lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động về phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 6 tuổi) trường mầm non ngô quyền vĩnh yên vĩnh phúc - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

LỰA CHỌN VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ
TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG VỀ PHÁT TRIỂN
SỨC MẠNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
(5 - 6 TUỔI) TRƯỜNG MẦM NON NGÔ
QUYỀN - VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Thể chất

Người hướng dẫn:

ThS. NGUYỄN HỮU HIỆP

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thu Hương
Sinh viên lớp K36B - GDMN Trường ĐHSP Hà Nội 2.
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề
tài không trùng với bất cứ đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này tại trường
Mầm Non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc. Toàn bộ những vấn đề được
đưa ra bàn luận, nghiên cứu là những vần đề mang tính thời sự, cấp bách và
đúng thực tế tại trường Mầm Non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014.
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hương

và sau thực nghiệm.
Thành tích ném túi cát của hai nhóm ĐC và TN
trước và sau thực nghiệm.
Thành tích nhảy ô của hai nhóm ĐC và TN trước
và sau thực nghiệm

Trang
29
35
37
38
39
40
41
41


DANH MỤC CHỮ VIẾT
STT

Từ viết tắt

Giải thích từ viết tắt

1

ĐC

Đối chứng


7

NXB

Nhà xuất bản

8

STT

Số thứ tự

9

TCVĐ

Trò chơi vận động

10

TDTT

Thể dục thể thao

11

TN

Thực nghiệm


Một trong những phương tiện của giáo dục thể chất để phát triển sức
mạnh cho con người thì cho chơi vận động là phương tiện tốt để tạo ra sự


7

hứng thú cho các em. Trong khi chơi, các em được giao lưu với nhau, có sự
hợp tác, đoàn kết với nhau trong khi chơi để đạt được kết quả tố nhất.
Tuổi mẫu giáo, các em đến trường không chỉ được học tập mà các em
còn được hoạt động vui chơi hàng ngày vì lứa tuổi mẫu giáo hoạt động chủ
đạo là hoạt động vui chơi nên việc lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động
cho các em là một việc làm ý nghĩa giúp các em phát triển toàn diện, giúp các
em nhanh nhạy hơn với môi trường xung quanh.
Lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động vào giảng dạy các giờ phát
triển thể chất có vai trò quan trọng, giúp cho học sinh tiếp thu nhanh hơn kĩ
thuật động tác, phát triển các tố chất thể lực, gây hứng thú cho học sinh trong
các giờ tập luyện. Nhưng qua tìm hiểu thấy việc tổ chức hướng dẫn trò chơi
vận động trong dạy học ở trường mầm non còn thiếu quan tâm, chưa chú
trọng và còn mang tính tùy tiện, chưa xác với mục đích của giờ học, còn hoài
nghi chưa dám chắc trò chơi có ảnh hưởng tốt tới chất lượng giờ học phát
triển thể chất hay không.
Để đóng góp phần giải quyết các vấn đề trên việc nghiên cứu đưa ra
một số trò chơi vận động sao cho phù hợp với điều kiện thực tế, nâng cao chất
lượng học tập môn thể chất cho trẻ trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên Vĩnh Phúc là vấn đề cần thiết của công tác giáo dục thể chất trường học.
Với lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn đề cập đến đề tài: “Lựa chọn và
ứng dụng một số trò chơi vận động để phát triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi ở
trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc”.
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường
mầm non và đặc điểm về phương pháp sử dụng trò chơi vận động của giáo

sóc giáo duc trẻ ở lứa tuổi trước tuổi học có liên quan đến việc phát triển
nhận thức và xã hội tốt hơn” [1].
Nhà giáo dục Xô viết A.S.Makarenko khẳng định: Những cơ sở căn
bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5. Những điều dạy
cho trẻ trong thời kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ. Về sau việc giáo
dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, cùng
những nụ hoa thời đó được vun trồng trong 5 năm đầu tiên.
Lịch sử GDMN ghi nhận: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào
tạo con người mới Việt Nam. GDMN góp phần giải phóng phụ nữ, thực hiện
bình đẳng nam nữ. Nhờ có phát triển GDMN, phụ nữ yên tâm công tác, lao
động sản xuất, có điều kiện học hành nâng cao hiểu biết và hưởng thụ những
phúc lợi nho nhỏ trong gia đình cũng như có cơ hội đóng góp cho xã hội.
Như vậy GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống GD quốc dân. Tầm
quan trọng của GDMN là chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc GD hình
thành và phát triển nhân cách trẻ em.
1.1.2. Mục tiêu nhiệm vụ của giáo dục mầm non (GDMN)
Điều 21, 22 luật giáo dục (2005) đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ
GDMN “GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3
tháng đến 6 tuổi” [6]. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát


