Luận án Tiến sĩ Triết học: Quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ và sự vận dụng của đảng ta từ khi đổi mới đến nay - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HỒNG NGON

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN
VỀ CHẾ ĐỘ TẬP TRUNG DÂN CHỦ VÀ SỰ VẬN DỤNG
CỦA ĐẢNG TA TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HỒNG NGON

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN
VỀ CHẾ ĐỘ TẬP TRUNG DÂN CHỦ VÀ SỰ VẬN DỤNG
CỦA ĐẢNG TA TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

Ngành: NCDVBC&CNDVLS
Mã số: 9 22 90 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Hương

6.2. Ý nghĩa thực tiễn ………………………………………………………….. 5
7. Kết cấu của luận án ……………………………………………………….. 5
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI ………………………………………………………………….. 6
1.1. Những công trình nghiên cứu quan điểm của V.I.Lênin về tập trung
dân chủ và chế độ tập trung dân chủ ……………………………………….. 6
1.1.1. Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài …….. 6
1.1.2. Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước …….. 9
1.1.3. Những công trình bàn về các thuật ngữ: Chế độ tập trung dân chủ hay
nguyên tắc tập trung dân chủ …………………………………………………. 13
1.2. Những công trình nghiên cứu sự vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về
chế độ tập trung dân chủ của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới ……………. 17
1.2.1. Hồ Chí Minh - một kiểu mẫu trong vận dụng quan điểm của V.I.Lênin
về chế độ tập trung dân chủ ………………………………………………….. 17
1.2.2. Thực hiện chế độ tập trung dân chủ phải có “điều kiện tiên quyết”, mà
thiếu nó thì không thể thực hiện đúng đắn được …………………………….. 19
1.2.3. Thực hiện chế độ tập trung dân chủ phải gắn liền với đổi mới sự lãnh
đạo của Đảng …………………………………………………………………. 21
1.2.4. Những thành tựu và hạn chế chủ yếu khi thực hiện chế độ tập trung dân
chủ của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới ……………………………….............. 22
1.3. Những công trình nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng
quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ …………………… 25
1.3.1. Giải pháp đề cao giáo dục nhận thức, thể chế hoá nguyên tắc thành quy
chế, quy định cụ thể, tăng cường tự phê bình và phê bình …………………… 25
1.3.2. Giải pháp đề cao kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, thực hiện


nghiêm pháp chế, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật …………………….. 27
1.3.3. Giải pháp đề cao dân chủ, bảo đảm dân chủ đầy đủ trong Đảng …… 28
1.4. Đánh giá khái quát về các công trình nghiên cứu đã có và những vấn

3.1.3. Những phát triển mới của Hồ Chí Minh về chế độ tập trung dân chủ..75
3.2. Những thành công của Đảng ta trong vận dụng quan điểm của
V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ từ khi đổi mới đến nay ………….. 81
3.2.1. Về phương diện nhận thức ………………………………………….. 81
3.2.2. Về phương diện hành động …………………………………………. 89
3.3. Một số hạn chế của Đảng ta trong vận dụng quan điểm của V.I.Lênin


về chế độ tập trung dân chủ từ khi đổi mới đến nay ………………...…..... 96
3.3.1. Sự bất cập trong nhận thức của Đảng ta về chế độ tập trung
dân chủ …………………………………………………………………………96
3.3.2. Hạn chế trong vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung
dân chủ …………………………………………………………………………98
3.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế ………………………...……….. 111
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................... 114
CHƯƠNG 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN
DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ CHẾ ĐỘ TẬP TRUNG DÂN
CHỦ ………………………………………………………………………….115
4.1. Nhóm giải pháp liên quan đến nhận thức về chế độ tập trung dân chủ
………………………………………………………...………………………115
4.1.1. Nhận thức đúng về chế độ, nguyên tắc tập trung dân chủ …………. 115
4.1.2. Đề cao ý thức tự giác học tập lý luận chính trị, nâng cao năng lực thực
hành nguyên tắc tập trung dân chủ .…………………………………………. 116
4.1.3. Quán triệt những yêu cầu chung, cần thiết đối với các cấp ủy trong quá
trình tổ chức học tập nâng cao trình độ nhận thức ………………………….. 118
4.2. Nhóm giải pháp liên quan đến thực hiện chế độ tập trung dân chủ .. 120
4.2.1. Thể chế hóa chế độ tập trung dân chủ thành quy chế, quy định cụ
thể………………………………………………….………………………… 120
4.2.2. Thực hiện nghiêm túc chế độ tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách …. 124
4.2.3. Thực hiện tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò của cấp ủy và

