ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HUỲNH THỊ HỒ DIỄM
ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
MÃ SỐ: 60.34.03.01
Đà Nẵng – Năm 2018
Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG
Phản biện 1: TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh
Phản biện 2: TS. Lê Đình Thăng
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà
Nẵng vào ngày 18 tháng 8 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Trung tâm Thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng
Thư viện trường Đại học Kinh tế, ĐHĐN
Minh.
Từ đó đưa ra một số hàm ý và đề xuất để nâng cao hiệu quả của các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của cấu trúc tài chính đến
hiệu quả của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung đề tài: Xem xét ảnh hưởng của cấu trúc tài
chính đến hiệu quả của các công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi không gian và thời gian: Đề tài nghiên cứu các công ty
phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh, trong khoản thời gian 5 năm (2012 - 2016).
4.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Dựa vào Báo cáo tài chính đã
được kiểm toán từ năm 2012 đến năm 2016 của các công ty phi tài
chính niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh,
tác giả tính toán các chỉ tiêu liên quan đến hiệu quả và cấu trúc tài
chính. Dữ liệu thu thập được là dữ liệu thứ cấp.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu nghiên cứu: Phân tích
tổng hợp, phân tích số liệu, so sánh đối chiếu.
- Phương pháp thống kê: Thống kê mô tả, phân tích quan hệ
tương quan giữa các biến, phân tích hồi quy….
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục đề tài gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cấu trúc tài chính và hiệu quả của
Theo giáo trình “ Phân tích hoạt động kinh doanh II” của Trương
Bá Thanh, Trần Đình Khôi Nguyên thì hiệu quả được xem xét trong
mối quan hệ giữa đầu ra (bao gồm các chi tiêu liên quan đến giá trị
sản xuất, doanh thu, lợi nhuận…) và đầu vào (bao gồm các yếu tố
như vốn chủ sở hữu, tài sản lao động…) (Trương Bá Thanh & Trần
Đình Khôi Nguyên, 2009) .
4
Để đạt hiệu quả cao, doanh nghiệp cần tối đa hóa các kết quả đầu
ra trong điều kiện các nguồn lực hạn chế của doanh nghiệp.
b. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả của doanh nghiệp
* Nhóm chỉ tiêu đo lường phản ánh hiệu quả từ góc độ doanh
nghiệp: Tỷ suất ROC, ROS, ROA và ROE là thước đo truyền thống
thường được sử dụng trong các nghiên cứu thực chứng trong và
ngoài nước.
- Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) được đo lường thông qua
Lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận sau thuế trên Doanh thu.
- Tỷ suất sinh lời trên vốn dài hạn(ROC): được đo lường thông qua
Lợi nhuận sau thuế trên Vốn đầu tư (Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu)
- Tỷ suất sinh lời tài sản(ROA): được đo lường thông qua Lợi
nhuận trước thuế và lãi vay trên tổng tài sản.
-Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE): được đo lường thông qua
Lợi nhuận sau thuế trên Vốn chủ sở hữu.
* Nhóm chỉ tiêu đo lường phản ánh hiệu quả từ góc độ nhà đầu tư:
- Hệ số giá trên thu nhập (P/E) được tính bằng giá thị trường của
một cổ phiếu trên EPS (thu nhập trên mỗi cổ phiếu).
- Chỉ số Tobin’Q được tính bằng giá trị thị trường của công ty
trên giá trị sổ sách của công ty. Trong đó:
+ Giá thị trường của công ty bao gồm giá thị trường của nợ và
biên của kiệt quệ tài chính.
Lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển bởi Myers và Majluf
(1984), cho rằng không có một tỷ lệ nợ tối ưu để tối đa hóa giá trị
công ty. Sự thay đổi tỷ lệ nợ trong cấu trúc tài chính bắt nguồn từ
việc tăng nhu cầu tài chính bên ngoài khi các quỹ sẵn có được sử
dụng đầy đủ. Tuy nhiên, ở đây ta có thể thấy nợ trong cấu trúc tài
chính có ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả của doanh nghiệp. Lý
6
thuyết này cho rằng nguồn tài chính tài trợ cho doanh nghiệp được
xếp theo thứ bậc: tài chính nội bộ được sử dụng đầu tiên, sau đó đến
nợ và vốn cổ phần được phát hành khi không thể tiếp cận được nhiều
nợ. Để tránh ảnh hưởng tiêu cực từ gánh nặng tài chính và sự pha
loãng quyền sở hữu, các nhà quản lý sẽ thích tài trợ bằng nguồn vốn
bên trong hơn nguồn vốn bên ngoài. Theo đó, các công ty có khả
năng sinh lời cao hơn, hoạt động hiệu quả hơn thường có xu hướng
ưu tiên sử dụng các nguồn sẵn có hơn để tài trợ cho các dự án của
mình hơn so với các công ty có khả năng sinh lợi thấp hơn, hoạt
động kém hiệu quả hơn. Từ đó, có thể kết luận rằng tỷ lệ nợ trong
cấu trúc tài chính ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả của doanh
nghiệp.
Phát triển bởi Jensen&Meckling (1976), Jensen (1986), lý thuyết
đại diện cho rằng cấu trúc tài chính ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu
quả của doanh nghiệp. Chi phí đại diện vốn chủ sở hữu là do mâu
thuẫn giữa chủ sở hữu và người quản lý, và chi phí đại diện nợ do
xung đột giữa chủ nợ và chủ sở hữu. Mâu thuẫn giữa các nhà quản lý
và chủ sở hữu là do các nhà quản lý cố gắng đạt được các mục đích
cá nhân thay vì tối đa hoá giá trị của công ty và lợi nhuận của cổ
đông. Jensen (1986) lập luận rằng với tỷ lệ nợ cao trong cấu trúc tài
dài hạn
Zeituna and Tianb (2007)
-
Muritala (2012)
-
Soumadi & Hayajneh(2011)
-
Nguyễn Thị Phương Thảo (2017)
-
Abor (2005)
+
Burja (2011)
+
Gill và cộng sự (2011)
+
-
Abor (2005)
-
8
Biến
Tác giả
Dananti và Cahjono (2017)
-
Shen (2017)
-
Lê Thị Phương Vy và Phan Thị Bích
Nguyệt (2017)
Do Xuan Quang & Wu Zhong Xin
(2014)
Quy mô
doanh nghiệp
Ảnh hưởng
-
+
Do Xuan Quang & Wu Zhong Xin
(2014)
+
Shen (2017) và Schulz (2017)
+
Zeituna and Tianb (2007)
+
Abor (2005)
+
Margaritis and Psillaki (2010)
+
Hồ Thị Hải Liên (2017)
+
Zeituna and Tianb (2007)
Tian và Zeitun (2007)
-
Chowdhury (2010)
-
kinh doanh
Tỷ trọng tiền
và tương
đương tiền
Ngành nghề
Lê Thị Phương Vy và Phan Thị Bích
Nguyệt (2017)
Zeituna and Tianb (2007) , Gill và
cộng sự (2011)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ảnh hưởng
+
+
10
2.1.2. Mô hình nghiên cứu
Từ các giả thuyết nêu trên, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu
như sau:
a ) Mô hình nghiên cứu về mối quan hệ tuyến tính giữa cấu
trúc tài chính và hiệu quả của doanh nghiệp
Mô hình 1: FP it = β0 + β1DAit + β2SIZE it + β3GROWTH it +
β4 TANGit + β5 AGE it + β6RISKit + β7LIQit + β8INDUST it + εit
Mô hình 2: FP
β4GROWTH
it
it
= β0 + β1SDAit + β2LDA
+ β5 TANGit + β6 AGE
it
it
+ β3SIZE
it
+
+ β7RISKit + β8LIQit + β9
INDUST it + εit
Mô hình 4: FP
β4LDA
2
it
+β5SIZE
it
it
= β0 + β1SDAit + β2 SDA2it + β3LDA
+ β6GROWTH
it
+ β7 TANGit + β8 AGE
it
+
it
+
Điểm khác biệt của mô hình nghiên cứu
Sử dụng thước đo ROA, ROE, P/E và Tobin'Q;
trong khi các nghiên cứu khác chỉ sử dụng một
hay một vài thước đo như nghiên cứu của Đoàn
Ngọc Phi Anh (2010), Do Xuan Quang & Wu
Zhong Xin (2014), Kiều Thị Xuân Thảo (2017),
Hồ Thị Hải Liên (2017) và Nguyễn Tấn Vinh
(2011).
