Tóm tắt luận án Tiến sĩ Hóa học: Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của hai loài ngọc cẩu (Balanophora Laxiflora Hemsl.) và loài vú bò (Ficus Hirta Vahl) - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TRẦN ĐỨC ĐẠI

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ
HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA HAI LOÀI NGỌC CẨU
(BALANOPHORA LAXIFLORA HEMSL.) VÀ LOÀI VÚ BÒ
(FICUS HIRTA VAHL).

Chuyên ngành: H
Mã số: 62.44.01.14

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC

Hà Nội - 2018


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS. Trịnh Thị Thủy
Người hướng dẫn khoa học 2: TS. Nguyễn Quyết Tiến

Phản biện 1: PGS.TS. Phan Minh Giang
Phản biện 2: PGS.TS. Ngô Quốc Anh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp

đặc dụng Việt Nam bổ sung những tư liệu góp phần làm cơ sở khoa
học cho việc xây dựng chiến lược quản lý, bảo tồn và phát triển bền
vững tính đa dạng sinh học của rừng đặc dụng Việt Nam, làm sáng
tỏ những công dụng cây vú bò và cây ngọc cẩu mà dân gian vẫn
đang sử dụng. Do đó tôi chọn đối tượng đề tài “Nghiên cứu thành
phần hóa học và hoạt sính sinh học của hai loài ngọc cẩu
(Balanophora laxiflora Hemsl.) và loài vú bò (Ficus hirta
Vahl.)”
2. Mụ tiê ủ l ận án
- Nghiên cứu thành phần hóa học và khảo sát hoạt tính sinh học
của hai loài: loài ngọc cẩu (B. laxiflora) và loài vú bò (F. hirta).
3. N ng ng iên ứ
ín
- Phân lập và xác định cấu trúc hóa học hai loài toàn cây ngọc
cẩu (B. laxiflora) và rễ loài vú bò (F. hirta).
- Đánh giá một số hoạt tính độc tế bào, hoạt tính kháng viêm,
hoạt tính chống tăng sinh trên dòng tế bào tủy xương cấp tính


(OCI-AML) của các cao chiết và của một số hợp chất phân lập
được nhằm định hướng cho các nghiên cứu ứng dụng tiếp theo.
C ư ng 1. TỔNG QUAN
1.1. Giới t iệ về loài ng
ẩ (B. laxiflora)
1.2. Giới t iệ về i Ficus
1.2.1. Chi Ficus
1.2.2. Loài vú bò (F. hirta)
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC
NGHIỆM
Trình bày các nội dung: thu hái mẫu cây và xác định tên khoa

Chiết xuất này được hòa vào nước và chiết phân bố lần lượt với
các dung môi n-hexane, EtOAc và n-butanol. Quay cất dung môi
dưới áp suất giảm thu được các chiết xuất tương ứng.
2.2.2. Phương pháp phân lập các hợp chất
Các cặn chiết thu được tiếp tục được phân tách thành các phân
đoạn sử dụng các phương pháp sắc ký khác nhau tùy thuộc vào
từng cặn chiết cụ thể như: sắc ký hấp phụ silica gel pha thường,
sắc ký hấp phụ silica gel pha đảo, sắc ký trao đổi ion sử dụng
Diaion HP-20, sắc ký rây phân tử sử dụng Sephadex LH-20.
2.2.3. Phương pháp xác định cấu trúc các hợp chất sạch tách ra
từ mẫu nghiên cứu
Phương pháp xác định cấu trúc hóa học được xác định dựa
trên các thông số vật lý kết hợp với các phương pháp phổ gồm:
Độ quay cực [α]D, phổ hồng ngoại (IR), phổ tử ngoại (UV-Vis),
phổ khối phun mù điện tử (ESI-MS), phổ khối phân giải cao
(HR-ESI-MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều (1DNMR): 1H-, 13C-NMR và hai chiều (2D-NMR): HSQC, HMBC,
COSY, NOESY.
2.2.4. Phương pháp thử hoạt tính sinh học
2.2.4.1. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính gây độc tế bào
Phép thử tiến hành xác định hàm lượng protein tế bào tổng số
dựa vào mật độ quang học (OD – Optical Density) đo được khi
thành phần protein của tế bào được nhuộm màu bằng
Sulforhodamine B (SRB).
2.2.4.2. Phương pháp apoptosis thự hiện tại Đại học Y Perugia Đại học tổng hợp Perugia nước Cộng hòa Italy
Phương pháp này dùng để xác định số tế bào sống khi có mặt
tế bào chết.
2.2.4.3. Phương pháp thử nghiệm hoạt tính ức chế nitric oxide
(NOs inhibition) thực hiện tại viện Hóa học – Viện Hàn lâm và
Khoa học Việt Nam
Phép thử xác định khả năng ức chế sản sinh NO của tế bào

