Luận án tiến sĩ Lịch sử: Trí thức Việt Nam tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ QUỐC PHÒNG

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM

NGUYỄN THANH HÓA

TRÍ THỨC VIỆT NAM THAM GIA KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)
Chuyên ngành
Mã số

: Lịch sử Việt Nam
: 9 22 90 13

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS Trần Văn Thức
2. PGS.TS Nguyễn Văn Huy

HÀ NỘI, NĂM 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, tư
liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Nhiều
tư liệu và kết luận khoa học mới của luận án chưa từng được nghiên cứu, công bố trên
bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Những công trình nghiên cứu về đường lối, chính sách của Đảng đối với trí
thức
Những công trình nghiên cứu về đóng góp, vai trò của trí thức
Những ấn phẩm viết về lịch sử cuộc đời của các trí thức

Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và

Trang
1
1
3
3
4
5
5
6
7
7
7
11
15
19
26

những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
1.2.1.

Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng đối với trí thức
Bối cảnh lịch sử
Chủ trương của Đảng đối với trí thức
Những đóng góp của trí thức trong giai đoạn 1945-1950
Giáo dục
Y tế
Quân sự, quốc phòng
Kinh tế, tài chính
Văn học, nghệ thuật
Tiểu kết chương 2
CHƯƠNG 3: TRÍ THỨC VIỆT NAM THAM GIA KHÁNG CHIẾN

26
27
29
30
32
32
32
33
35
39
39
39
41
46
46
53
59
64

4.2.4.

Bối cảnh lịch sử
Quan điểm của Đảng đối với trí thức trong tình hình mới
Những đóng góp của trí thức trong giai đoạn 1951-1954
Giáo dục
Y tế
Quân sự, quốc phòng
Kinh tế, tài chính
Văn học, nghệ thuật
Tiểu kết chương 3
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
Một số nhận xét
Đặc điểm của trí thức Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp
Nguyên nhân tham gia kháng chiến của trí thức Việt Nam
Vai trò của trí thức tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp
Một số hạn chế của trí thức tham gia kháng chiến
Một số kinh nghiệm về việc vận động, phát huy vai trò trí thức trong
kháng chiến chống thực dân Pháp
Lấy mục tiêu độc lập dân tộc làm động lực để vận động, tập hợp trí thức
Tin tưởng và nhìn nhận đúng vai trò của người trí thức
Kinh nghiệm từ hạn chế của công tác vận động trí thức trong kháng chiến
chống Pháp
Kinh nghiệm về việc phát huy vai trò của trí thức trong thời đại ngày nay
Tiểu kết chương 4
KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN

85



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử mỗi dân tộc đều in dấu đậm nét vai trò của trí thức. Lịch sử Việt Nam
cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trí thức là nguồn lực quan trọng để phát triển đất
nước. Có thể khẳng định trí thức là chìa khóa cho các quốc gia “mở cửa”, ngày một
phát triển vững mạnh hơn.
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, mỗi thời kỳ lịch sử, đội ngũ trí thức đều có
những đóng góp rất quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng, xây dựng và phát
triển đất nước. Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quan tâm đến việc
vận động trí thức tham gia vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong mỗi thời
kỳ cách mạng khác nhau, Đảng có những sách lược vận động trí thức khác nhau. Đặc
biệt từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời, dưới ảnh hưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều trí thức trong và ngoài nước
đã tập trung về với Chính phủ mới để tham gia vào công cuộc xây dựng, bảo vệ chế độ
mới, tiếp đó là tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).
Thực tế lịch sử khẳng định đội ngũ trí thức đã có những đóng góp xứng đáng vào
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) là thời kỳ phát triển nở rộ của
trí thức Việt Nam. Trí thức có mặt và thể hiện vai trò ở hầu hết lĩnh vực của cuộc
kháng chiến. Thành viên Chính phủ hầu hết là trí thức. Từ sau Cách mạng tháng Tám
1945, Chính phủ Hồ Chí Minh đã thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc để đấu tranh
giải phóng dân tộc, trong đó nêu cao vai trò của tầng lớp trí thức. Dưới ảnh hưởng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều trí thức trong và ngoài nước đã tập trung về với chính
phủ mới để tham gia vào cuộc kháng chiến. Có thể nói trí thức là nhân tố quan trọng,
góp phần vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chủ tịch Hồ
Chí Minh từng khẳng định vị trí của người trí thức trong lúc cuộc kháng chiến đang
diễn ra ngày một ác liệt: “Trí thức Việt Nam đã gánh vác một phần quan trọng trong
cuộc kháng chiến cứu quốc và gánh một phần quan trọng trong công việc kiến quốc”