Sử dụng thước đo tỷ suất nợ, tỷ suất nợ ngắn
hạn và tỷ suất nợ dài hạn; trong khi các nghiên
cứu khác chỉ sử dụng một hay một vài thước đo
như nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010),
Nguyễn Thị Ngọc Hà (2017) và Kiều Thị Xuân
Thảo (2017).
Đưa vào mô hình nghiên cứu 7 biến : SIZE,
GROWTH TANG, AGE, LIQ, RISK,INDUST.
3
Biến kiểm
Trong khi các nghiên cứu khác chỉ sử dụng một
soát
hay một vài biến như nghiên cứu của Lê Thị
Phương Vy và Phan Thị Bích Nguyệt (2017),
Đoàn Ngọc Phi Anh (2010), Do Xuan Quang &
Mẫu
trường chứng khoán phát triển phục hồi và ổn
nghiên
định hơn) so với các nghiên cứu của Lê Thị
cứu
Phương Vy và Phan Thị Bích Nguyệt (2017),
Đoàn Ngọc Phi Anh (2010), Do Xuan Quang &
Wu Zhong Xin (2014), Nguyễn Thị Phương
Thảo (2017), Nguyễn Thị Ngọc Hà (2017) và
Kiều Thị Xuân Thảo (2017).
14
2.2. ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN
2.2.1. Biến phụ thuộc phản ánh hiệu quả doanh nghiệp
Trong đề tài này, bốn thước đo phản ánh hiệu quả của doanh
nghiệp được sử dụng là ROA, ROE, P/E và Tobin’Q . Trong khi
ROA và ROE được sử dụng để đo lường hiệu quả từ góc độ doanh
nghiệp thì P/E và Tobin’Q dùng để đo lường hiệu quả từ góc độ nhà
đầu tư.
a.Đo lường phản ánh hiệu quả từ góc độ doanh nghiệp:
b.Đo lường phản ánh hiệu quả từ góc độ nhà đầu tư
2.2.2. Biến độc lập phản ánh cấu trúc tài chính: Tỷ suất nợ
(DA), tỷ suất nợ ngắn hạn (SDA) và tỷ suất nợ dài hạn (LDA).