Hợp chất BL-8 (10 mg), dạng bột, màu vàng.
2.3.1.3.Từ cặn chiết ethyl acetate


Bằng các phương pháp sắc ký cột silica gel, Sephadex (LH20) và phương pháp kết tinh lại trong các dung môi thích hợp
phân lập được 7 hợp chất sạch ký hiệu từ BL-9 đến BL-15, theo
sơ đồ Hình 2.2.

Hình 2.2. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cặn chiết ethyl acetate
Các hợp chất phân lập được từ cặn chiết ethyl acetate
* Hợp chất BL-9 (methyl gallate)
Hợp chất BL-9 (63 mg), dạng bột màu trắng.
* Hợp chất BL-10 ( ất mới)- balanochalcone
Hợp chất BL-10 (7 mg), dạng dầu. Phổ khối phân giải cao
HR-ESI-MS, pic ion giả phân tử m/z 289,0696 [M+H-H2O]+. Phổ
FT-IR/KBr xuất hiện các tín hiệu dao động hóa trị của các liên
kết ʋmax (cm-1): 3200 (tù, rộng: -OH liên kết hdro), 1633 (mạnh:
>C=O), 1601-1530 (C=C nhân thơm). 1H-NMR (500 MHz,
CD3OD), δH (ppm): 6,94 (1H; s; H-4), 6,81 (2H; s; H-2 và H-6),
5,92 (1H; d; J = 2,0 Hz; H-5′), 5,90 (1H; d; J = 2,0 Hz; H-3′),
5,34 (1H; dd; J = 3,0 Hz; 7,5 Hz; H-β), 3,90 (1H; dd; J = 7,5;
17,0 Hz; H-α), 3,72 (1H; dd; J = 3,0 Hz; 17,0 Hz; H-α); 13C-


NMR (125 MHz, CD3OD), δC (ppm): 197,8 (>C = O), 168,4 (C4′), 165,5 (C-6′), 164,8 (C-2′), 146,9 (C-3), 146,5 (C-5), 131,8
(C-1), 119,3 (C-6), 116,3 (C-2), 114,7 (C-4), 103,4 (C-1′), 97,0
(C-3′), 96,2 (C-5′), 80,5 (C-β), 44,1 (C-α).
* Hợp chất BL-11 (β-hydroxydihydrochalcone)
Hợp chất BL-11 (20 mg), dạng chất rắn màu trắng đục. Phổ khối
phân giải cao HR-ESI-MS, pic ion giả phân tử m/z 291,2671 [M+H]+.