Hiện nay, vấn đề trí thức và vận động trí thức để xây dựng, phát triển đất nước
là vấn đề vô cùng quan trọng. Tình trạng chảy máu chất xám ra bên ngoài vẫn diễn ra
hàng ngày. Nhiều trí thức có tài, có đức song chưa có được môi trường làm việc tích
cực, chưa được trọng dụng, đãi ngộ một cách xứng đáng. Điều ấy làm ảnh hưởng tới
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Do vậy, những kinh nghiệm về vận động,
2


tập hợp trí thức trong kháng chiến chống thực dân Pháp vẫn còn ý nghĩa thực tiễn,
nhằm áp dụng vào tình hình thực tế.
Xuất phát từ lịch sử vấn đề nghiên cứu và nhận thức như vậy, NCS quyết định
lựa chọn đề tài “Trí thức Việt Nam tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp
(1945-1954)” để thực hiện luận án Tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
+ Làm rõ quá trình hoạt động, vai trò và đóng góp của trí thức Việt Nam cho gia
kháng chiến chống Pháp (1945-1954)
+ Rút ra những kinh nghiệm về việc vận động trí thức, phát huy vai trò trí thức
trong kháng chiến chống Pháp, để thúc đẩy vai trò của trí thức trong điều kiện đất
nước hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh về trí thức thời kỳ 1945-1954.
- Trình bày bối cảnh lịch sử, những hoạt động của trí thức Việt Nam tham gia
kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
- Đánh giá một cách khoa học, khách quan vị trí, vai trò và những đóng góp của
trí thức trong quá trình kháng chiến kiến quốc thời kỳ 1945-1954 ở một số lĩnh vực:
giáo dục, y tế, văn học-nghệ thuật, kinh tế-tài chính, quân sự-quốc phòng.
- Phân tích những đặc điểm, hạn chế của trí thức tham gia kháng chiến chống

1945-1954.
- Các nguồn tài liệu tiếp cận từ chính những người từng tham gia kháng chiến
chống Pháp, phân tích trải nghiệm, cảm nhận của chính họ. Các hồi ký, nhật ký của
các trí thức tham gia kháng chiến.
- Một số bài báo, tạp chí trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
- Các luận văn, luận án có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Ngoài ra, luận án còn sử dụng các nguồn tài liệu liên quan đến lịch sử hình
thành và đấu tranh của giới trí thức Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Trong đó tập trung vào các nguồn tài liệu về sự chuyển giao giữa các trí thức nho
học và các trí thức Pháp học; các phong trào đấu tranh như Đông du, Đông kinh
nghĩa thục…
4