2.2.3. Biến kiểm soát:Quy mô doanh nghiệp (SIZE), Tốc độ tăng
Tỷ suất nợ
ngắn hạn
Tỷ suất nợ dài
hạn
Quy mô
doanh nghiệp
Tốc độ tăng
trưởng
Cấu trúc
Nợ phải trả/
Tổng Tài sản
Nợ ngắn hạn/
Tổng Tài sản
Nợ dài hạn/
Tổng Tài sản
ln(tổng tài
sản)
(DTn- DT n-1)/
DT n-1
Tài sản cố
-/+
-/+
-/+
+
+
+
Tobin'Q
Ngành nghề
Tỷ suất sinh lời
của tài sản
Tỷ suất sinh lời
của Vốn chủ sở
hữu
Tỷ số giá cổ
phiếu trên thu
nhập
Chỉ số Tobin'Q
định /Tổng Tài
sản
Năm t – Năm
t0
Độ lệch chuẩn
của tỷ lệ Lợi
nhuận trước
thuế và lãi vay
và khấu hao
tài sản trên
tổng tài sản bq
(Tiền mặt và
tương đương
tiền)/ Tổng tài
sản
chính niêm trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
(HOSE) trong thời gian 5 năm 2012-2016; bao gồm 206 công ty*5 =
1030 quan sát. Các số liệu tài chính của các công ty được lấy từ báo
cáo tài chính đã kiểm toán và được công khai. Giá cổ phiếu được lấy
từ giá niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ DỮ LIỆU
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
17
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ
3.2. PHÂN TÍCH QUAN HỆ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN
TRONG MÔ HÌNH
3.2.1. Mối quan hệ tương quan giữa các biến phụ thuộc và
biến độc lập
3.2.2. Mối quan hệ tương quan giữa các biến độc lập với nhau
3.3. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH
3.3.1. Kiểm định các điều kiện liên quan đến mô hình:
Nghiên cứu thực hiện các kiểm định và xác định mô hình 1,2,3,4
phù hợp với phương pháp ước lượng FEM để giải thích cho mối
quan hệ giữa DA, SDA và LDA với các biến phụ thuộc ROA, ROE,
Tobin’Q. Đối với mô hình có biến phụ thuộc là P/E phù hợp với
phương pháp ước lượng Pooled OLS.
Tác giả sử dụng phân tích quan hệ tương quan giữa các biến trong
mô hình để kiểm định mối quan hệ giữa các biến độc lập với nhau,
căn cứ vào kết quả, tác giả sẽ xem xét tồn tại hay không hiện tượng
đa cộng tuyến trong mô hình.
Trong nghiên cứu, các hệ số hồi quy được ước lượng với sai số
bởi chỉ số Tobin’Q.
Kết quả của các biến số khác : Quy mô doanh nghiệp, tốc độ
tăng trường, cấu trúc tài sản cố định, thời gian hoạt động, tỷ trọng
tiền và tương đương tiền, rủi ro kinh doanh đều có ý nhĩa thống kê.
Một lần nữa khẳng định giả thuyết nêu ra, có mối quan hệ giữa các
biến kiểm soát nêu trên với hiệu quả của doanh nghiệp.
19
3.3.4. Phân tích hồi quy về mối quan hệ phi tuyến tính giữa
cấu trúc tài chính và hiệu quả của doanh nghiệp
a. Phân tích hồi quy về mối quan hệ phi tuyến tính giữa tỷ suất
nợ (DA) và hiệu quả của doanh nghiệp
Tồn tại một mối quan hệ phi tuyến tính giữa cấu trúc tài chính và
hiệu quả của doanh nghiệp được đo lường bằng ROE.
b. Phân tích hồi quy về mối quan hệ phi tuyến tính với biến độc
lập là SDA và LDA.
Đối với tỷ suất nợ ngắn hạn có mối quan hệ phi tuyến với
hiệu quả được đo lường bởi ROA, ROE, Tobin’Q. Có nghĩa, ở mức
nợ ngắn hạn thấp có thể làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp; tuy
nhiên, khi đòn bẩy đủ cao, việc tăng tỷ lệ nợ ngắn hạn có thể làm
giảm hiệu quả của doanh nghiệp.Và tỷ suất nợ dài hạn có mối quan
hệ phi tuyến với hiệu quả được đo lường bởi ROA, ROE. Tuy nhiên
mối quan hệ phi tuyến này ngược chiều với tỷ suất nợ ngắn hạn.
3.3.5. Ước lượng GMM
Kết quả này một lần nữa được khẳng định khi thực hiện kiểm
định theo phương pháp ước lượng GMM đối với mối quan hệ giữa
cấu trúc tài chính và hiệu quả của doanh nghiệp được đo lường bởi
ROA, ROE và Tobin’Q. Đối với mối quan hệ phi tuyến thì GMM hỗ
trợ kết quả tỷ suất nợ và tỷ suất nợ ngắn hạn có mối quan hệ phi
giảm hiệu quả hoạt động. Vậy nên, doanh ngiệp nên cân nhắc đầu tư,
gia tăng quy mô phải tương ứng với năng lực quản trị và tương ứng
với thực trạng doanh nghiệp. Có thể đầu tư vào tài sản ngắn hạn
trước để cải thiện và chủ động trong quá trình sản xuất kinh doanh
21
trước khi tính toán tới việc gia tăng tài sản dài hạn để có thể tăng
trưởng ổn định lâu dài.
