BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC
GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐẶNG THÁI BÌNH
KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THA HÓA VỀ ĐẠO ĐỨC
CỦA MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 92 29 001
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.Trần Phúc Thăng
2
HÀ NỘI – 2018
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Luận án này được GS.TS. Trần Phúc Thăng hướng dẫn. Các số
: Sắc lệnh
: Chủ nghĩa xã hội
: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
9
ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hơn 88 năm, từ khi Đảng ra đời cho đến nay chưa có thời kỳ nào lại đề
cập nhiều đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của
một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý như giai đoạn hiện nay. Tình trạng này lan
rộng ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực. Thực chất, đây là tình trạng tha hóa về
đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đề cập đến vấn đề này
Đảng liên tục đưa ra các chỉ thị, nghị quyết nhằm khắc phục tình trạng này, cụ
thể là: Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) về “Một số nhiệm vụ đổi mới và
chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2 khoá VIII) về “Một số vấn
đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay ”; Kết luận Hội
nghị Trung ương 4 (khoá IX) về “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng,
chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết
Trung ương 3 (khoá X): “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu
tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Tiếp theo là Nghị quyết Trung ương 4
(Khóa XI) với nội dung cốt lõi là 3 vấn đề cấp bách và 4 nhóm giải pháp nhằm
hạn chế tối đa tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo,
quản lý; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã đưa ra 27 biểu hiện suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán
Nhận thấy vấn đề khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ
phận cán bộ lãnh đạo, quản lý là vấn đề cấp bách cần phải quyết liệt thực hiện,
tôi chọn vấn đề “Khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận
cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ triết
học của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về khắc phục tình trạng tha hóa đạo đức và thực trạng
việc khắc phục tình trạng này, luận án luận giải một số quan điểm và giải pháp
chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của
một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.
11
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận tha hóa về đạo đức và khắc phục tình
trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam
hiện nay.
Thứ hai, khái quát về thực trạng, nguyên nhân của thực trạng khắc phục
tình. trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới và nêu một số vấn đề đặt ra từ thực trạng này.
Thứ ba, luận giải một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh
đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh
đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về lý luận, luận án góp phần làm rõ những biểu hiện của tình trạng tha
hóa đạo đức và quan niệm khắc phục tha hóa đạo đức của một bộ phận cán bộ ở
Việt Nam hiện nay.
Về thực tiễn: Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng đội
ngũ cán bộ của Đảng và vấn đề chống tiêu cực ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
và cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn: Triết học; Đạo đức học và các môn liên
quan đến giáo dục đạo đức cán bộ, đảng viên trong các trường Chính trị, học
viện, trường Đại học và các trường Cao đẳng.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận án gồm 3 chương, 7 tiết.
13
14
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN
Trong những năm gần đây xuất hiện nhiều công trình khoa học nghiên cứu
tình trạng tha hóa cả về lý luận và thực tiễn. Các công trình nghiên cứu đặc biệt
tập trung vào vấn đề tha hóa đạo đức. Cụ thể:
1.1. Những công trình liên quan đến vấn đề lý luận về khắc phục tình trạng
tha hóa và tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
Việt Nam hiện nay
1.1.1. Lý luận về đạo đức
Đạo đức là một phạm trù được hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại.
Từ xưa đến nay, có nhiều nhà triết học, nhà tư tưởng bàn về đạo đức. Ở mỗi thời
kỳ lịch sử, mỗi dân tộc khác nhau người ta có những quan niệm về đạo đức khác
phát huy vai trò chủ thể cá nhân, là cơ chế tốt cho nhân cách phát triển trong
điều kiện hiện nay”[40]. Điều này cũng chỉ đúng ở khía cạnh nhất định. Tuy
nhiên, chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận cạnh tranh, từ chỗ cạnh tranh
đánh vào lợi ích của con người mà lợi ích của con người cũng có hai mặt, lợi
ích chính đáng và lợi ích không chính đáng. Khi nào con người biết điều chỉnh
hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng thì con người sẽ điều chỉnh
được lợi ích chính đáng. Khi điều chỉnh được lợi ích chính đáng thì “không
những tạo ra những sản phẩm thoả mãn các nhu cầu cá nhân của mình, góp
phần làm giàu cho bản thân, mà còn góp phần xoá đói, giảm nghèo, làm giàu
cho xã hội” và “đến lượt nó, sự giàu có chính đáng của cá nhân đã làm nảy sinh
ở con người những tấm lòng hào phóng, từ thiện, sự thân ái, lòng vị tha” [40],
khi ấy hành vi đạo đức của con người được xã hội đồng tình. Ngược lại khi
con người tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân thì con người dễ bị tha hóa về đạo đức
và khi ấy xã hội sẽ lên án.