Mặt trận Tổ quốc

TTDC

Tập trung dân chủ

UBND

Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong lý luận về xây dựng đảng của giai cấp vô sản, khi nhấn mạnh
tầm quan trọng của tổ chức, C.Mác đã từng nói: Người nghệ sĩ, nếu một mình
điều khiển cây đàn thì tự chỉ huy mình; đã là một dàn nhạc giao hưởng thì bắt
buộc phải tuân theo cây đũa thần của người nhạc trưởng. Như vậy, theo
C.Mác, sức mạnh của tổ chức cũng như hiệu quả hoạt động của toàn đảng
phải dựa trên nguyên tắc thống nhất và tính tự giác. Kế thừa và phát triển
quan điểm của C.Mác, V.I.Lênin đã xây dựng và thực hiện lý luận về đảng
kiểu mới của giai cấp công nhân; trong đó, chế độ tập trung dân chủ được
xem là nguyên tắc cốt lõi về tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng. Người
luôn nhấn mạnh rằng, chế độ tập trung dân chủ phải là một cái gì đó khác xa
chế độ tập trung quan liêu, tự do vô chính phủ, đồng thời cũng giải thích một
cách thật cô đọng: Tập trung dân chủ là tự do trong thảo luận nhưng thống
nhất trong hành động. Trung thành với lý luận của V.I.Lênin, hầu hết các
đảng cộng sản trên thế giới được thành lập từ giữa thế kỷ XIX đến nay, nhất
là các đảng cộng sản cầm quyền, đều khẳng định tinh thần dân chủ trong đảng
và lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và
hoạt động của mình.

nặng nề hơn. Trong khi đó, các báo cáo của các địa phương đều khẳng định,
mọi việc trong Đảng đều tuân thủ theo nguyên tắc tập trung dân chủ… Những
bài học đau xót trong công tác cán bộ như trường hợp Trịnh Xuân Thanh,
Nguyễn Xuân Anh1 đã chỉ ra, có nguyên nhân từ sự yếu kém về năng lực,
giảm sút sức chiến đấu của chi bộ, tổ chức đảng nơi cán bộ, đảng viên sinh
hoạt trực tiếp; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm;
tinh thần tự phê bình và phê bình giảm sút.
Những biểu hiện trên cho thấy sự cần thiết phải khắc phục những hạn
chế, yếu kém trong nhận thức lý luận về bản chất của chế độ tập trung dân
chủ. Bởi vì, nhận thức đúng đắn là tiền đề cho hành động đúng đắn, đặc biệt
Trịnh Xuân Thanh - nguyên Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, Nguyễn Xuân Anh - nguyên Bí thư
Thành uỷ Đà Nẵng
1

2


là trong hoạt động lãnh đạo của Ðảng. Trong điều kiện một Ðảng duy nhất
cầm quyền, việc thực hiện nghiêm túc, đúng đắn chế độ tập trung dân chủ
trong Ðảng có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện tập trung dân chủ
trong toàn xã hội. Trên tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng
cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ, việc trở lại với những chỉ dẫn của V.I.Lênin trong lý luận về xây
dựng Đảng Cộng sản kiểu mới, đặc biệt là chế độ tập trung dân chủ là yêu cầu
khách quan và đòi hỏi chính đáng của công tác xây dựng Đảng.
Ý thức được trách nhiệm trước yêu cầu tăng cường xây dựng, chỉnh
đốn Đảng trong tình hình mới, từ giác độ triết học, nghiên cứu sinh đã lựa
chọn vấn đề “Quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ và sự vận
dụng của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận án

các kỳ đại hội từ năm 1986 đến nay về vấn đề này.
Phạm vi nghiên cứu:
Xuất phát từ góc độ triết học, phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn
trong vấn đề lý luận và thực tiễn của chế độ tập trung dân chủ trong Đảng,
mà không đi sâu nghiên cứu sang các lĩnh vực khác của Đảng.
Về mặt thời gian, luận án tập trung vào giai đoạn hình thành và phát
triển quan điểm về chế độ tập trung dân chủ của V.I.Lênin; điểm qua sự vận
dụng quan điểm này ở Hồ Chí Minh và tập trung nghiên cứu sâu quá trình vận
dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng các phương
pháp cụ thể, bao gồm: Phương pháp lôgíc - lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh kết hợp với khái quát hóa.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, luận án góp phần hệ thống hoá quan điểm của V.I.Lênin về chế
độ tập trung dân chủ cũng như làm rõ thực chất, nội dung cơ bản của quan
điểm này.
4