Hàm ý thứ tư, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng: Nghiên cứu đã
chứng minh tốc độ tăng trưởng có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu
quả của doanh nghiệp. Do đó, để tăng hiệu quả, cần đẩy mạnh tốc độ
tăng trưởng. Để thực hiện điều này, doanh nghiệp có thể thực hiện
các biện pháp để gia tăng sức cạnh tranh như: Nâng cao hiệu quả
maketing, mở rộng thị phần,phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu
ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và
giảm giá thành sản xuất.
Hàm ý thứ năm, Đầu tư tài sản cố định hợp lý: Kết quả
nghiên cứu cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ trọng tài sản
cố định và ROA và ROE. Chính vì vậy, để gia tăng hiệu quả, các
doanh nghiệp nên: Đánh giá năng lực quản trị hiện tại của doanh
nghiệp; tình hình sản xuất; tiêu thụ; tài chính trước khi quyết định
mua hay thuê tài chính. Không nên sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu
tư tài sản cố định.Tăng cường duy tu, bảo dưỡng; thanh lý các tài sản
kém hiệu quả...
Hàm ý thứ sáu, cải thiện hiệu quả thời gian hoạt động trên
thị trường: Biến thời gian hoạt động có ảnh hưởng cùng chiều đến
hiệu quả của doanh nghiệp. Đây là một kết quả tiêu cực, thông qua
đó ta nhận thấy doanh nghiệp chưa tận dụng được kinh nghiệm và lợi
thế cạnh tranh của mình trên thị trường để cải thiện hiệu quả. Để cải
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
23
KẾT LUẬN
Đề tài đã đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc tài
chính đến hiệu quả của các công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh. Mô hình và giả thuyết đã được xây
dựng dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực chứng trong và
ngoài nước, cùng với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Nghiên cứu
sử dụng dữ liệu của 206 công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong thời gian 5 năm 20122016.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tồn tại mối quan hệ ngược chiều
giữa cấu trúc tài chính và hiệu quả của doanh nghiệp được đo lường
bởi ROA, ROE, P/E và Tobin’Q; ngoại trừ tỷ suất nợ dài hạn (LDA)
không có mối quan hệ với hiệu quả của doanh nghiệp được đo lường
bởi chỉ số Tobin’Q.
Tuy nhiên khi xét về mối quan hệ phi tuyến tính, kết quả đưa ra
cả hai ảnh hưởng của mức nợ, bao gồm cả ảnh hưởng cùng chiều và
ngược chiều đến hiệu quả của doanh nghiệp. Đối với tỷ suất nợ và tỷ
suất nợ ngắn hạn, ở hạn mức vay thấp thì nợ có thể làm tăng hiệu
quả của doanh nghiệp .Tuy nhiên, khi đòn bẩy đủ cao, việc tăng tỷ lệ
nợ có thể làm giảm hiệu quả của doanh nghiệp được đo lường bởi
ROE; và tỷ lệ nợ ngắn hạn có thể làm giảm hiệu quả của doanh
nghiệp được đo lường bởi ROA, ROE và chỉ số Tobin’Q. Và khi
hiệu quả được đo lường bởi P/E lại không tồn tại mối quan hệ phi
tuyến tính với cấu trúc tài chính. Đối với nợ dài hạn lại có mối quan
hệ phi tuyến tính ngược chiều với tổng nợ và nợ ngắn hạn. Cụ thể,
khi nợ vay dài hạn thấp thì hiệu quả doanh nghiệp giảm xuống. Khi