10

triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên
của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1.
1.2. Vị trí vai trò của môn giáo dục thể chất (GDTC)
GDTC có một vị trí vô cùng quan trọng, là một bộ phận không thể
thiếu của giáo dục quốc dân, là sự phát triển con người toàn diện. Vai trò của
GDTC là:
GDTC là cơ sở nền tảng của nền TDTT quốc dân.


Sự phát triển xúc cảm và ngôn ngữ:
-

Ở lứa tuổi này, tình cảm đã bắt đầu phức tạp và phân hóa, từ quan hệ gắn bó mẹ
- con, trẻ bắt đầu có nhu cầu giao lưu tình cảm nhiều hơn giữa mẹ - con ở trẻ trai
và bố - con ở trẻ gái. Trẻ đòi hỏi sự quan tâm cuộc sống một cách cụ thể và đa
dạng hơn, vì vậy đã xuất hiện ở trẻ những biếu hiện về tình cảm rõ ràng cũng

-

như những phản ứng chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau.
Đây là lứa tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có khả
năng nói những câu đầy đủ, đôi khi phức tạp cũng như hiểu được những câu
nói dài của người khác. Điều này là cơ sở cho trẻ tiếp nhận những kiến thức
của lớp 1 và những bậc học tiếp theo.
Ý thức về bản thân:

-

Ngay từ lên 3 trẻ đã biết phân biệt giữa bản thân và người khác, trẻ dần dần
nhận ra những cái gì thuộc về bản thân, cái gì không thuộc về mình. Trẻ 5 - 6 tuổi
đã có ý thức về những vật dụng như quần áo, đồ chơi, cái gì là của mình và
cái gì là của bạn cùng chơi. Từ đó đưa tới thái độ so sánh, ganh tị hay tự tin
hơn và thường có những suy nghĩ nhận định độc lập, tích tự làm chứ không

-

cần nhờ người khác.
Ý thức về bản thân cũng giúp trẻ 5 - 6 tuổi có ý thức chan hòa với bạn cùng

kính trước sau, xương sườn chếch theo hướng dốc nghiêng.
Hệ cơ: hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ
nhỏ mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp
còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi. Do đó, trẻ lứa tuổi này không thích nghi với sự
căng thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp
trong thời gian luyện tập. Khi trẻ được thường xuyên tham gia vận động thể
lực hợp lí sẽ tăng cường hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sức
mạnh và sức bền của cơ bắp phát triển.
Khớp: trẻ lứa tuổi này ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn
yếu, dây chằng lỏng lẻo. Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ
giúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp.
Hệ tuần hoàn: hệ tuần hoàn của trẻ đang phát triển và hoàn thiện.
Buồng tim phát triể tương đối hoàn thiện, tần số co bóp của tim là 80 - 110
lần/phút. Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập, nên đa dạng


13

hóa các dạng bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động,
phối hợp động và tĩnh một cách nhẹ nhàng.
Hệ hô hấp: đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc đường hô
hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm. Lên 6 tuổi thể
tích hô hấp của phổi là khoảng 215 - 220 ml. Trẻ 5 - 6 tuổi mỗi phút hít thở
khoảng 20 - 22 lần.
Hệ trao đổi chất: cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục
năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và
mô. Ở trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho
hoạt động cơ bắp. Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi
dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ
bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao

các trò chơi vận động dành cho trẻ mầm non đều mang tính chủ đề, phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lí và khả năng tưởng tượng của trẻ.
Khi tham gia vào trò chơi thì trẻ phải tập trung chú ý, ghi nhớ những lời
giải thích của giáo viên để thực hiện đúng vận động. Do đó, đặc điểm nổ bật của
TCVĐ là sự đòi hỏi phối hợp vận động của quá trình nhận thức và vận động.
Như vậy, TCVĐ là trò chơi nhằm rèn luyện và hoàn thiện các vận động
cho trẻ. Nó là phương tiện chủ yếu giáo dục thể lực (GDTL) cho trẻ, giải quyết
các nhiệm vụ vận động dưới dạng trò chơi nên trẻ vận động tích cực và thoải mái.
1.4.2. Ý nghĩa trò chơi vận động
Ở trẻ mầm non, trò chơi chiếm một vị trí quan trọng. Trẻ đến trường
không chỉ được học tập mà trẻ còn được vui chơi hàng ngày vì lứa tuổi mẫu
giáo hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi. Các loại trò chơi: đóng vai theo
chủ đề, trò chơi học tập, trò chơi xây dựng hay trò chơi vận động… được sử
dụng rộng rãi. Trong đó, trò chơi vận động được chú ý cao vì tất cả các trẻ
đều được tham gia và phát triển các tố chất thể lực.
TCVĐ là phương tiện chủ yếu GDTL có hiệu quả cho trẻ mẫu giáo,
qua TCVĐ hình thành các phẩm chất thể lực như sự nhanh nhẹn, linh hoạt,
dẻo dai, góp phần củng cố nâng cao sức khỏe cho trẻ. Giáo dục trẻ về các mặt
đức, trí, thể, mỹ… Đào tạo cho trẻ phát triển toàn diện từ những năm đầu đời.


15

TCVĐ còn là một phương tiện vui chơi giải trí, một hình thức nghỉ
ngơi tích cực, một hoạt động có tính văn hóa góp phần nâng cao đời sống tinh
thần cho trẻ.
Về phương diện sinh lí vận động: TCVĐ giải tỏa tâm lí tạo nên sự lạc
quan yêu đời, vui tươi thoải mái, giúp phần giảm các căng thẳng thần kinh,
giảm và chống đỡ được một số bệnh tật.
Ở trường mầm non, trò chơi vận động được sử dụng một cách thường

giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho trẻ.
Trò chơi vận động có ý nghĩa quan trọng trong công tác GDTC cho trẻ.
Trò chơi vận động mang đặc tính thi đua rất cao. Trong quá trình tham
gia chơi, trẻ biểu lộ tình cảm rất rõ ràng như niềm vui khi thắng lợi và buồn
khi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoàn thành nhiệm vụ, bản thân trẻ
thấy có lỗi khi không làm tốt phần việc của mình… Vì tập thể mà trẻ phải
khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại hết thắng lợi cho
đồng đội.
Trò chơi vận động là trò chơi có luật lệ, quy tắc nhất định mà bản thân
trò chơi vận động lại mang tính thi đua và sự tự giác rất cao. Vì vậy khi đã
tham gia trò chơi, trẻ phải vận dụng hết khả năng, sức lực, sự tập trung chú ý,
trí thông minh và sáng tạo của mình.
Một khía cạnh mà các nhà sư phạm phải quan tâm đó là tránh để các
trẻ ham chơi quá mức quên ăn, quên ngủ, quên học, chơi đến mức quá sức
dẫn đến mệt mỏi, trong trường hợp như vậy không những không có lợi về mặt
sức khỏe mà còn ngược lại. Đây là một đặc điểm quan trọng, mà giáo viên
phải chú ý khi tổ chức cho trẻ chơi.
Nội dung TCVĐ đối với trẻ em các độ tuổi.
Với trẻ em 12 - 18 tháng tuổi: Đuổi bắt, cô đuổi kịp ú tìm, thăm bạn
búp bê, mang đồ chơi đến cho cô, bò tới đồ chơi, bò chui qua cổng.
Đối với trẻ 18 - 24 tháng tuổi: Kéo cưa lừa xẻ, đi qua cầu, con rùa, gấu
dạo chơi trong rừng (23 - 24 tháng), mèo và chim sẻ (23 - 24 tháng).
Đối với trẻ 24 - 36 tháng: Mèo và chim sẻ, nu na nu nống, chim sẻ và ô
tô, con bọ dừa, bong bóng xà phòng, con rùa, bóng tròn to, bịt nắt bắt dê,
dung dăng dung dẻ, trời nắng trời mưa, phi ngựa, vượt đoàn tàu.