Hai là, luận án làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân chủ
yếu của thực trạng vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân
chủ trong điều kiện một Đảng mácxít cầm quyền.
Ba là, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của
việc vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ trong
điều kiện hiện nay của Đảng ta.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc nhận thức
và vận dụng đúng đắn quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung dân chủ

Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tại Hội nghị lần thứ XXIV:
“Kinh nghiệm xác nhận rằng sức mạnh, năng lực hành động của Đảng phụ
thuộc nhiều vào chỗ nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện triệt để và
đúng đắn đến đâu”, tác giả khẳng định, thực hiện triệt để và đúng đắn nguyên
tắc tập trung dân chủ (TTDC) là một điều kiện vô cùng quan trọng để đảm
bảo sự thống nhất hoạt động của Đảng.
Từ thực tiễn hoạt động của tổ chức đảng ở Xí nghiệp liên hợp cơ khí
nặng E.Tenlơman ở Mácđêbuốc (Cộng hoà dân chủ Đức), G.Vintecphen - tác
giả cuốn Chế độ tập trung dân chủ và các yêu cầu cao đối với đảng viên [86,
tr.158]; với kinh nghiệm phong trào công nhân, tác giả đã khái quát, chế độ
TTDC là nguyên tắc chỉ đạo trong việc xây dựng và trong hoạt động của đảng
6


mácxít lêninnít. Ông nhấn mạnh: “chúng tôi coi chế độ tập trung dân chủ là
sự thống nhất không tách rời giữa tập trung và dân chủ và do đó, cố gắng vận
dụng nó trong công tác hàng ngày”. G.Vintecphen đã coi chế độ tập trung
dân chủ là hai mặt thống nhất, biện chứng của một nguyên tắc trong xây dựng
Đảng, đó chính là nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.
Với một cách tiếp cận khác, tác giả V.Cơrípsích (Liên Xô), trong tác
phẩm “Những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về sự lãnh đạo tập thể
của Đảng” [124, tr.7] cho rằng, mỗi cuộc đấu tranh có sự tham gia đông đảo
của quần chúng cần đòi hỏi một mức cần thiết tối thiểu về tính tổ chức. Để tập
trung tất cả sức lực của những người tham gia đấu tranh thì phải xây dựng
những nguyên tắc tổ chức nhất định và có một cơ quan lãnh đạo, tức là đảng
chính trị, và nguyên tắc chỉ đạo hoạt động đó phải là nguyên tắc tập trung dân
chủ. Tác giả lý giải, một cá nhân, dù có lỗi lạc chăng nữa, cũng không thể
lãnh đạo được cuộc đấu tranh cách mạng, để thành công, chỉ có thể là một
đảng tập trung và lãnh đạo theo nguyên tắc TTDC thì mới đạt được kết quả
cao nhất. Tuy nhiên, để cho nguyên tắc xây dựng đảng phát huy tối đa trong

tắc TTDC trong Đảng và làm suy yếu Đảng, sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường.
Ở đây, cũng cần nhắc đến Từ điển Petit Larousse đã định nghĩa “chế độ
tập trung là chế độ kéo theo sự quy tụ mọi quyết định và hành động vào cơ
quan đầu não của các đảng và các nghiệp đoàn” [125, tr.234]. Từ đây, nhiều
nhà nghiên cứu đã chứng minh chế độ tập trung là kết quả hoạt động tổ chức
của mọi giai cấp xã hội. Họ lý giải, dù là giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản
cho đến giai cấp công nhân khi trở thành giai cấp cầm quyền đều kiên quyết
tập trung quyền lực. Vậy tập trung là nguyên tắc tổ chức của mọi giai cấp
trong xã hội. Tập trung là nguyên tắc tổ chức của mọi chính đảng. Còn dân
chủ mới là tính chất cần xây dựng, làm nền tảng cho nguyên tắc tập trung của
các đảng cộng sản. Tính chất có thể cho phép phát triển từ “thấp” đến “cao”,
qua nhiều sắc thái, từ “nhạt” tới “đậm”. Còn nguyên tắc thì bất di bất dịch.