Trên cơ sở phân tích mối quan hệ lợi ích cá nhân, lợi ích cộng đồng, tác giả
chỉ ra mặt trái của cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay có tác động tiêu cực
tới đạo đức truyền thống:
Một là, xem nhẹ đạo đức truyền thống, không đề cao đạo lý, chạy theo lối
sống gấp, sống vội và sa vào lối sống trụy lạc.
Hai là, sự phản ứng của xã hội đối với các hành vi vô đạo đức, phi đạo
đức cũng giảm đi; sự lên án những thói hư, tật xấu và những hành vi vô đạo
đức, phi đạo đức không được đề cao. Tình trạng số người có quan điểm thờ ơ
với những tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng.
Ba là, thói đạo đức giả ngày càng có chiều hướng gia tăng.
Tất cả những biểu hiện trên là do lối sống thực dụng, chạy theo danh lợi cá
nhân, coi thường lợi ích cộng đồng. Có thể nói vấn đề tuyệt đối hóa lợi ích cá
nhân trong nền kinh tế thị trường là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tha hóa về
đạo đức. Muốn điều chỉnh vấn đề này thì phải xem xét về mặt lợi ích, lợi ích đó
có phù hợp với lợi ích chung của xã hội hay không. Đồng thời, không nên phán
xét một cách tầm thường, sự xuống cấp về đạo đức bắt nguồn từ khuyến khích
nữa .
Thứ hai, muốn việc giáo dục đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư” tốt hơn thì phải khôi phục và đẩy mạnh phong trào thi đua
“Người tốt, việc tốt”, thực hiện nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức trong
cán bộ, đảng viên.
Thứ ba, phương pháp giáo dục đạo đức cách mạng là phải kết hợp chặt chẽ
giữa “xây và chống”. “Xây dựng ý thức và thói quen hành vi đạo đức cho cán bộ,
đảng viên không đơn thuần chỉ là quá trình tuyên truyền, giáo dục về các giá trị,
chuẩn mực đạo đức cách mạng, mà còn là quá trình đấu tranh, khắc phục, loại
bỏ dần thói hư, tật xấu của con người” [13].
Từ những phân tích trên tác giả đi đến kết luận: mỗi cán bộ, đảng viên, cho
đến người dân, ai cũng phải có ý thức tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Việc tu
dưỡng đạo đức cách mạng là việc làm thường xuyên, suốt đời. Trên cơ sở bài
viết, tác giả luận án nhận thấy đây là bài viết có giá trị về mặt lý luận và thực
tiễn sâu sắc, đặc biệt tác giả bài viết chỉ ra không nhất thiết khó khăn, gian khổ
mà con người bị tha hóa về đạo đức và thậm chí ngược lại họ còn hy sinh vì
17
nhau, hy sinh cho nhau. Tuy nhiên giai đọan hiện nay điều kiện kinh tế tốt hơn
con người dễ nảy sinh tình trạng tha hóa về đạo đức. Rõ ràng việc giáo dục đạo
đức có vấn đề, chính điều này tác giả luận án kế thừa trong phần giải pháp của
mình.
Cùng chủ đề này, tác giả Đoàn Quốc Thái (2010) có bài viết “Bàn thêm về
khái niệm “giá trị đạo đức”[132]. Trong bài viết này, tác giả đã khái quát những
quan điểm về đạo đức trong lịch sử triết học và những quan điểm của các nhà
khoa học về đạo đức và giá trị đạo đức; tác giả đi sâu vào phân tích, làm rõ khái
niệm “đạo đức”, khái niệm “giá trị đạo đức”. Từ những phân tích trên, tác giả
xác định những chuẩn mực giá trị đạo đức phải căn cứ vào không gian và thời
tiêu chuẩn khách quan của các giá trị đạo đức” [55]. Giá trị đạo đức được xác
định bởi “lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương” [55].
