luận văn thạc sĩ quản trị tài sản tại công ty TNHH TNT express worldwide VN - Pdf 58

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------

NGUYỄN HOÀNG HẢI

QUẢN TRỊ TÀI SẢN TẠI CÔNG TY TNHH TNT
EXPRESS WORLDWIDE VN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2018
1


2

2


3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------

NGUYỄN HOÀNG HẢI

QUẢN TRỊ TÀI SẢN TẠI CÔNG TY TNHH TNT

6
MỤC LỤC


7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt

Tên đầy đủ

DN

Doanh nghiệp

TSNH

Tài sản ngắn hạn

TSDH

Tài sản dài hạn

TSCĐ

Tài sản cố định

KHTSCĐ
HĐKD


xuyên là yếu tố quan trọng để thúc đẩy hiệu quả doanh nghiệp.
Dưới góc độ thực tiễn, Công ty TNHH TNT Express Worldwide VN là công ty
ngành vận tải nên được Ban giám đốc ưu tiên về việc cung cấp dịch vụ, phát triển
mạng lưới hạ tầng. Do đó, vấn đề quản trị tài sản chưa được chú trọng nhiều. Tài
sản ngắn hạn có nhiều khoản nợ khó đòi đang gây ảnh hưởng đến tình hình kinh
doanh, tài sản cố định đang gặp khó khăn khi không sử dụng hiệu quả, khấu hao
lớn. Việc quản trị lượng tài sản có giá trị lớn còn yếu kém dẫn đến tình trạng hỏng
hóc, chi phí sửa chữa thay thế nhiều ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty.


10
Do đó để đứng vững trên thị trường, muốn khắc phục các hạn chế trên thì công tác
quản trị tài chính nói chung và quản trị tài sản nói riêng phải được xem xét, nghiên
cứu để có giải pháp phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh.
Từ đó cần thiết phải nghiên cứu công tác quản trị tài sản tại công ty TNT do
đó học viên nghiên cứu đề tài “Quản trị tài sản tại Công ty TNHH TNT Express
Worldwide VN” là đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quản trị tài
chính nói chung và quản trị tài sản nói riêng. Dưới đây là một số công trình nghiên
cứu có liên quan.
Luận văn thạc sĩ "Hoàn thiện công tác quản lý tài sản cố định tại công ty Điện
lực Hưng Yên” tại Đại học Mỏ Địa Chất năm 2015 đã tổng quan các lý luận và thực
tiễn về tài sản cố định và quản lý tài sản cố định. Phân tích thực trạng công tác quản
lý tài sản cố định tại Công ty Điện lực Hưng Yên trong đoạn từ 2010-2014, xác định
những kết quả tích cực và những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý TSCĐ tại
Công ty. Cuối cùng tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản
lý tài sản cố định tại Công ty Điện lực Hưng Yên.
Luận văn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn tại Công ty
TNHH Hệ thống Tin học - Viễn thông NDS” của tác giả Ngô Minh Trang tại Đại học

• Các nền kinh tế trưởng thành hơn đang cố gắng tìm cách mở rộng cuộc sống
của cơ sở hạ tầng của họ và cũng sẽ gặp những thách thức toàn cầu quan trọng như
thay đổi khí hậu. Trong sách tác giả đã nghiên cứu những tư duy quản trị tài sản có
thể cung cấp cấu trúc để hỗ trợ trong tất cả các kịch bản của sự biến động trong mỗi
nền kinh tế.
Sách "Strategic Asset Management Framework" của Government of South
Australia năm 1999 đã xuất bản sách hướng dẫn các chiến lược áp dụng cho tất cả
các tài sản vật chất hoặc các nhóm tài sản được kiểm soát bởi khu vực công. Cuốn
sách cũng hướng dẫn chỉ dẫn cách áp dụng cho tất cả các tài sản có giá trị vốn vượt
quá 10000 USD vào thời điểm mua lại. Trọng tâm là kiểm soát - một cơ quan không
cần sở hữu hoặc sở hữu vật chất để kiểm soát nó. Tài sản có thể là tài nguyên thiên
nhiên, công trình xây dựng, đất đai, nhà máy và thiết bị, tài sản di sản và di sản,