2
3

Gh.V.Sisêrin: nhà hoạt động chính trị của Đảng và Nhà nước Liên Xô
Gi.Xtalin: nguyên Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô

8


Nói chung, các nhà khoa học ở các nước xã hội chủ nghĩa đều thống
nhất rằng, nguyên tắc TTDC chủ do V.I.Lênin đề ra là nguyên tắc cơ bản của
Đảng. Trong đó, tập trung và dân chủ là hai mặt thống nhất biện chứng,
không thể tách rời. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách là sự phản
ánh một mặt khác của nguyên tắc TTDC, bổ sung cho nguyên tắc này và làm
cho nguyên tắc xây dựng Đảng giàu sức sống. Chế độ tập trung dân chủ hay
nguyên tắc tập trung dân chủ có cùng cách hiểu: Đó là nguyên tắc tập trung
dân chủ trong Đảng.

dùng quyền hành có tổ chức, của tập thể như thể quyền hành của riêng mình,
do đó sẽ thao túng tất cả nhằm đạt mục đích, mưu đồ cá nhân.
Thống nhất cao với lập luận trên, tác giả Nguyễn Bá Dương, với bài “Ý
nghĩa thời sự của học thuyết Lênin về xây dựng Đảng cầm quyền” [9, tr.15],
đã khẳng định, V.I.Lênin là người không chỉ bổ sung, phát triển sáng tạo
những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về xây dựng chính đảng độc lập
của giai cấp vô sản, mà còn nâng tầm cao những tư tưởng đó thành học thuyết
khoa học, cách mạng về xây dựng đảng mácxít kiểu mới của giai cấp công
nhân với tư cách đảng cầm quyền, lãnh đạo. Qua phân tích, tác giả đã chỉ ra ý
nghĩa thời sự của học thuyết đối với cuộc vận động, xây dựng và chỉnh đốn
Đảng ta hiện nay thành một đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, một đảng
vừa là “đạo đức”, vừa là “văn minh”. Bám sát thực tiễn đấu tranh cách mạng
của phong trào công nhân và dựa vào chế độ tập trung dân chủ do C.Mác,
Ph.Ăngghen đề ra, V.I.Lênin đã phát triển toàn diện cơ chế đó và khẳng định
rằng, tập trung dân chủ không chỉ là nguyên tắc tổ chức xây dựng đảng
mácxít kiểu mới, mà còn là nguyên tắc mang tính khoa học trong quản lý nhà
nước, tổ chức cộng đồng, chỉ đạo các hoạt động cách mạng một cách có văn
hoá. Tác giả nhấn mạnh, thực chất của chế độ tập trung dân chủ là sự kết hợp
hữu cơ giữa chế độ tập trung với chế độ dân chủ triệt để vốn có của giai cấp
công nhân, bắt nguồn từ những đòi hỏi của nền sản xuất đại công nghiệp với
trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại. Từ trong bản chất, chế độ
TTDC đã loại bỏ hoàn toàn khuynh hướng vô chính phủ, sự thiếu thống nhất
về lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức, cá nhân hòng phá hoại sự thống nhất ấy,
10


đồng thời cũng loại bỏ khuynh hướng độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng,
cục bộ, bản vị mà một số lãnh tụ của các đảng chính trị thường mắc phải.
Cũng theo tác giả, với V.I.Lênin, chế độ TTDC hoàn toàn không phải là
sự tự phát, những biểu hiện ngẫu hứng, cứng nhắc, đơn độc của một cá nhân