Như vậy, để xác định hành vi có đạo đức phải dựa vào niềm tin cá nhân và
dư luận xã hội đồng tình. ủng hộ. Để chứng minh cho vấn đề này tác giả trích
câu của Ăngghen: "trong một xã hội mà mọi động cơ đẩy tới trộm cắp đều bị
loại trừ, do đó dần dần hầu như chỉ có những người mắc bệnh tinh thần mới
phạm tội trộm cắp, thì một nhà truyền bá đạo đức nào muốn trịnh trọng tuyên
bố cái chân lý vĩnh cửu: không được trộm cắp, sẽ bị người ta chê cười"[55]
Thứ hai, bàn về tính chất của đạo đức: theo tác giả đạo đức vừa có tính chất
riêng vừa có tính chất chung, tùy vào mối quan hệ để xác định tính chất của đạo
đức.
Thứ ba, bàn về chức năng của đạo đức.Tác giả chỉ ra ba chức năng bao
gồm: chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục, chức năng nhận thức, ba
chức năng này có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau tạo thành
chỉnh thể của đạo đức của xã hội nhất định.
Từ ba phương diện tiếp cận tác giả đi đến kết luận: “giá trị đạo đức được
hình thành ở mỗi cá nhân luôn phụ thuộc vào việc các cá nhân ấy được giáo
dục và tiếp nhận những tư tưởng và các chuẩn mực đạo đức đúng đắn của xã
hội”[55]. Như vậy, vấn đề giáo dục và sự tiếp nhận vấn đề giáo dục là một
trong những cơ sở quan trọng hình thành giá trị đạo đức. Tiếp thu quan điểm
nói trên tác giả luận án kế thừa để bổ sung vào phần lý luận, thực trạng và giải
pháp trong luận án của mình.
Ngô Thành Can (2017): “Đạo đức công chức trong thực thi nhiệm vụ” Nhà
xuất bản Tư pháp
Đề tài đi sâu vào phân tích đạo đức công chức, đặc biệt làm rõ một số quan
điểm sau:
Thứ nhất, những khái niệm liên quan đến đạo đức công chức và chỉ ra tính
tất yếu của việc xây dựng đạo đức công chức trong điều kiện kinh tế thị trường
ở nước ta hiện nay
như Hêghen và Phoiơbắc, sau này là Mác sử dụng. Có một số công trình đã
nghiên cứu về vấn đề này:
Tác giả Vũ Quang Tạo (2008) có bài viết: “C. Mác và sự nghiệp giải phóng
con người trong thời đại ngày nay” [131].
Tác giả đi sâu vào phân tích quan điểm của Mác về lao động bị tha hóa trong
“Bản thảo kinh tế triết học 1844” đồng thời chỉ ra những biến đổi của chủ
nghĩa tư bản hiện nay, tác giả khẳng định, sự biến đổi đó vẫn không xóa bỏ
được tình trạng tha hóa như Mác đã từng đề cập trong “Bản thảo kinh tế triết
học 1844”. Theo tác giả sự biến đổi của chủ nghĩa tư bản diễn ra do mâu thuẫn
gay gắt giữa nhà tư bản và người công nhân, trong quá trình mâu thuẫn ấy, chủ
nghĩa tư bản bắt buộc phải tìm cách giải quyết, cách thức giải quyết ấy diễn ra
như sau:
Thứ nhất, những thay đổi và điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản vẫn không
làm thay đổi bản chất của chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Sự thay
đổi đó, chẳng qua chỉ là những biện pháp xả van an toàn, tháo ngòi nổ của những
mâu thuẫn giữa tư bản và lao động làm thuê, giữa giai cấp tư sản và toàn thể
nhân dân lao động vốn đang tồn tại trong xã hội tư bản hiện đại. Theo tác giả
chủ nghĩa tư bản xoa dịu đấu tranh của người công nhân “bằng cách bán những
cổ phần nhỏ nhoi cho người công nhân, làm cho họ lầm tưởng như được dự
20
phần ăn chia lợi nhuận, tham gia vào tổ chức, quản lý doanh nghiệp tư bản,
nhưng trong thực tế, các biện pháp này không giúp những người công nhân và đa
số cổ đông bé nhỏ có đủ tiếng nói quyết định trong các công ty tư bản, càng
không đủ sức thay đổi sở hữu tư bản chủ nghĩa”[131]. Như vậy, trong chủ nghĩa
tư bản, mặc dù đã có điều chỉnh nhưng vẫn không xoa dịu được mâu thuẫn vốn
có của nó.
Thứ hai, tác giả chỉ ra rằng: những tiến bộ của khoa học, công nghệ hiện
21
anh ta, vì sự chiếm hữu ấy không đẻ ra một khoản dư nào có thể đem lại một
quyền lực chi phối lao động của người khác, cũng không tước bỏ của ai cái khả
năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội”[131].