6,67 (1H, s, H-2′), 6,31 (1H, s, H-5′), 2,7 (1H, dd, J = 5,0; 4,5 Hz,
H-7′), 1,70 (1H, m, H-8′), 3,56 (2H, m, H-9′), 3,71 (3H, s, 3′-OCH3),
3,69 (3H, s, 5-OCH3), 5,0 (1H, d, J = 4,5 Hz), 3,1 -1,8 m. 13C NMR
(125 Hz, DMSO-d6,), δC (ppm): 13,6 (C-1), 113,3 (C-2), 147,3 (C3), 144,1 (C-4), 115,2 (C-5), 121,4 (C-6), 45,9 (C-7), 38,0 (C-8),
59,4 (C-9), 130,2 (C-1′), 112,2 (C-2′), 144,7 (C-3′), 146,8 (C-4′),
116,6 (C-5′), 132,6 (C-6′), 32,2 (C-7′), 45,3 (C-8′), 63,5 (C-9′), 55,71
(3′-OCH3), 55,67 (5-OCH3), 100,2 (C-1′′), 73,0 (C-2′′), 76,5 (C-3′′),
68,6 (C-4′′), 76,8 (C-5′′), 60,0 (C-6′′).
* Hợp chất BL-15 (daucosterol)
2.3.1.3. Từ cặn chiết methanol
Bằng các phương pháp sắc ký cột silica gel, Sephadex (LH20) và phương pháp kết tinh lại trong các dung môi thích hợp
phân lập được 5 hợp chất sạch từ cặn methanol ký hiệu từ BL-16
đến BL-20 (Hình 2.3).

Hình 2.3. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cặn chiết methanol
Các hợp chất phân lập được từ cặn chiết methanol
* Hợp chất BL-16 (5-hydroxymethylfurfural)


* Hợp chất BL-17 (methyl β-D-glucopyranoside)
Compound BL-17 (60 mg), crystalline.
* Hợp chất BL-18 (methyl 4-O-β-D-glucopyranosylconiferyl ether)
* Hợp chất BL-19
4-hydroxy-3,5-dimethoxybenzoyl
glucopyranoside (1-O-syringoyl-β-D-glucopyranose, erigeside C)
* Hợp chất BL-20 (lariciresinol 4-O-β-D-glucopyranoside)
Compound BL-20 (23 mg), white amorphous powder.
2.3.2. Phân lập các hợp chất từ rễ cây vú bò (F. hirta)
2.3.2.1. Chiết mẫu, tạo cặn chiết


27,35 ±
1,53

n-BuOH
42,33
16,46
8,75
3,09
>100

L-NMMA
102,54
70,08
35,91
14,02
7,81 ±
0,74

Bảng 2.2. Khả năng ức chế sự phát triển của tế bào RAW 264,7
% tế bào sống sót
Nồng độ
(µg/ml)
n-hexan
EtOAc
n-BuOH L-NMMA
100
104,25
33,29
99,67
95,45

định là C12H12O4. Phổ FT-IR/KBr xuất hiện các tín hiệu dao động
hóa trị của các liên kết ʋmax (cm-1): 3250 (rộng, tù vân hấp thụ của
nhóm –OH liên kết hidro), 2853 (-OCH3), 1710 (>C=O, α, β-,
no), 1623-1539 (C=C vòng benzen). 1H-NMR (500 MHz,
CDCl3), δH (ppm): 7,48 (1H, d, J = 2,5 Hz, H-2′) 7,28 (1H, s, H5), 7,04 (1H, s, H-8), 6,63 (1H, d, J = 2,5 Hz, H-3′), 3,68 (3H, s,
OCH3), 2,99 (2H, t, J = 7,0 Hz, H-4), 2,75 (2H, t, J = 7.0 Hz, H3). 13C-NMR (125 MHz, CDCl3), δC (ppm): 176,05 (C-2), 154,83
(C-7), 152,24 (C-9), 144,13 (C-2′), 123,91 (C-10), 121,67 (C-5),
121,09 (C-6), 106,03 (C-3′), 99,90 (C-8), 52,24 (OCH3), 35,56
(C-3), 24,83 (C-4).