Cũng theo Nguyễn Tiến Phồn, trong mối quan hệ giữa tập trung với
dân chủ thì tập trung là phương thức, là điều kiện, còn dân chủ là cơ sở, là
mục đích. Tác giả quan niệm, dân chủ là điểm xuất phát, sau đó, thông qua
tập trung mà dân chủ được giữ vững, được thực hiện và trở thành mục đích.
Không dựa trên dân chủ thì tập trung trở thành quan liêu, chuyên chế độc tài.
Không gắn với tập trung thì dân chủ không có sức mạnh thực tế hành động,
không thành tổ chức cố kết và sẽ dẫn tới phân tán, cục bộ, cát cứ, phường hội
và tự do vô chính phủ. Mặt khác, dân chủ càng phát triển cao thì càng tăng
cường tính đúng đắn, chính xác của tập trung, giúp người lãnh đạo và quản lý
tránh được sai lầm do chủ quan, duy ý chí, phiêu lưu chuyên chế, độc tài. Tác
giả khẳng định: Tập trung dân chủ là một loại cơ chế thực hiện dân chủ.
Thực hiện tốt cơ chế tập trung dân chủ sẽ bảo đảm cho sự thống nhất ý
chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, giúp Đảng tăng thêm sức mạnh.
Tác giả Nguyễn Phú Trọng với công trình “Xây dựng chỉnh đốn Đảng-một số
vấn đề lý luận và thực tiễn” đã luận giải: TTDC là nguyên tắc cơ bản của một
Đảng Mác – Lênin chân chính, xuất phát từ tính chất, chức năng, vai trò, trách
nhiệm của Đảng, phản ánh đặc điểm và bản chất của giai cấp công nhân hiện
đại. Nguyên tắc ấy do V.I.Lênin đề ra từ đầu thế kỷ XX. Theo tác giả, việc
thực hiện nguyên tắc TTDC là điều kiện bảo đảm phát huy sáng kiến và tính
tích cực sáng tạo của mọi tổ chức đảng, mọi đảng viên; đồng thời, bảo đảm sự
thống nhất ý chí, thống nhất hành động của toàn Đảng. Bởi vì, nguyên tắc
TTDC là sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa hai mặt tập trung và dân chủ trong
một mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, chứ không phải chỉ là tập trung hoặc chỉ
là dân chủ. Hai mặt đó tuy mâu thuẫn nhau nhưng lại bổ sung cho nhau, thống
nhất với nhau, làm thành một nguyên tắc hoàn chỉnh. Dân chủ là điều kiện, là
tiền đề của tập trung, cũng như tập trung là cơ sở, là cái bảo đảm cho dân chủ
được thực hiện. Tác giả nhấn mạnh: Không nên hiểu dân chủ là “tính từ” của
12





tế III) cũng như nhiều đảng cộng sản của phong trào cộng sản quốc tế vận
dụng vào trong các hoạt động của đảng mình. Theo tác giả, C.Mác và
Ph.Ăngghen chưa đề cập thật rõ vấn đề TTDC trong xây dựng Đảng của giai
cấp công nhân. Trong Điều lệ của Đồng minh những người cộng sản, nội
dung về chế độ hay nguyên tắc TTDC chưa được xác định rõ nét lắm; chỉ đề
cập vấn đề tổ chức và có thể bãi miễn các thành viên, v.v.. V.I.Lênin mới là
người đầu tiên xác định một cách rõ ràng nhất nguyên tắc TTDC trong xây
dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản (Đảng Cộng sản), nhưng trong điều
kiện cụ thể của nước Nga và sau này là Liên Xô, việc thực hiện nguyên tắc ấy
có lúc còn nặng về tập trung. Chế độ TTDC hay nguyên tắc TTDC đều cùng
một nghĩa, đó là nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Cũng theo
tác giả, Hồ Chí Minh – lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam – coi nguyên tắc
TTDC và chế độ dân chủ tập trung đều cùng nghĩa, là nguyên tắc rất quan
trọng trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Chí Minh coi tập trung
và dân chủ phải luôn luôn đi đôi với nhau; dân chủ phải đi đến tập trung và
tập trung trên cơ sở dân chủ. Trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được
thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006, nêu rõ: “Đảng
Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ”, đồng thời xác
định 6 nội dung cụ thể không những về “tổ chức” mà chủ yếu là về “hoạt
động” hoặc “sinh hoạt” của Đảng. Cũng theo tác giả, vấn đề cơ bản nhất cần
nhận thức lại chế độ tập trung dân chủ theo quan điểm của V.I.Lênin chính là
bảo đảm các điều kiện cơ bản và có tính tiên quyết, đó là Đảng phải trong
sạch, vững mạnh, đảng viên tốt chiếm số đông trong tổ chức.
Đồng quan điểm về cách hiểu các khái niệm nêu trên, tác giả Bùi Phan
Kỳ còn mở rộng thêm, khái niệm chế độ tập trung dân chủ hay chế độ dân
chủ tập trung cũng có cùng cách hiểu thống nhất. Để chứng minh lập luận của
mình, trong bài “Tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức cơ bản giúp đảng
cộng sản loại bỏ mọi khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội” [41], tác giả đã

lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” [40, tr.61], cho rằng, do nước ta có
hoàn cảnh đặc thù về sản xuất, sinh sống và bảo vệ quyền độc lập tự chủ nên
sớm có được những tư tưởng và thiết chế dân chủ, nhưng đó không phải là
15