Bốn là, “xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu với tính cách là sự khẳng
định sinh hoạt của con người, là sự xóa bỏ một cách tích cực mọi tha hóa, con
người từ tôn giáo, gia đình, nhà nước quay trở về tồn tại con người, tồn tại xã
hội của mình” [131]. “Xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu”, xây dựng thành
công chủ nghĩa cộng sản, hoàn thành sự nghiệp giải phóng con người, khắc phục
tình trạng tha hóa lao động phải cần thủ tiêu một cách tích cực tình trạng “lao
động bị tha hóa”. Từ bài viết, tác giả luận án nhận thấy vấn đề tha hóa trong xã
hội có nguồn gốc tự lợi ích, mâu thuẫn lợi ích làm nảy sinh sự tha hóa trong xã
hội tư bản. Khi triển khai vấn đề lý luận của luận án, tác giả luận án cũng chỉ ra
nguồn gốc của tình trạng tha hóa đạo đức ở một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản
lý có nhiều nguồn gốc khác nhau những nguồn gốc trực tiếp nhất làm nảy sinh
sự tha hóa của đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý là lợi ích.
Đi sâu bàn về lý luận tha hóa, tác giả Ngô Đình Xây (2010) với bài viết: “G.
V. Ph. Heghen về "tha hóa" qua sự đánh giá của C. Mác” [155]. Đây là bài viết
mang tính lý luận, khái quát cao. Tác giả bài viết đã phân tích sâu sắc quan điểm
của Hêghen về tha hóa, đồng thời chỉ ra những nhận xét của Mác về tha hóa
mà Hêghen đã trình bày trong các tác phẩm của mình.
Theo tác giả, phạm trù “tha hóa” trong triết học Hêghen “đã trở thành phạm
trù triết học theo nghĩa đầy đủ, rõ ràng và điển hình nhất của nó ở triết học cổ
điển Đức. Hêghen đã xây dựng một lý luận khá hoàn chỉnh”[155] về “tha hoá” và
nâng “tha hóa” lên thành phạm trù trung tâm, xuyên suốt trong hệ thống triết học
của ông. Trong triết học của mình, Hêghen đã trình bày khái niệm tha hóa một
cách hệ thống.
với con người, mọi sự tha hoá của bản chất con người chẳng qua là sự tha hoá
của tự ý thức” [155]. Cũng ở vấn đề này Hêghen đã bàn đến lao động và sự tha
hoá lao động của con người. Nhận xét về cách phân tích của Hêghen, Mác đã chỉ
ra “thực tế tha hoá hiện thực của sản phẩm lao động khỏi người lao động được
nhà triết học thể hiện dưới hình thức thần bí, bao gồm các trạng thái ý thức bị
trói buộc của chủ thể mà cá tính phải chịu những hậu quả tai hại do tác động qua
lại với môi trường xã hội” [155].
Thứ sáu, Hêghen bàn đến việc “giải” tha hoá. Theo Hêghen, muốn “giải” tha
hoá thì con người phải trở về với nguồn gốc ban đầu của nó ý niệm tuyệt đối.
Từ những phân tích trên, tác giả đi đến kết luận: “Tha hoá là một hiện thực
có thật, một hiện trạng thực tế trong xã hội và có cơ sở kinh tế của nó. Và, cũng
từ đây, C.Mác đã đi đến kết luận về một nội dung quan trọng nhất trong lý luận
về tha hóa của mình, đó là việc tìm ra lực lượng và biện pháp vật chất để “giải”
tha hóa trong hiện thực”[155]. Xuất phát từ bài viết, tác giả luận án nhận thấy
đây là bài viết có giá trị lý luận sâu sắc, tác giả luận án đã kế thừa một số quan
điểm, đặc biệt quan điểm “tha hoá hiện thực của sản phẩm lao động khỏi người
lao động” để làm phần cơ sở lý luận của mình.
Phân tích quan điểm của C.Mác về tha hóa có luận án tiến sĩ triết học của
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2010) với đề tài: “Quan niệm của Các Mác về tha
hóa và ý nghĩa của quan niệm đó đối với phát triển con người Việt Nam” [59]. Luận
án đã đi sâu vào phân tích quan điểm tha hóa của C.Mác trong Bản thảo kinh tế
23
triết học 1844. Trên cơ sở đó, luận án đã lý giải về khái niệm tha hóa, nguồn gốc,
nguyên nhân của tình trạng lao động bị tha hóa. Từ những phân tích trên, luận án đã
chỉ rõ tính chất tiêu cực của tình trạng tha hóa trong lao động của người công
nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa, cả tình trạng tha hóa của bản chất con người
trong xã hội ấy. Tác giả luận án đã phác thảo bức tranh về con người Việt Nam
vực vận dụng. Từ đó cho thấy, khái niệm tha hóa được vận dụng rất linh hoạt ở tất
cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của các nhà khoa
24
học. Tác giả luận án vận dụng khái niệm tha hóa vào vấn đề đạo đức, với mục đích
nhằm khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo,
quản lý ở Việt Nam, khi mà tình trạng này đang trở thành vấn đề nhức nhối của
toàn xã hội.