Hình 2.5. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cao chiết EtOAc rễ cây vú



* Hợp chất F-2 (umbelliferone)
Hợp chất F-2 (15 mg), dạng tinh thể, điểm chảy 224-227 oC.
1
H-NMR (500 MHz, CD3OD), δH (ppm): 7,86 (1H; J = 9,5 Hz; H4), 7,47 (1H; d; J = 8,5 Hz; H-5), 6,81 (1H; d; J = 8,5 Hz; 2,5 Hz; H6), 6,73 (1H; d; J = 2,5 Hz; H-8), 6,20 (1H; d; J = 9,5 Hz; H-3). 13CNMR (125 MHz, CD3OD), δC ppm: 163,71 (C-7), 163,15 (C-2),
157,26 (C-9), 146,05 (C-4), 130,66 (C-5), 114,53 (C-6), 113,17 (C3), 112,36 (C-10), 103,43 (C-8).
* Hợp chất F-3 (bergapten)
Hợp chất F-3 (3 g), dạng tinh thể, màu vàng nhạt. 1H-NMR
(500 MHz, CDCl3), δH (ppm): 8,16 (1H, d, J = 10 Hz, H-4), 7,59
(1H, d, J = 2,5 Hz, H-9), 7,14 (1H, s, H-8), 7,02 (1H, d, J = 2,5 Hz,
H-10), 6,27 (1H, d, J = 10,0 Hz, H-3), 4,27 (3H, s, 5-OCH3). 13CNMR (125 MHz, CDCl3), δC (ppm): 161,34 (C-2), 158,53 (C-7),
152,87 (C-5), 149,72 (C-8a), 144,92 (C-9), 139,36 (C-4), 112,86 (C6), 112,73 (C-3), 106,59 (C-4a), 105,15 (C-10), 94,02 (C-8), 60,24
(-OCH3).
2.3.2.2. Cặn n-butanol

Hình 2.6. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cặn n-BuOH


Hz, H-4b), 3,25-3,22 (3H, m, H-5′′′). 13C-NMR (125 MHz,
DMSO-d6), δC (ppm): 159,70 (C-2), 112,55 (C-3), 140,03 (C-4),
151,26 (C-5), 110,30 (C-6), 156,95 (C-7), 94,85 (C-8), 147,67


(C-9), 105,89 (C-10), 146,24 (C-2′), 103,47 (C-3′), 99,03 (C-1′′),
78,48 (C-2′′), 76,67 (C-3′′), 69,79 (C-4′′), 76,97 (C-5′′), 60,59 (C6′′), 109,68 (C-1′′′), 76,0 (C-2′′′), 78,73 (C-3′′′), 73,29 (C-4′′′),
63,0 (C-5′′′).
* Hợp chất F-7 (adenosine)
Hợp chất F-7 (15 mg), dạng bột rắn, trắng. Phổ khối phân giải
cao HR-ESI-MS, pic ion giả phân tử m/z 268,1046 [M+H]+ (tính
toán lý thuyết cho công thức C10H14N5O4, 268,0968), vậy công thức
phân tử của F-7 được xác định là C10H13N5O4. 1H-NMR (500 MHz,
DMSO-d6), δH (ppm): 8,34 (1H, s, H-8), 8,13 (1H, s, H-2), 5,88
(1H, d, J = 6,0 Hz, H-1′), 4,61 (1H, dd, J = 6,0; 5,5 Hz, H-2′), 4,14
(1H, dd, J = 4,5; 3,0 Hz, H-3′), 3,96 (1H, dd, J = 3,5; 3,0 Hz, H-4′),
3,68-3,66 (1H, m, H-5a′), 3,57-3,54 (1H, m, H-5b′). 13C-NMR (125
MHz, DMSO-d6), δC (ppm): 156,11 (C-6), 152,32 (C-2), 149,04 (C4), 139,86 (C-8), 119,33 (C-5), 87,88 (C-1′), 85,84 (C-4′), 73,41 (C2′), 70,61 (C-3′), 61,64 (C-5′).
* Hợp chất F-8 (6-carboxy-umbelliferone)
Hợp chất F-8 (10 mg), dạng rắn, màu trắng. Phổ khối phân giải
cao HR-ESI-MS cho pic ion giả phân tử tại m/z 229,0104 [M+H]+
(tính toán lý thuyết cho công thức C10H7O5 229,0215), vậy công
thức phân tử của F-8 được xác định là C10H6O5. 1H-NMR (500
MHz, CD3OD): δH (ppm): 8,11 (1H; s; H-5), 7,89 (1H; d; J = 9,5
Hz, H-4), 6,70 (1H; s; H-8), 6,19 (1H; d; J = 9,5 Hz, H-3). 13C-NMR
(125 MHz, CD3OD), δC (ppm): 174,31 (-COOH), 167,22 (C-7),
163,46 (C-2), 158,76 (C-9), 146,46 (C-4), 132,34 (C-5), 118,47 (C6), 112,23 (C-3), 112,01 (C-10), 103,90 (C-8).
* Hợp chất F-9 (picraquassioside A)
Hợp chất F-9 (10 mg), dạng rắn, màu trắng. Phổ khối phân giải
cao HR-ESI-MS pic ion giả phân tử m/z 421,1108 [M+Na]+ (tính toán