5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Quá trình nghiên cứu, thực hiện luận án, tác giả vận dụng quan điểm của
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh và cách mạng.
- Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức và phát
huy vai trò của đội ngũ trí thức nói chung, trong kháng chiến chống thực dân
Pháp nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử, ngoài ra còn sử
dụng các phương pháp khác như logic, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… trong
đó chú trọng phương pháp phê phán sử liệu. Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng phương
pháp phỏng vấn nhân chứng, đối chiếu với các tư liệu lịch sử.
6. Đóng góp của luận án
- Về lý luận
+ Khái quát sự đóng góp và vai trò của trí thức Việt Nam tham gia kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược thời kỳ 1945-1954.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, có hàng trăm công trình nghiên cứu, bài trên các báo, tạp chí viết
về trí thức trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trên cơ sở những tài liệu thu thập
được, NCS nhận thấy trí thức được đề cập, nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, NCS muốn đề cập đến một số khuynh hướng, kết
quả nghiên cứu của các công trình, đề tài có liên quan đến trí thức trong cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp: (1) Những công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp; (2) Những công trình nghiên cứu về đường lối, chính sách của
Đảng đối với trí thức; (3) Những công trình nghiên cứu về đóng góp, vai trò của trí
thức; (4) Những công trình nghiên cứu về lịch sử cuộc đời của các trí thức.
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Có thể xem những công trình nghiên cứu loại này thuộc loại công trình nghiên
cứu gián tiếp liên quan đến đề tài luận án mà NCS thực hiện.
Bộ sách Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, lấy sự kiện
chiến thắng Biên giới 1950 làm mốc thời gian để phân chia hai giai đoạn nghiên cứu
của cuộc kháng chiến chống Pháp. Theo đó, công trình này được chia làm hai tập: Tập
1 từ năm 1945 đến 1950; Tập 2 từ năm 1951 đến 1954. Với cách phân chia như vậy,
cho thấy ý nghĩa của Chiến dịch Biên giới 1950 là vô cùng to lớn.
Theo nghiên cứu của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam thì ngoài ý nghĩa quân sự,
chiến thắng Biên giới còn có ý nghĩa quan trọng về mặt ngoại giao. Với chiến thắng
này: “đường giao thông quốc tế được mở ra trên nhiều hướng, hậu phương ta nối liền
với Trung Quốc láng giềng, với Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết và các
nước anh em khác ở Đông Âu” [190, tr. 572]. Từ đây trở đi, cuộc kháng chiến của
nhân dân Việt Nam nhận được nhiều viện trợ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa,
đặc biệt là Trung Quốc và Liên Xô. Ảnh hưởng của Trung Quốc, Liên Xô tới cuộc
kháng chiến của Việt Nam ngày một sâu rộng hơn, trong đó có ảnh hưởng tới việc ứng
xử với trí thức. Nghiên cứu sinh phân chia nghiên cứu về trí thức thành hai giai đoạn
1945-1950, 1951-1954 với ý nghĩa như vậy.
7

góp của các ngành, trong đó có trí thức trong cuộc kháng chiến.

8


Cuốn sách Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995, Tập 1: Ngoại giao
Việt Nam 1945-1975 [110] (1996), ông Lưu Văn Lợi đánh giá việc ra đời của nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (10-1949) có ảnh hưởng lớn tới cách mạng Việt Nam.
Ông cho rằng: “Năm 1950, đã chấm dứt tình trạng Việt Nam chiến đấu trong vòng vây
và đánh dấu bước chuyển biến mới” [110, tr. 144]. Kể từ đây Việt Nam nhận được
nhiều viện trợ của các nước Xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng chịu ảnh hưởng khá nhiều
từ Trung Quốc, Liên Xô. Thông qua cuốn sách này, có thể tìm hiểu thêm về hoạt động
và những đóng góp về ngoại giao của một số trí thức; đồng thời giúp ích trong việc tìm
hiểu về bối cảnh, hoàn cảnh ảnh hưởng tới quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với trí
thức Việt Nam sau khi mở quan hệ với Trung Quốc, Liên Xô 1950.
Trong cuốn Hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời kỳ
1945-1950, TS Nguyễn Trọng Hậu cho rằng “chiến thắng biên giới – sự phá vây trên thực
tế, bước ngoặt của ngoại giao Việt Nam” [74, tr. 238]. Ông cũng khẳng định: “Thắng lợi
của Chiến dịch Biên giới năm 1950 đã chấm dứt tình trạng Việt Nam chiến đấu trong
vòng vây của kẻ thù. Từ đây, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ của
nhân dân Việt Nam đã có một hậu phương rộng lớn, kéo dài từ Trung Quốc đến biển Ban
Tích” [74, tr. 243]. Thông qua cuốn sách này, có thể hiểu thêm về bối cảnh lịch sử, đóng
góp của những nhà trí thức ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nhà nghiên cứu Đặng Phong, với công trình: Lịch sử kinh tế Việt Nam, Tập 1:
1945-1954 [136], cố gắng dựng lại toàn cảnh bức tranh về tình hình kinh tế Việt Nam
trong kháng chiến chống Pháp. Cuốn Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám đến
kháng chiến thắng lợi (1945-1954) [45], do Trần Dương chủ biên, với sự tham gia của
các ông Hà Phú Hương, Lê Văn Ngọ, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Thượng Đạt, Vũ
Ngọc Khuê, Đặng Phong, đã trình bày một số nét tổng quát về nền kinh tế Việt Nam
trong thời kỳ lịch sử từ Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp thắng lợi