12
hoặc bất kỳ dạng cơ sở hạ tầng nào khác. Không bao gồm tài chính, thông tin và
nguồn nhân lực, bao gồm cả sở hữu trí tuệ. Khung quản trị tài sản áp dụng đặc biệt
đối với các cơ quan phi thương mại trong khu vực công. Quản lý các cơ quan
thương mại nên biết rằng các nguyên tắc chung áp dụng cho các tổ chức của mình
và họ phải nỗ lực để đảm bảo rằng các chính sách và quy trình sử dụng phù hợp với
các chính sách được đề cập trong cuốn sách này.
* Một số kết luận rút ra từ tổng quan nghiên cứu:
Trên thực tế đã có một số nghiên cứu về quản trị tài chính nói chung nhưng
vẫn chưa có nghiên cứu nào về quản trị tài sản của công ty ngành chuyển phát
nhanh, và cũng chưa có nghiên cứu nào về quản trị tài sản của Công ty TNHH TNT
Express Worldwide VN. Do đó đây là một khoảng trống nghiên cứu, đảm bảo tính
không trùng lặp của đề tài nghiên cứu này.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản trị tài
sản của Công ty TNHH TNT Express Worldwide VN. Từ đó đưa ra các giải pháp

6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản trị tài sản của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản trị tài sản tại công ty TNHH TNT Express
Worldwide VN
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện quản trị tài sản tại công ty TNHH TNT
Express Worldwide VN


14

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tài sản của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm tài sản của doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp, một tổ chức muốn tiến hành kinh doanh cũng đòi
hỏi phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó biểu hiện dưới dạng vật chất hay
phi vật chất và được đo bằng tiền gọi là tài sản. Hay nói cách khác, tài sản của
doanh nghiệp là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích
kinh tế trong tương lai như:
- Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản
xuất sản phẩm để bày bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
- Để bán hoặc trao đổi lấy tài sản khác.
- Để thanh toán các khoản nợ phải trả.
- Để phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp.
Theo định nghĩa khác, tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có
thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản
của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho
doanh nghiệp đó. Tài sản doanh nghiệp cơ bản công bố trên bảng cân đối kế toán
thể hiện cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế doanh nghiệp dùng vào hoạt động sản xuất

chuyển không ngừng trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên
vân động phức tạp và khó quản lý.
Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng khả năng thanh toán
của doanh nghiệp.
c. Phân loại tài sản ngắn hạn:
Sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả cần phân loại tài sản ngắn hạn theo những
tiêu thức khác nhau. Sau đây ta đi xem xét một số tiêu thức thường được sử dụng :
- Căn cứ vào các khâu của quá trình kinh doanh:
+ Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân
hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên - nhiên vật liệu tồn kho,
công cụ - dụng cụ, hàng gửi bán, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán.


16
+ Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: Bao gồm giá trị bán thành phẩm, các
chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước, các
khoản chi phục vụ cho khâu sản xuất.
+ Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành
phẩm tồn kho, vốn bằng tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh
toán, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn.
Theo cách phân loại này, vai trò và sự phân bố của tài sản ngắn hạn trong từng
khâu của quá trình luân chuyển được thể hiện một cách rõ ràng nhất, từ đó có các
biện pháp điều chỉnh hợp lý để mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.
- Căn cứ theo đặc điểm chu chuyển tài sản ngắn hạn:
- Tiền: Là bộ phận tài sản ngắn hạn tồn tại dưới hình thái tiền tệ bao gồm :
+ Tiền mặt tại quỹ: Là số tiền mà doanh nghiệp đang giữ tại quỹ của mình bao
gồm tiền Việt Nam, ngân phiếu, các loại chứng từ, tín phiếu có giá trị như tiền, vàng
bạc, kim khí quí, đá quý đang được giữ tại quỹ,…
+ Tiền gửi ngân hàng: Là số tiền hiện có trên tài khoản tiền gửi ngân hàng của

+ Nguyên liệu, vật liệu chính gồm: giá trị những loại nguyên vật liệu khi tham
gia vào quá trình sản xuất là bộ phận cơ bản cấu thành nên sản phẩm.
+ Vật liệu phụ: là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì
nó không chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất chế tạo, nó làm tăng chất
lượng của nguyên vật liệu chính của sản phẩm tạo ra.
+ Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc qua quá trình chế biến do các bộ
phận sản xuất chính và phụ của doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài gia công đã
xong, được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và nhập kho để bán.
+ Sản phẩm dở dang : là những sản phẩm đang nằm trong dây chuyền sản xuất
chưa hoàn thành, chưa bàn giao mà phải gia công chế biến tiếp mới trở thành sản phẩm.
+ Công cụ, dụng cụ lao động: là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử
dụng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, chúng không đủ tiêu chuẩn là
tài sản lưu động vì giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối ngắn.
+ Bao bì, vật liệu đóng gói: là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử
dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó luôn đi cùng với sản phẩm của doanh
nghiệp trong quá trình sản xuất và tiêu thụ.
- Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước và các
khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn,…