Hình 3.2. Cấu trúc hóa học của hợp chất BL-10 và các tương tác
chính (H -> C) HMBC
Phổ HR-ESI-MS của hợp chất BL-10 xuất hiện pic ion giả
phân tử tại m/z 289,0698 [M+H-H2O]+ (tính toán lý thuyết cho
công thức C15H13O6 289,0740), vậy công thức phân tử của BL-10
được xác định là C15H14O7. Phổ FT-IR/KBr có đỉnh hấp thụ đặc
trưng nhóm hydroxyl ở (3200 cm-1), carbonyl (1633 cm-1) và
vòng thơm (1601 và 1530 cm-1) từ những lập luận trên kết hợp so
sánh với các tài liệu cho thấy hợp chất BL-10 có bộ khung βhydroxydihydrochalcone [119, 120]. Dựa vào phổ một chiều hai
chiều có thể suy luận chất BL-10 có cẩu tạo kiểu ABX. Có 5 tín
hiệu proton thuộc nhân thơm, có một nhóm (-CH2-). Phổ 13C-


NMR của BL-10 cho tín hiệu của 15 nguyên tử carbon gồm một
nhóm xeton (197,8 ppm), một nhóm methylene, một nhóm
oxymethine và tín hiệu của hai vòng benzene. Phổ 1H-NMR có 2
singlet δH 6,81 (2H) và 6,94 (1H) tương ứng với H-2, H-6 và H4.

Hình 3.3. Phổ HMBC của hợp chất BL-10 ( ất mới)
Phổ HMBC có tương tác của H-2 và H-6 với C-1, C-3, C-4,
C-5; H-4 tương tác với C-1, C-2, C-3, C-5 và C-β tương tác với
H-2 và H-6. Hai proton doublet ở δH 5,92 và 5,90 có cùng hằng
số (J = 2,0 Hz) đặc trưng cho hai vị trí ita (H-3′ và H-5′) của
vòng thứ hai. Tín hiệu của C-β cộng hưởng phía trường thấp δ
80,5 trong phổ 13C-NMR và phổ HMBC có tương tác của H-β
với carbon >C=O và H-α với C-β, >C=O, C-1. Từ những lập luận
ở trên và so sánh với các chất có cùng khung cấu trúc [119, 120],
hợp chất BL-10 được xác định là một dạng βhydroxydihydrochalcone mới và đặt tên là balanochalcone.
Không xác định được cấu hình tuyệt đối của C-β vì góc quay cực