Việt Nam trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) mà trong
đó có sự đóng góp, tham gia của một số trí thức.
Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, có thể kể đến bài viết của Trần Thanh Giang:
Sự phát triển các lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
(1946-1954) [66]; GS.TS Trần Đình Sử với bài: Ý thức văn hóa của văn học cách mạng
Việt nam sau năm 1945 [157]; Nguyễn Phi Hoanh với cuốn sách: Lược sử mỹ thuật Việt
Nam [82]. Những bài viết, cuốn sách này trình bày về sự phát triển của lĩnh vực văn
hóa, văn học trong kháng chiến với sự tham gia của các trí thức, văn nghệ sĩ.
10


Nhìn chung, những công trình thuộc dạng liên quan gián tiếp đến đề tài luận án
giúp NCS tham khảo, bổ sung một số nội dung như: Có cái nhìn khái quát về bối cảnh,
tiến trình, những giai đoạn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; Sự tham gia,
đóng góp của các ngành, các lĩnh vực vào cuộc kháng chiến, kiến quốc, trong đó có sự
tham gia của các trí thức.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về đường lối, chính sách của Đảng đối
với trí thức
Đây là nhóm công trình quan trọng, phục vụ trực tiếp cho việc tham khảo của
đề tài luận án, có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến luận án. Nghiên cứu về đường
lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với trí thức diễn ra từ rất sớm, ngay khi cuộc
kháng chiến chống Pháp đang diễn ra. Có thể thấy rằng, những công trình trong nhóm
này bàn đến vấn đề trí thức ở một số khía cạnh sau: Trí thức với cách mạng, với kháng
chiến; quan điểm của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh với trí thức; vấn đề vận động, phát
huy vai trò của trí thức trong thời đại ngày nay.
Trong nửa cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (1951-1954), Liên Xô và Trung
Quốc là những nước có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Đặc biệt là Trung Quốc đã ủng
hộ và viện trợ cho Việt Nam rất nhiều, cả về vật chất, tinh thần và cử cố vấn sang giúp
cho Đảng, Chính phủ Việt Nam ở các lĩnh vực quân sự, kinh tế tài chính… Việc truyền
bá tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, các kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc vào

[95] đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và của Đảng Cộng sản Việt
Nam về vấn đề trí thức, sự hình thành và phát triển của trí thức Việt Nam trong lịch sử.
Năm 2004, GS Nguyễn Văn Khánh và các tác giả Đỗ Xuân Tuất, Lê Ngọc Tú xuất bản
công trình Trí thức với Đảng, Đảng với trí thức trong sự nghiệp giải phóng và xây
dựng đất nước [97], trong đó giới thiệu khái quát những luận điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và vai trò của trí thức trong sự
nghiệp cách mạng; khái quát về trí thức Việt Nam thời phong kiến, quá trình hình
thành, cơ cấu và mô hình trí thức Việt Nam trong phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc; điểm qua một số hoạt động của trí thức Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến; giới
thiệu một số quan điểm và đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò và những
đóng góp của trí thức trong sự nghiệp cách mạng… Tuy nhiên, cuốn sách này chưa
phân tích rõ vai trò của trí thức như thế nào thông qua những con người, những bộ
phận trí thức cụ thể.
12


