Luận án tiến sĩ Triết học: Khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC 
GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐẶNG THÁI BÌNH

KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THA HÓA VỀ ĐẠO ĐỨC
CỦA MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 92 29 001

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.Trần Phúc Thăng


2

HÀ NỘI – 2018

2


LỜI CAM ĐOAN

         Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng  
tôi. Luận án này được GS.TS. Trần Phúc Thăng hướng dẫn. Các số 

: Sắc lệnh
: Chủ nghĩa xã hội
: Xã hội chủ nghĩa



MỤC LỤC


9

ĐẦU
1.  Lý do chọn đề tài
Hơn 88 năm, từ  khi Đảng ra đời cho đến nay chưa có thời kỳ  nào lại đề 
cập nhiều đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của  
một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý như giai đoạn hiện nay. Tình trạng này lan 
rộng  ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực. Thực chất, đây là tình trạng tha hóa về 
đạo đức của một bộ  phận cán bộ  lãnh đạo, quản lý. Đề  cập đến vấn đề  này  
Đảng liên tục đưa ra các chỉ  thị, nghị quyết nhằm khắc phục tình trạng này, cụ 
thể  là: Nghị  quyết Trung  ương 3 (khoá VII) về “Một số  nhiệm vụ  đổi mới và  
chỉnh đốn Đảng”; Nghị  quyết Trung  ương 6 (lần 2 ­ khoá VIII) về “Một số vấn  
đề  cơ  bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay ”; Kết luận Hội 
nghị  Trung  ương 4 (khoá IX) về “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng,  
chỉnh  đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ  tham nhũng, lãng phí”; Nghị  quyết 
Trung  ương 3 (khoá X): “Tăng cường sự  lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu  
tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Tiếp theo là Nghị quyết Trung ương 4 
(Khóa XI) với nội dung cốt lõi là 3 vấn đề  cấp bách và 4 nhóm giải pháp nhằm 
hạn chế tối đa tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo,  
quản lý; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã đưa ra 27 biểu hiện suy thoái về 
tư  tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự  diễn biến”, “tự  chuyển hóa” của cán 

Nhận thấy vấn đề  khắc phục tình trạng tha hóa về  đạo đức của một bộ 
phận cán bộ lãnh đạo, quản lý là vấn đề cấp bách cần phải quyết liệt thực hiện,  
tôi chọn vấn đề “Khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận  
cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay”  làm đề tài luận án tiến sĩ triết 
học của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về khắc phục tình trạng tha hóa đạo đức và thực trạng 
việc khắc phục tình trạng này, luận án luận giải một số quan điểm và giải pháp  
chủ  yếu nhằm nâng cao hiệu quả khắc phục tình trạng tha hóa về  đạo đức của  
một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.


11

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận tha hóa về đạo đức và khắc phục tình 
trạng tha hóa về đạo đức của một bộ  phận cán bộ  lãnh đạo, quản lý ở  Việt Nam 
hiện nay.
Thứ  hai, khái quát về  thực trạng, nguyên nhân của thực trạng khắc phục 
tình. trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt 
Nam trong thời kỳ đổi mới và nêu một số vấn đề đặt ra từ thực trạng này.
Thứ ba, luận giải một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao 
hiệu quả khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh  
đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khắc phục tình trạng tha hóa về  đạo đức của một bộ  phận cán bộ  lãnh 
đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về  lý luận, luận án góp phần làm rõ những biểu hiện của tình trạng tha 
hóa đạo đức và quan niệm khắc phục tha hóa đạo đức của một bộ phận cán bộ ở 
Việt Nam hiện nay.
Về thực tiễn: Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng đội 
ngũ cán bộ của Đảng và vấn đề  chống tiêu cực  ở  Việt Nam giai đoạn hiện nay  
và cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn: Triết học; Đạo đức học và các môn liên  
quan đến giáo dục đạo đức cán bộ, đảng viên trong các trường Chính trị, học  
viện, trường Đại học và các trường Cao đẳng.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 
phụ lục, luận án gồm 3 chương, 7 tiết.