18
+ Các khoản tạm ứng: là các khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho
người nhận tạm ứng để thực hiện hoạt động kinh doanh nào đó hoặc giải quyết một
công việc đã được phê duyệt.
+ Chi phí trả trước: là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác
dụng đến kết quả hoạt động của nhiều kỳ thanh toán, cho nên chưa thể tính vào chi
phí sản xuất kinh doanh một kỳ mà được tính cho hai hay nhiều kỳ hạch toán.
Qua cách phân loại như trên ta thấy được tình hình tài sản ngắn hạn hiện có
của doanh nghiệp về hình thái vật chất cũng như đặc điểm của từng loại tài sản ngắn
hạn, để có thể đánh giá việc sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có hợp lý

- Có nguyên giá được xác định một cách đáng tin cậy và có giá trị từ
30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) trở lên.
- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên.
- Chắc chắn mang lại lợi ích trong tương lai.
Phân loại và đặc điểm của TSCĐ:
Phân loại theo hình thái biểu hiện:
Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện giúp cho nhà quản trị có một cái nhìn
tổng thể về cơ cấu đầu tư của DN. Đây là một căn cứ quan trọng để xây dựng các
quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh phương hướng đầu tư phù hợp với tình hình thực
tế. Ngoài ra, cách phân loại này còn giúp DN có các biện pháp quản trị tài sản, tính
toán khấu hao khoa học và hợp lý đối với từng loại tài sản. Theo phương pháp này,
toàn bộ TSCĐ của DN được chia thành hai loại:
- TSCĐ hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể (từng đơn vị tài
sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với
nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thỏa mãn các tiêu chuẩn
của TSCĐ hữu hình, tham gia vào nhiều chu kì kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên
hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc,...
- TSCĐ vô hình: Là những TSCĐ không có hình thái vật chất và có khả năng
tạo ra quyền, lợi ích kinh kế, thu nhập cho người có quyền sở hữu. Tuy nhiên một
số tài sản vô hình có thể được chứa đựng trong hoặc trên thực thể vật chất mà giá trị
của thực thể vật chất đó không đáng kể so với giá trị tài sản vô hình (ví dụ: hợp


20
đồng, hồ sơ đăng ký, đĩa mềm máy tính....). Giá trị của tài sản vô hình có thể ước
lượng được.
Phân loại theo quyền sở hữu
Phân loại theo quyền sở hữu giúp cho việc quản trị và tổ chức hạch toán phù
hợp theo từng loại TSCĐ, góp phần sử dụng TSCĐ một cách hợp lý và hiệu quả.
Dựa theo tiêu thức này, TSCĐ được chia làm hai loại:

Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn là các khoản đầu tư vào việc mua bán các
chứng khoán có thời hạn thu hồi trên 1 năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, hiện
vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi trên 1 năm và các loại đầu tư khác trên 1 năm.
Có thể nói tài sản tài chính dài hạn là các khoản vốn mà DN đầu tư vào các lĩnh vực
kinh doanh khác ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong thời hạn trên 1
năm nhằm tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho DN.
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn bao gồm:
- Các chứng khoán dài hạn: Phản ánh giá trị các khoản đầu tư cho việc mua
bán cổ phiếu và trái phiếu có thời hạn trên 1 năm và có thể bán ra bất cứ lúc nào để
kiếm lợi nhuận: Cổ phiếu DN, trái phiếu (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa
phương, trái phiếu công ty).
- Các khoản góp vốn liên doanh: góp vốn liên doanh là hoạt động đầu tư tài
chính mà DN đầu tư vốn vào DN khác để nhận được lợi nhuận kết quả kinh doanh
hoặc cùng chịu rủi ro với DN đó. Vốn góp liên doanh bao gồm các loại tài sản, vật
tư, tiền vốn thuộc quyền sở hữu của DN kể cả vốn vay dài hạn dùng vào việc góp
vốn kinh doanh.
Các khoản phải thu dài hạn
Cũng tương tự như các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản phải thu dài hạn là
những khoản nợ công ty chưa đòi được, tính cả nợ chưa đến hạn thanh toán nhưng
có thời hạn hơn 1 năm hoặc hơn 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh. Độ lớn cũng như
mức độ rủi ro của các khoản phải thu tùy thuộc vào chính sách tín dụng, tốc độ thu
hồi nợ cũ, tốc độ tạo ra nợ mới hoặc sự tác động của các yếu tố nằm ngoài sự kiểm
soát của DN như chu kỳ suy thoái của nền kinh tế, khủng hoảng tiền tệ. Trong quá
trình tồn tại, các khoản phải thu sẽ phát sinh chi phí quản trị nợ phải thu, chi phí thu
hồi nợ, chi phí rủi ro.