Năm 2015, GS Nguyễn Văn Khánh tiếp tục cho in công trình Trí thức Việt Nam
trong tiến trình lịch sử dân tộc [99] trình bày các quan điểm khác nhau về trí thức, sự
hình thành và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ trung và cận, hiện đại;
tập trung làm rõ những hoạt động đóng góp của trí thức trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội
của đất nước, nhất là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước qua các thời kỳ.
Cuốn sách cũng giới thiệu tóm tắt thân thế và sự nghiệp của một số trí thức Việt Nam
tiêu biểu đã có những đóng góp nổi bật trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, quân sự, ngoại giao, khoa học, văn học nghệ thuật… Nhìn chung, công trình này đề
cập nội dung khá rộng, trong đó có những sự kiện, nhân vật còn đang được tiếp tục
nghiên cứu và có những ý kiến đánh giá khác nhau.
PGS.TS Đức Vượng trong bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề trí thức [199]
đã khái quát 10 điểm về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với trí thức. Những vấn đề đó nhấn
mạnh việc cần thiết phải có nhận thức đúng đắn đối với trí thức; người trí thức cần phải

lần thứ 2, 2-1951...), chưa làm rõ những quan điểm, chính sách cụ thể của Đảng,
Chính phủ đối với trí thức. Tuy nhiên, thông qua cuốn luận văn này, có thể kế thừa tư
liệu về chủ trương của Đảng đối với trí thức trong thời kỳ 1945-1954, để thấy được
những bước chuyển biến trong quan điểm của Đảng đối với trí thức, đồng thời qua đó
mở rộng, nghiên cứu sự đóng góp của trí thức ở các lĩnh vực khác nhau dựa trên sự
lãnh đạo của Đảng.
Luận án tiến sĩ Đảng vận động trí thức trong đấu tranh giải phóng dân tộc từ
năm 1930 đến năm 1945 của Đặng Thị Minh Phượng, bảo vệ năm 2015, tập trung làm
sáng tỏ công tác trí vận của Đảng thời kỳ 1930-1945, khẳng định sự đúng đắn, sáng
tạo của Đảng, của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc hoạch
định đường lối, chủ trương, chính sách về công tác trí vận. Trên thực tế, luận án đã
góp phần hệ thống hoá quan điểm của Đảng về trí thức và công tác vận động trí thức
trong thời kỳ 1930-1945; cung cấp những luận cứ khoa học, kinh nghiệm trong việc
vận động trí thức ở những giai đoạn lịch sử tiếp sau. Ý nghĩa khoa học lớn nhất của
luận án là làm sáng tỏ công tác trí vận của Đảng thời kỳ 1930-1945, khẳng định sự
đúng đắn, sáng tạo của Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc hoạch định đường lối,
chủ trương, chính sách về công tác trí vận. Luận án giúp cho những người nghiên cứu
đi sau có cái nhìn khách quan về quan điểm của Đảng, chủ trương vận động trí thức
thời kỳ 1930-1945, là cơ sở để tiếp cận thời kỳ lịch sử 1945-1954.
14


1.1.3. Những công trình nghiên cứu về đóng góp, vai trò của trí thức
Trong phần này, NCS chia các công trình nghiên cứu thành hai nhóm: những
công trình nghiên cứu có liên quan gián tiếp và những công trình có liên quan trực tiếp
đến đề tài luận án.
Nhóm những công trình liên quan gián tiếp đến đề tài luận án
PGS.TS Chương Thâu có những tìm tòi và đóng góp mới trong công trình Góp
phần tìm hiểu Nho giáo - nho sĩ - trí thức Việt Nam trước 1945 [166]. PGS.TS Chương
Thâu đã khái quát lược sử Nho giáo Việt Nam và đưa ra những nhận xét về Nho sĩ Việt