17

Với trẻ 3 - 4 tuổi: Quả bóng nảy, ô tô và chim sẻ, gấu và ong, nhảy qua

vận động và cường độ vận động của một trò chơi có thể tăng, giảm do cách tổ
chức và tài nghệ điều khiển của người quản trò.
Căn cứ vào yêu cầu tổ chức trò chơi.
Ta có: trò chơi chia thành đội, không chia đội và trò chơi có một nhóm
chuyển tiếp ở giữa.
Trò chơi chia thành đội được tiến hành chơi với điều kiện số người
chơi các đội phải ngang nhau, thậm chí số lượng các trẻ nam và trẻ nữ phải
ngang nhau. Ví dụ: “kéo co”, “chạy tiếp sức”… Những trò chơi này thường
có luật rất nghiêm và chặt chẽ. Có tác dụng giáo dục tinh thần tập thể, tính tổ
chức kỉ luật cao.
Trò chơi không chia thành đội được chia thành: Trò chơi có người điều
khiển và trò chơi không có người điều khiển.
1.4.3.3 Một số hạn chế khi áp dụng trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo
lớn (5 - 6 tuổi)
Một số trẻ tham gia chơi vượt quá khả năng chịu đựng để xảy ra những
tai nạn đáng tiếc.
Nhiều khi trẻ tham gia một cách hời hợt, thiếu tích cực không phát huy
được hết hiệu quả của TCVĐ.
Đôi khi trẻ nhốn nháo, giáo viên rất khó để kiểm soát được toàn bộ lớp
nên chưa phát huy được hết những ưu điểm của TCVĐ.
Tồn tại lớn nhất là khó kiểm soát lượng vận động trong khi tiến hành
TCVĐ.
Vì vậy, lựa chọn và áp dụng có hiệu quả TCVĐ cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6
tuổi) là rất cần thiết.
1.5. Cơ sở giáo dục sức mạnh
1.5.1. Khái niệm và phân loại sức mạnh
1.5.1.1. Khái niệm


19

Sức mạnh tĩnh (sức mạnh đơn thuần): Là khả năng sinh lực trong các động tác

-

chậm hoặc tĩnh.
Sức mạnh tốc độ: Là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh.
Ngoài ra, còn có sức mạnh bột phát, sức mạnh tuyệt đối và sức mạnh tương
đối.
1.5.2. Phương pháp giáo dục sức mạnh
1.5.2.1. Cơ chế sinh lí điều hòa sức mạnh
Lực tối đa mà con người có thể sản sinh ra một mặt phụ thuộc vào đặc
tính sinh cơ động tác, mặt khác phụ thuộc vào mức độ hoạt động cử từng
nhóm cơ riêng biệt và sự phối hợp giữa chúng. Mức độ hoạt động của cơ
được quy định bởi 2 yếu tố:


20

Xung động từ các nơron thần kinh vận động trong sừng trước của tủy
sống đầu cơ.
Phản ứng của cơ - tức là do nó sinh ra để đáp lại xung động thần kinh.
Phản ứng của cơ phụ thuộc vào thiết diện sinh lí và đặc điểm cấu trúc
của nó, ảnh hưởng của dinh dưỡng của hệ thần kinh trung ương thông qua hệ
thống ađrênalin giao cảm; độ dài của cơ tại thời điểm có kích thích và một số
nhân tố khác. Cơ chế chủ đạo cho phép thay đổi tức thời mức độ hoạt động
của cơ là đặc điểm của xung động li tâm. Thay đổi mức độ hoạt động của cơ
được thực hiện bằng 2 cách. Thứ nhất: Huy động số lượng khác nhau các đơn
vị vận động. Thứ 2: Thay đổi tần số xung động ly tâm (trong căng cơ tối đa,
từ 5 - 6 đến 35 - 40 xung động).
Nếu lực do cơ phát huy chỉ vào khoảng 20 - 80% khả năng tối đa của

thuận với cường độ kích thích. Cường độ kích thích càng lớn thì phản ứng
càng mạnh.
Đặc điểm cơ chế sinh lí của bài tập với lực đối kháng khác nhau cho
thấy: muốn phát triển sức mạnh thì nhất thiết phải taọ được sự căng cơ tối đa.
Nếu không thường xuyên tập luyện với mức căng cơ tương đối cao thì sức
mạnh sẽ không được phát triển.
1.5.2.3. Nhiệm vụ và phương tiện giáo dục sức mạnh
Nhiệm vụ chung của quá trình giáo dục sức mạnh là phát triển toàn
diện và đảm bảo khả năng phát huy cao sức mạnh trong các hình thức hoạt
động vận động khác nhau. Nhiệm vụ cụ thể là:
-