13


14

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN
Trong những năm gần đây xuất hiện nhiều công trình khoa học nghiên cứu 
tình trạng tha hóa cả về lý luận và thực tiễn. Các công trình nghiên cứu đặc biệt 
tập trung vào vấn đề tha hóa đạo đức. Cụ thể:
1.1. Những công trình liên quan đến vấn đề lý luận về khắc phục tình trạng 
tha hóa và tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở 
Việt Nam hiện nay
1.1.1. Lý luận về đạo đức
Đạo đức là một phạm trù được hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. 
Từ xưa đến nay, có nhiều nhà triết học, nhà tư tưởng bàn về đạo đức. Ở mỗi thời  
kỳ lịch sử, mỗi dân tộc khác nhau người ta có những quan niệm về đạo đức khác  

phát huy vai trò chủ  thể  cá nhân, là cơ  chế  tốt cho nhân cách phát triển trong  
điều kiện hiện nay”[40]. Điều này cũng chỉ  đúng  ở  khía cạnh nhất định. Tuy  
nhiên, chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận cạnh tranh, từ chỗ cạnh tranh 
đánh vào lợi ích của con người mà lợi ích của con người cũng có hai mặt, lợi  
ích chính đáng và lợi ích không chính đáng. Khi nào con người biết điều chỉnh  
hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng thì con người sẽ điều chỉnh  
được lợi ích chính đáng. Khi điều chỉnh được lợi ích chính đáng thì “không 
những tạo ra những sản phẩm thoả  mãn các nhu cầu cá  nhân của mình, góp 
phần làm giàu cho bản thân, mà còn góp phần xoá đói, giảm nghèo, làm giàu 
cho xã hội” và “đến lượt nó, sự giàu có chính đáng của cá nhân đã làm nảy sinh  
ở con người những tấm lòng hào phóng, từ  thiện, sự  thân ái, lòng vị  tha” [40], 
khi  ấy hành vi đạo đức của con người được xã hội đồng tình. Ngược lại khi  
con người tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân thì con người dễ bị tha hóa về đạo đức  
và khi ấy xã hội sẽ lên án. 
Trên cơ sở phân tích mối quan hệ lợi ích cá nhân, lợi ích cộng đồng, tác giả 
chỉ  ra mặt trái của cơ  chế thị trường  ở Việt Nam hiện nay có tác động tiêu cực  
tới đạo đức truyền thống:
Một là, xem nhẹ đạo đức truyền thống, không đề cao đạo lý, chạy theo lối 
sống gấp, sống vội và sa vào lối sống trụy lạc.
Hai là, sự  phản  ứng của xã hội đối với các hành vi vô đạo đức, phi đạo 
đức cũng giảm đi;  sự  lên án những thói hư, tật xấu và những hành vi vô đạo  
đức, phi đạo đức không được đề  cao. Tình trạng số  người có quan điểm thờ   ơ 
với những tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng.
Ba là, thói đạo đức giả ngày càng có chiều hướng gia tăng.
Tất cả những biểu hiện trên là do lối sống thực dụng, chạy theo danh lợi cá 
nhân, coi thường lợi ích cộng đồng. Có thể nói vấn đề tuyệt đối hóa lợi ích cá 
nhân trong nền kinh tế thị trường là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tha hóa về 
đạo đức. Muốn điều chỉnh vấn đề này thì phải xem xét về mặt lợi ích, lợi ích đó 
có phù hợp với lợi ích chung của xã hội hay không. Đồng thời, không nên phán 
xét một cách tầm thường, sự xuống cấp về đạo đức bắt nguồn từ khuyến khích  