khác nhau, đặc biệt là đặt đối tượng nghiên cứu vào trong bối cảnh xuất thân, đặc điểm
học vấn, bối cảnh chính trị, xã hội để tìm ra các điểm chung. Tác giả đã khảo sát rất cụ
thể tiểu sử và hành trình xã hội của ba thế hệ trí thức, những chuyển biến mang tính
khủng hoảng hay thử thách của từng thế hệ trong bối cảnh đất nước, khu vực và thế
giới. Từ trong các thế hệ trí thức, ông tìm ra nhóm trung tâm của mỗi thế hệ để phân
tích, đánh giá. Mục tiêu của ông là: “muốn qua thời kỳ lịch sử cận đại và hiện đại đầy
biến động và sóng gió của đất nước, tầng lớp trí thức Việt Nam đã trải nghiệm và ứng
phó như thế nào, từ đó tìm ra truyền thống của họ. Dĩ nhiên, mẫu số chung của mọi
tầng lớp xã hội, của cộng đồng người Việt nói chung là chủ nghĩa yêu nước. Nhưng
trong giá trị truyền thống chung đó, người trí thức Việt Nam còn mang truyền thống gì
qua sự tự hiển thị trong cách ứng xử, trong nhân cách và phong thái… đó là truyền
thống nho sĩ” [165, tr. 11-12]… GS Trịnh Văn Thảo cũng đề cập cụ thể đến nhiều trí
thức tên tuổi như: Đặng Thai Mai, Huy Cận, Tô Hoài, Vũ Đình Hòe, Vũ Văn Hiền,
Phan Anh, Hoàng Xuân Hãn…
Nhóm những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài luận án
Một số bài như: Ý nghĩa Cách mạng tháng Tám đối với trí thức Việt Nam [152]
của Đỗ Xuân Sảng; hay Hoàng Văn Đức với các bài: Trí thức Việt Nam trong cuộc cách
mạng dân chủ [62] và bài Hiện trạng đời sống viên chức trí thức [63] đã được công bố
từ rất sớm. Những bài viết nói trên một mặt nêu rõ ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng
tháng Tám đối với người trí thức, mặt khác, khái quát sự tham gia, đóng góp của người
trí thức đối với cuộc kháng chiến.
Nghiên cứu về trí thức Nam bộ được chú ý quan tâm hơn so với ở miền Bắc.
Năm 2002, các ông Hồ Hữu Nhựt, Trần Văn Giàu, Huỳnh Văn Tiểng..., cho ra đời
công trình Trí thức Sài Gòn - Gia Định 1945-1975 [132]. Những tác giả của cuốn sách
16


này là những trí thức vốn tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp, họ nhìn lịch sử
dưới con mắt của người vừa là nhân chứng, vừa là chủ thể lại vừa là nhà khoa học
nghiên cứu lịch sử. Cuốn sách trình bày sự chuyển hoá bản thân và hoạt động của đội

dù đề cập đến vai trò của trí thức trong các lĩnh vực, nhưng tác giả lại chủ yếu trình
bày đến các sự kiện của cuộc kháng chiến và kết quả của những lĩnh vực ấy, chưa gắn
với những trường hợp trí thức cụ thể. Hơn thế nữa, như tác giả thừa nhận trong phần
mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu thì luận văn này trình bày còn chưa được đầy đủ hoạt
động của trí thức trong từng lĩnh vực, chưa khái quát được toàn diện những đóng góp
đó. Đặc biệt còn chưa đi sâu phân tích các trường hợp trí thức tiêu biểu, cụ thể trong
từng lĩnh vực và cũng chưa lý giải tại sao họ lại tham gia kháng chiến. Luận văn chỉ
mới điểm qua một cách khá sơ lược những đóng góp của trí thức trong vài lĩnh vực
chủ yếu, chưa đặt trí thức và đóng góp của họ trong mối quan hệ với những chính
sách, chủ trương chung của Đảng đối với trí thức. Ngoài ra, những vấn đề luận văn đặt
ra, như lý giải nguồn gốc, cơ cấu, thái độ chính trị của trí thức trong kháng chiến,
nhưng trên thực tế vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Mặc dù chưa giải quyết thấu đáo
nhiều vấn đề, nhưng luận văn giúp nhận biết được những vấn đề còn trống về nghiên
cứu trí thức để tìm cách khỏa lấp các phần còn chưa được nghiên cứu, hoàn thiện hơn
trong công trình của mình.
Luận văn Sự ra đời và hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam trong những
năm 1944-1964 của Phạm Thị Mai Thủy, 2006 [168] đã khái quát toàn bộ quá trình ra
đời, hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam – một chính đảng của trí thức, tiểu tư sản
từ khi ra đời cho đến năm 1964. Tác giả luận văn đã phân tích hoạt động của các nhóm
và tổ chức khác nhau của trí thức như Hướng đạo sinh của Hoàng Đạo Thuý, Tạ
Quang Bửu, nhóm trí thức của Dương Đức Hiền, nhóm trí thức cấp tiến trong Tạp chí
Thanh Nghị... đến hệ thống tổ chức, điều lệ của Đảng Dân chủ Việt Nam để khái quát
thành luận điểm: được sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngay sau khi ra
đời, Đảng Dân chủ Việt Nam, đã tự nguyện đấu tranh theo đường lối và sự lãnh đạo
của Đảng, là một thành viên tích cực của Mặt trận Dân tộc thống nhất, là hiện thân
sống động của công tác trí vận của Đảng trong giai đoạn tiền khởi nghĩa. Luận văn có
một chương nói về hoạt động của Đảng Dân chủ trong thời kỳ 1945-1954, là thời gian
mà đề tài luận án quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, chương này cũng chỉ đề cập tới sự
tham gia của Đảng Dân chủ vào những hoạt động, sự kiện lớn của cuộc kháng chiến,
18