22
Các TSDH khác

23
loại đã trải qua lao động, được cải biến ít nhiều (công nghiệp chế biến). Sự phát
triển của cách mạng KHKT đã giúp con người tạo ra nhiều vật liệu mới có chất
lượng ngày càng tốt hơn để thay thế dần cho các nguyên vật liệu truyền thống đang
cạn kiệt.
Sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một
cơ thể con người đang sống và được người đó đem ra sử dụng khi sản xuất một giá
trị sử dụng nào đó. Bên cạnh đó, sức lao động còn là khả năng lao động của con
người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất. Lao động là sử dụng sức
lao động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên
cho phù hợp với nhu cầu con người.
Ta thấy, 2 trong 3 yếu tố tạo nên quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp tài sản. Vì vậy tài sản có vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất kinh
doanh của nghiệp.
1.1.3.1 Vai trò của tài sản ngắn hạn
TSNH rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp bởi đó là những tài sản được sử dụng trong cho hoạt động hàng ngày và chi
trả cho các chi phí phát sinh. TSNH được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các
công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục,
ổn định, tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng
đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản.
TSNH là những tài sản có thời gian sử dụng dưới một năm nên có khả năng
luân chuyển và thu hồi vốn nhanh hơn TSCĐ, đảm bảo lượng vốn hoạt động cho
các chu kỳ kinh doanh kế tiếp của doanh nghiệp.
TSNH cũng là yếu tố giúp cho các nhà đầu ư có thể nhận định về hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp. Lượng tiền bị tồn đọng trong hàng tồn kho hoặc
lượng tiền mà khách hàng còn đang nợ của doanh nghiệp cho dù đó vẫn là các tài
sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Vì vậy nếu một doanh nghiệp không
hoạt động ở mức hiệu quả cao nhất định (Ví dụ: thu hồi nợ chậm) thì điều này sẽ
biểu hiện ra ngoài bằng sự gia tăng trong TSNH. Có thể nhận thấy điều này rõ

hiểu quản trị tài sản tại DN là quá trình tổ chức, điều hành việc hình thành và sử
dụng tài sản của DN nhằm đạt được mục tiêu nhất định.


25
1.2.1 Quản trị tài chính doanh nghiệp và quản trị tài sản của doanh nghiệp
1.2.1.1 Quản trị tài chính của doanh nghiệp
Tài chính là một khái niệm nảy sinh từ hoạt động kinh tế của các chủ thể trong
nền kinh tế thị trường. Các chủ thể đó có thể là nhà nước, doanh nghiệp hoặc tổ
chức phi lợi nhuận, cá nhân, hộ gia đình.
Theo GS.TS. Đinh Văn Sơn: “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan
hệ kinh tế trong phân phối dưới hình thức giá trị của cải vật chất thông qua tạo lập
và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ kinh doanh và các yêu cầu
chung khác của xã hội”.
Theo TS. Nguyễn Minh Kiều định nghĩa: “Tài chính nói chung là hoạt động
liên quan đến việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ. Tài chính doanh nghiệp là
hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn
vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu
đề ra”.
Nhìn chung, các khái niệm về tài chính doanh nghiệp tuy có khác nhau giữa
các tác giả, nhưng đều đưa đến một sự thống nhất chung là: “Tài chính doanh
nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, phản ánh sự vận động và chuyển
hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối nhằm tạo lập hoặc sử dụng các
quỹ tiền tệ để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”.
Dưới góc độ quản trị thì quản trị tài chính doanh nghiệp được nhìn dưới góc
độ khác nhau như:
Theo Nguyễn Mạnh Cường (2015) thì "Quản trị tài chính doanh nghiệp là
việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định
đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của ddoanh nghiệp, đó là tối đa
hóa giá trị cho chủ doanh nghiệp hay tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status