo đức và thẩm mỹ.
Do đó, công tác phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có chủ định, có kế
hoạch nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ có hiệu quả.
1.1.2.5. Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
a. Làm giàu vốn từ ngữ của trẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status