dân chủ rộng rãi cho mỗi người dân mà là dân chủ cộng đồng, dân chủ công
xã. Từ khi bị thực dân Pháp xâm lược, đô hộ, xã hội nước ta trở thành xã hội
thuộc địa, nửa phong kiến thì dân chủ cộng đồng truyền thống bị thủ tiêu, mà
dân chủ tư sản cũng bị ngăn cấm. Quyền dân chủ đối với dân ta còn là điều xa
lạ. Đảng ta lại hoạt động trong hoàn cảnh bất hợp pháp, điều kiện thực hiện
tập trung còn rất khó khăn. Nên Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh thành tố “dân
chủ” trong nguyên tắc TTDC và diễn đạt là “dân chủ tập trung”. Theo tác giả,
trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dân chủ vừa là mục đích, vừa là động lực
của sự phát triển xã hội. Cuộc cách mạng Việt Nam như Người xác định từ
đầu, đó là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó gọi là cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân, nhưng tất cả đều đặt mục tiêu dân chủ của nhân
dân lên hàng đầu. Chẳng những thế, quốc hiệu đầu tiên của nước ta trong thời
đại mới cũng đặt tiêu chí đầu tiên là dân chủ: Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Từ khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói: Nước
ta là một nước dân chủ. Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ
nghĩa Mác – Lênin và trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc. Người
chỉ ra các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó có nguyên tắc
TTDC và theo cách diễn đạt phổ biến của Người, đó là nguyên tắc “dân chủ
tập trung”. Tác giả còn dẫn ra, từ Đại hội I (tháng 3-1935) đến Đại hội II
(tháng 2-1951), các văn kiện của Đảng đều ghi là “dân chủ tập trung”. Chỉ từ
Đại hội III đến nay thì Đảng ta mới chính thức sử dụng thuật ngữ “tập trung
dân chủ”. Tuy nhiên, tác giả không giải thích vì sao Hồ Chí Minh không sử
dụng thuật ngữ “dân chủ tập trung” từ Đại hội này (Đại hội III, 1960).
Tóm lại, các tác giả cùng thống nhất rằng, tư tưởng về xây dựng đảng

nhận xét, đánh giá sự vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về chế độ tập trung
dân chủ ở Hồ Chí Minh trên một số tư tưởng chủ yếu như sau:
Thứ nhất, trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ có một vị trí đặc
biệt nổi bật. Người chẳng những để lại cho chúng ta một hệ thống các quan
niệm, quan điểm sâu sắc và hiện đại về dân chủ, xét về mặt lý luận, mà xét về
mặt thực tiễn còn nêu tấm gương mẫu mực về thực hành dân chủ cho chúng ta
noi theo. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi toàn Đảng đang tiếp tục đẩy
17


mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh,
triển khai cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội
XII.
Thứ hai, về chế độ TTDC, các tác giả cho rằng, đây là một phương diện
cấu thành nội dung tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh. Ở đây, Hồ Chí Minh
có sự sáng tạo khi vận dụng nguyên lý kinh điển mácxit về dân chủ. Hồ Chí
Minh diễn đạt nguyên tắc này là dân chủ tập trung. Cái mới ở Hồ Chí Minh là
đặc biệt chú trọng tới dân chủ, vận dụng đúng đắn quan hệ giữa dân chủ và
tập trung, bảo đảm cho mối quan hệ này lành mạnh, tích cực, không bị lệch
lạc, cực đoan. Người nhiều lần giải thích rằng thảo luận, tranh luận thẳng
thắn, nói rõ và nói hết ý kiến, cùng nhau tìm tòi chân lý, đạt tới sự thống nhất,
đó là dân chủ. Tôn trọng quyết định, chỉ thị, nguyên tắc, chấp hành mệnh lệnh
chỉ huy, chấp hành nghị quyết của các cấp lãnh đạo, của người lãnh đạo, đó là
tập trung. Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Kết
hợp giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách, đó là dân chủ tập trung.
Đảng là một tổ chức cách mạng, phải thống nhất tư tưởng, ý chí, hành động.
Kỷ luật của Đảng nghiêm minh, là “kỷ luật sắt” nhưng là kỷ luật tự giác.
Cũng có khi Người sử dụng khái niệm tập trung dân chủ nhưng vẫn luôn nhấn
mạnh dân chủ, tập trung trên cơ sở dân chủ. Người cũng thẳng thắn phê bình
một số cán bộ lãnh đạo của Đảng có lúc, có nơi không được dân chủ, cần phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status