1.2. Những công trình liên quan đến thực trạng và nguyên nhân việc khắc
phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo,
quản lý ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Tiến Nghĩa /2013) có bài viết: “Tham nhũngnguyên nhân
và biện pháp phòng ngừa”. Tác giả bài viết đã phân tích sâu sắc khái niệm tham
nhũng, đồng thời tác giả cũng chỉ ra thực trạng và một số nguyên nhân. Theo tác
giả, tham nhũng do một số nguyên nhân sau:
Một là, cơ chế, chính sách và pháp luật còn nhiều kẽ hở, lương công chức
còn thấp. Theo tác giả ở đâu “hệ thống pháp luật còn lỏng lẻo, các quy trình ra
quyết định và hoạch định chính sách còn thiếu minh bạch, thủ tục hành chính còn
rườm rà, lương công chức còn thấp,…thì ở đó tình trạng tham nhũng có xu hướng
gia tăng”[100].
Hai là, tác giả chỉ ra những hạn chế như: chưa phát huy được tính tích cực
của người dân trong đấu tranh chống tham nhũng. Việc đấu tranh chống tham
nhũng chưa được phát động thường xuyên.
Ba là, vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật, như công an, viện kiểm sát,
tòa án chưa được phát huy đầy đủ.
Từ những phân tích trên tác giả đưa ra một số biện pháp ngăn ngừa trong đó
có giải pháp giáo dục đạo đức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; xét xử công khai,
thời gian bổ nhiệm không vi phạm kỷ luật ở lĩnh vực Đảng và chính quyền. Việc
bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý cần được thực hiện qua hình thức thi
tuyển một cách công khai, minh bạch với những tiêu chuẩn, yêu cầu rõ ràng và
161
phải có hội đồng thi tuyển khách quan, nghiêm minh. Việc thành lập hội đồng thi
tuyển phải thông qua hình thức bỏ phiếu kín. Phải thành lập hội đồng thanh tra,
thực hiện nhiệm vụ thanh tra đột xuất đối với công tác thi tuyển. Mỗi chức danh
thi tuyển nên có nhiều ứng viên tham gia dự thi để chọn lọc, chọn trúng người có
năng lực. Sau khi trúng tuyển phải có quá trình theo dõi và kiểm nghiệm, đánh giá
thực tiễn, nếu cán bộ mới bổ nhiệm không đảm đương được công việc, thì cho
thôi việc. Việc đánh giá cán bộ không chỉ trong nội bộ cơ quan mà phải có cộng
đồng giám sát, đánh giá nhằm đảm bảo khách quan, công bằng.
Đối với chức danh người đứng đầu nên xây dựng quy chế tranh cử (những
người trúng cử phải thực hiện đúng lời hứa trong đề án tranh cử của mình, nếu
không thực hiện đúng lời hứa sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật). Từng vị trí,
chức danh đều phải có tiêu chuẩn cụ thể. Cần rà soát lại tất cả các quy định, xây
dựng chế độ công chức, công vụ chuyên nghiệp, công khai, minh bạch thì sẽ
khắc phục được những lỗ hổng của công tác nhân sự, có như vậy chúng ta mới
thực sự lựa chọn đúng người tài, người có đức, có đủ trình độ năng lực, phẩm
chất cho một vị trí lãnh đạo, quản lý.
Khắc phục tình trạng lách luật, lách quy trình, bổ nhiệm người nhà, người thân
và tình trạng “mua quan, bán chức” trong các cơ quan công quyền. Chống tình trạng,
“quân xanh, quân đỏ” trong thi tuyển cán bộ, hay nói cách khác là chống tình trạng
cài cắm người nhà, người thân trong việc thi tuyển các chức danh lãnh đạo, quản lý.
Hàng năm cần tổ chức các buổi hội thảo khoa học trong nước và quốc tế để
lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học về giải pháp khắc phục
tình trạng tha hóa về đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý; Nhà nước cần tham