bezofuran ở δH 7,48 (1H, d, J = 2,5 Hz; H-2’), 6,63 (1H, d, J =
2,5 Hz; H-3’), hai tín hiệu proton của nhân thơm ở 7,28 (1H; s;
H-5), 7,04 (1H; s; H-8). Ở 3,68 (3H; s; -OCH3) và các proton
không vòng ở 2,99 (2H; t; J = 7,0 Hz; H-4), 2,75 (2H; t; J = 7,0
Hz; H-3). Phổ 13C-NMR và phổ HSQC xuất hiện tín hiệu của 12
nguyên tử carbon ở δC 176,05 (C-2), 154,83 (C-7), 152,24 (C-9),
144,13 (C-2′), 123,91 (C-10), 121,67 (C-5), 121,09 (C-6), 106,03
(C-3′), 99,90 (C-8), 52,24 (-OCH3), 35,56 (C-3), 24,83 (C-4),
trong đó có 1 nguyên tử carbon carbonyl (>C=O) ở 176,05 (C-2),
2 nguyên tử carbon không vòng tại 35,56 (C-3), 24,83 (C-4), 4
carbon methine (CH) ở 121,67 (C-5), 99,90 (C-8), 144,13 (C-2’),
106,03 (C-3’) và 52,24 (2-OCH3).
Phổ HMBC xuất hiện các tương tác của proron ở δH 2,99 (H4) với nguyên tử carbon (C-5, C-9, C-10, C-2, C-3), ở 2,75 (H-3)
tương tác với (C-10, C-4, C-2), proton của nhóm (-OCH3) tương
tác với C-2 do đó gốc este và khung bezofuran liên kết với nhau
tại vị trí C-10 và C-4. Ngoài ra proton ở 7,28 (1H, s, H-5) tương
tác với các nguyên tử carbon (C-7, C-9, C-4, C-3’), proton ở 7,04
(1H, s, H-8) tương tác với các nguyên tử carbon (C-6, C-10, C-7,
C-9), H-5 không tương tác với C-8 và ngược lại điều này khẳng
định C-5 và C-8 ở vị trí đối diện nhau trong vòng benzene, các vị
trí nguyên tử hydro của vòng benzene còn lại đều bị thế. Vì ở
2,99 H-4 tương tác với nguyên tử carbon (C-5, C-9, C-10, C-2,
C-3) do đó C-10 (123,91) ở giữa C-9 (152,24) và C-5 (121,67)
trong vòng benzene (C-9 bị thế bởi nhóm -OH, C-10 thế bởi gốc
este) và hai vị trí còn lại của vòng benzene Tại vị trí liên kết giữa
121,09 (C-6) và 154,83 (C-7) liên kết với khung furan. Tại 7,48
(H-2’) tương tác với các nguyên tử carbon (C-7, C-6, C-3’), 6,63
(H-3’) tương tác với các nguyên tử carbon (C-7, C-5, C-2’, C-6)
do đó H-2’ và H-3’ tương ứng với C-2’, C-3’ liên kết trực tiếp
với nhau trong khung furan, ở 7,28 (H-5) tương tác với nguyên tử

apiofuranose δC 109,68 (C-1'''), 78,73, 76,00, 73,29, 63,00. Hai
đơn vị đường được xác định là cấu hình β-D trên cơ sở giá trị của
các giá trị J1,2 của hai hạt proton H-1' và H-1'' là 2,5 Hz và 8,0 Hz
, tương ứng [137-138]. Cấu hình β-anomeric của khung
apiofuranosyl được khẳng định thêm bởi tín hiệu anomeric tại δC
109,9 với 3JH-H = 1,2 Hz. Các tương tác HMBC quan sát được


giữa proton H-1'' (δH 5,34) và carbon C-2'' (δC 78,48), giữa
proton H-2'' (δH 3,57) và carbon C-1''' (δC 109,68), C-2'(δC 78,48)
chỉ ra rằng đơn vị đường 1 sẽ là O-β-D-apiofuranosyl(1 → 2)-Oβ-D-glucopyranoside.

Hình 3.7. Phổ HMBC của hợp chất hợp chất F-6
Các tương tác HMBC giữa proton H-1'' (δH 5,20) và carbon C-5
(δC 166,70) xác nhận rằng vị trí của đơn vị đường ở C-5
furanocoumarin. Các tương tác chính giữa (H→C) HMBC được
biểu diển trong (Hình 3.3). Các số liệu phổ NMR hai đơn vị đường
của hợp chất F-6 trùng khớp với số liệu NMR của các phân tử
đường đã được công bố trước đây [139]. Dựa vào các lập luận ở
trên, cấu trúc của F-6 được xác định là 5-O-[β-D-apiofuranosyl- (1
→ 2)-β-D-glucopyranosyl] bergaptol.