Giáo sư, bác sĩ Trần Hữu Tước là người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pháp về
nước năm 1946 tham gia kháng chiến chống Pháp. Ông có nhiều đóng góp quan trọng
19


cho nền y tế kháng chiến. Cuốn sách Trần Hữu Tước - Cuộc đời và sự nghiệp [180] giới
thiệu các bài viết của bác sĩ Trần Hữu Tước, thể hiện lập trường kiên định, tin tưởng
tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các quan điểm về y học
và y tế, phát triển khoa học kỹ thuật trong thời đại mới. Sách còn giới thiệu nhiều bài
viết của bác sĩ Trần Hữu Tước, nói về sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ
tướng Phạm Văn Đồng và các vị lãnh đạo khác đối với ông... Phần hai giới thiệu một số
tư liệu quý và các bài viết của một số đồng nghiệp, bạn bè và học trò, thể hiện tài năng,
đức độ và sự cống hiến của bác sĩ Trần Hữu Tước. Cuốn sách cho thấy, bác sĩ Trần Hữu
Tước là một trong những trí thức có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển nền
y tế Việt Nam trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp.
Bác sĩ Đặng Văn Ngữ là một trí thức được đào tạo bởi nền giáo dục của Nhật
Bản. Năm 1949, ông từ Nhật trở về nước, lên Việt Bắc tham gia kháng chiến, có vai trò
quan trọng đối với việc giảng dạy, đào tạo ở trường Đại học Y. Ông là người nghiên cứu
thành công cách sản xuất thuốc penicilin - loại thuốc kháng sinh mới này đã góp phần
rất lớn trong điều trị chống nhiễm khuẩn cho thương binh và nhân dân trong kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này. Cuốn sách Đặng Văn Ngữ - Một trí tuệ Việt
Nam [57] giới thiệu những bài viết của GS Đặng Văn Ngữ khi tham gia kháng chiến
chống Pháp, những đóng góp của ông trong việc xây dựng nền y học Việt Nam.
Nghiên cứu về Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên có một cụm xuất bản
phẩm như: Tiếp bước chân cha (Hồi ký viết về Giáo sư Nguyễn Văn Huyên) (2003)
[71]; Nguyễn Văn Huyên - Một tấm gương đáng quý và cao đẹp (2007) [125] gồm các
bài viết về giáo dục trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ và viết về sự nghiệp nghiên
cứu dân tộc học. Ngoài ra, có thể kể đến cuốn Nguyễn Văn Huyên - cuộc đời và sự
nghiệp [124], giới thiệu các bài viết, bài nghiên cứu, đánh giá của những người cùng
thời, học trò, đồng nghiệp về Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên; giới thiệu một số bài viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status