Tiếp thu và hoàn thiện khả năng thực hiện các hình thức sức mạnh cơ bản:
sức mạnh tĩnh lực và sức mạnh động lực, sức mạnh đơn thuần và sức mạnh

-

tốc độ, sức mạnh khắc phục va sức mạnh nhượng bộ.
Phát triển cân đối sức mạnh của tất cả các nhóm cơ của hệ vận động.
Phát triển năng lực sử dụng hợp lí sức mạnh trong các điều kiện khác nhau.
Ngoài ra, tùy điều kiện cụ thể mà mỗi loại hoạt động mà đề ra các
nhiệm vụ chuyên môn.
Để giáo dục sức mạnh người ta thường sử dụng các bài tập sức mạnh,
các động tác có lực đối kháng, các bài tập được chia thành 2 nhóm:

-

Các bài tập có lực đối kháng ở bên ngoài:
+ Các bài tập với dụng cụ nặng
+ Các bài tập với lực đối kháng của người tập.

+ Tăng sức mạnh cùng với phì đại cơ bắp. Khối lượng vận động lớn tất
yếu dẫn tới những biến đổi mạnh mẽ trong quá trình trao đổi chất: quá trình
dinh dưỡng mạnh xảy ra trong cơ thể do sử dụng phương pháp này thúc đẩy
quá trình trao đổi tạo hình làm cơ phì đại và do đó làm tăng sức mạnh.
+ Sử dụng lượng đối kháng chưa tới mức tối đa sẽ hạn chế được hiện
tượng ép khí lồng ngực.


23

+ Bài tập với lượng đối kháng chưa tới mức tối đa sẽ tạo khả năng kiểm
tra kĩ thuật tốt hơn.
+ Đối với người mới tập, sử dụng phương pháp nỗ lực lặp lại hạn chế
được chấn thương.
+ Tiêu hao năng lượng tương đối lớn cũng có lợi co buổi tập với xu
hướng sức khỏe.
Nhược điểm của phương pháp nỗ lực lặp lại:
+ Không có lợi thế về mặt năng lượng.
+ Hiệu quả của phương pháp này thấp hơn so với sử dụng phương pháp
đối kháng tối đa.
-

Sử dụng lượng đối kháng tối đa và gần tối đa.
Trong trường hợp cần tăng sức mạnh cơ bắp nhưng hạn chế được hiện
tượng tăng khối lượng của nó, người ta thường tập luyện theo xu hướng sử
dụng lượng đối kháng tối đa (1 lần tập) và gần tối đa (2, 3 lần tập).
Lượng đối kháng tối đa dùng để tập luyện nhỏ hơn trọng lượng tối đa thực
tế mà con người có thể khắc phục khi cảm xúc mạnh. Kinh nghiệm thực tế cho
thấy, tập luyện với lượng đối kháng tối đa thực sự đem lại hiệu quả thấp.
Tuy có hiệu quả cao trong phát triển sức mạnh trên cơ sở hoàn thiện cơ

Căn cứ vào mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi đã đưa ra hai nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng về phát triển sức mạnh của trẻ 5 - 6
tuổi ở trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động để phát
triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên Vĩnh Phúc.
2.2. Các phương pháp nghiên cứu chính
Để giải quyết được những nhiệm vụ đặt ra, tôi sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:


25

2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Là phương pháp thu thập những nguồn thông tin bằng cách đọc và phân
tích tài liệu tham khảo. trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đi tìm hiểu tập hợp
được những tài liệu như các điều luật… của đảng và nhà nước, các sách viết
chuyên khảo, tuyển tập và các tư liệu giảng dạy của TDTT và GDTC, các tài liệu
lưu trữ, phim ảnh, nghiên cứu tìm hiểu các sách viết về trò chơi vận động, về sức
mạnh, các sách về tâm lí, sinh lí trẻ em… Từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau:
sách, báo, đài, internet… Tôi thu thập tài liệu có liên quan nhằm mở rộng thêm
kiến thức lí luận, tâm sinh lí, các phương pháp giáo dục và đặc biệt tìm hiểu sâu
về trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn. Phương
pháo này được sử dụng trong suốt trong thời gian nghiên cứu.
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi - trả lời giữa nhà nghiên cứu
với các cá nhân, tổ chức khác nhau về các vấn đề cần quan tâm.
Đã sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, gián tiếp và trao đổi tọa
đàm:
+ Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi - trả
lời miệng giữa nhà nghiên cứu và người được hỏi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status