F-1

F-2

F-4

F-5


hợp
chất
dimethyl
6,
9,
10trihydroxybenzo[kl]xanthene-1,2-dicarboxylate (BL-12) có hoạt
tính gây độc tế bào trên dòng ung thư biểu mô (KB) với giá trị


IC50 lần lượt là 107,06 µM và 80,37 µM, các dòng tế bào ung thư
còn lại có hoạt tính yếu hoặc không có hoạt tính. Các hợp chất
còn lại có hoạt tính yếu hoặc không có hoạt tính.
3.3.1.2. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào thực hiện thử
nghiệm tại Đại học Y Perugia - Đại học tổng hợp Perugia nước
Cộng hòa Italy
Thử nghiệm hoạt tính chống tăng sinh trên dòng tế bào bạch cầu
tủy xương cấp tính (OCI-AML) đối với các hợp chất BL-1, BL-2,
BL-4, BL-6, BL-7, BL-9: Kết quả hợp chất BL-2 có tác dụng ở
nồng độ cao 1685 μM (300 μg/ml) và BL-9 có tác dụng ở 815
μM (150 μg/ml), có thể làm giảm số tế bào OCI, chủ yếu là do
kích thích apoptosis (gây chết tế bào theo chương trình). Hợp
chất BL-1 ở nồng độ 421,6 μM (75 μg/ml) và 210,7 μM (37,5
μg/ml) gây chết tế bào nhưng không đủ để làm thay đổi số tế bào
OCI trong chu kỳ tế bào. Hợp chất methyl 3,4dihydroxycinnamate (BL-4) là một hợp chất có hoạt tính mạnh vì
nó làm giảm số tế bào OCI thậm chí với nồng độ thấp đến 80,5
μM (15,62 μg/ml) và đây là kết quả của sự gia tăng apoptosis và
giảm sự tăng sinh. Hợp chất BL-6, BL-7 được xem như không
thể hiện hoạt tính.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
>❖ Kết l ận

độc tế bào trên 4 dòng tế bào ung thư: ung thư biểu mô KB, ung
thư gan Hep-G2, ung thư phổi Lu-1, ung thư vú MCF-7 của 4
chất sạch (BL-4, BL- 10, BL-11, BL-12) tách ra từ loài B.
Laxiflora.
Hợp chất BL-4, BL-12 có hoạt tính gây độc tế bào trên dòng
ung thư biểu mô KB với giá trị IC50 lần lượt là 107,06 và 80,37
µM. Các hợp chất còn lại có hoạt tính yếu hoặc không có hoạt
tính.
❖ Kết l ận
ng
Các kết quả của luận án đã thực hiện được mục tiêu đề ra là
nghiên cứu thành phần hóa học của các loài F. hirta và B.
laxiflora ở Việt Nam và thử nghiệm một số hoạt tính sinh học
của các chất sạch có hàm lượng lớn. Trong tổng số 31 hợp chất
tách ra được có: hai hợp chất mới, một hợp chất mới phân lập từ
tự nhiên, 8 hợp chất lần đầu tiên phân lập từ loài F. hirta, 3 chất
và một hỗn hợp có hoạt tính gây độc tế bào trên các dòng tế bào
ung thư thử nghiệm.
.
❖ Kiến ng ị
1. Tiếp tục nghiên cứu thành phần hóa học một số loài
Ngọc cẩu ở Việt Nam, tiếp tục nghiên cứu các bộ phận
của loài vú bò: lá, quả, thân ở Việt Nam.
2. Nghiên cứu sâu hơn về hoạt tính và cơ chế tác dụng của
các hợp chất có hoạt tính để làm rõ bản chất cũng như
làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status