nữa  .
Thứ  hai, muốn việc giáo dục đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, 
chí công  vô tư”  tốt hơn  thì phải  khôi phục và đẩy  mạnh phong  trào thi  đua 
“Người tốt, việc tốt”, thực hiện nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức trong 
cán bộ, đảng viên.
Thứ ba, phương pháp giáo dục đạo đức cách mạng là phải kết hợp chặt chẽ 
giữa “xây và chống”. “Xây dựng ý thức và thói quen hành vi đạo đức cho cán bộ, 
đảng viên không đơn thuần chỉ là quá trình tuyên truyền, giáo dục về các giá trị, 
chuẩn mực đạo đức cách mạng, mà còn là quá trình đấu tranh, khắc phục, loại  
bỏ dần thói hư, tật xấu của con người” [13].
Từ những phân tích trên tác giả đi đến kết luận:  mỗi cán bộ, đảng viên, cho 
đến người dân, ai cũng phải có ý thức tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Việc tu  
dưỡng đạo đức cách mạng là việc làm thường xuyên, suốt đời. Trên cơ  sở  bài  
viết, tác giả  luận án nhận thấy đây là bài viết có giá trị  về  mặt lý luận và thực  
tiễn sâu sắc, đặc biệt tác giả bài viết chỉ ra không nhất thiết khó khăn, gian khổ 
mà con người bị  tha hóa về  đạo đức và thậm chí ngược lại họ  còn hy sinh vì  


17

nhau, hy sinh cho nhau. Tuy nhiên giai đọan hiện nay điều kiện kinh tế  tốt hơn  
con người dễ nảy sinh tình trạng tha hóa về đạo đức. Rõ ràng việc  giáo dục đạo  
đức có vấn đề, chính điều này tác giả luận án kế thừa trong phần giải pháp của 
mình.
Cùng chủ đề  này, tác giả  Đoàn Quốc Thái (2010) có bài viết “Bàn thêm về 
khái niệm “giá trị đạo đức”[132]. Trong bài viết này, tác giả đã khái quát những  
quan điểm về  đạo đức trong lịch sử  triết học và những quan điểm của các nhà 
khoa học về đạo đức và giá trị đạo đức; tác giả đi sâu vào phân tích, làm rõ khái  
niệm “đạo đức”, khái niệm “giá trị  đạo đức”. Từ  những phân tích trên, tác giả 
xác định những chuẩn mực giá trị  đạo đức phải căn cứ  vào không gian và thời 


tiêu chuẩn khách quan của các giá trị  đạo đức” [55]. Giá trị  đạo đức được xác  
định bởi “lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương” [55].
Như vậy, để xác định hành vi có đạo đức phải dựa vào niềm tin cá nhân và  
dư  luận xã hội đồng tình. ủng hộ. Để  chứng minh cho vấn đề  này tác giả  trích  
câu của Ăngghen: "trong một xã hội mà mọi động cơ đẩy tới trộm cắp đều bị 
loại trừ, do đó dần dần hầu như chỉ có những người mắc bệnh tinh thần mới  
phạm tội trộm cắp, thì một nhà truyền bá đạo đức nào muốn trịnh trọng tuyên 
bố cái chân lý vĩnh cửu: không được trộm cắp, sẽ bị người ta chê cười"[55]
Thứ hai, bàn về tính chất của đạo đức: theo tác giả đạo đức vừa có tính chất 
riêng vừa có tính chất chung, tùy vào mối quan hệ  để  xác định tính chất của đạo  
đức.
Thứ  ba, bàn về  chức năng của đạo đức.Tác giả  chỉ  ra ba chức năng bao 
gồm: chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục, chức năng nhận thức, ba  
chức năng này có mối quan hệ  biện chứng, tác động qua lại với nhau tạo thành  
chỉnh thể của đạo đức của  xã hội nhất định.
Từ ba phương diện tiếp cận tác giả đi đến kết luận: “giá trị đạo đức được 
hình thành  ở  mỗi cá nhân luôn phụ  thuộc vào việc các cá nhân  ấy được giáo 
dục và tiếp nhận những tư tưởng và các chuẩn mực đạo đức đúng đắn của xã 
hội”[55]. Như  vậy, vấn đề  giáo dục và sự  tiếp nhận vấn đề  giáo dục là một 
trong những cơ  sở  quan trọng hình thành giá trị  đạo đức. Tiếp thu quan điểm 
nói trên tác giả luận án kế thừa để bổ sung vào phần lý luận, thực trạng và giải  
pháp trong luận án của mình.
Ngô Thành Can (2017): “Đạo đức công chức trong thực thi nhiệm vụ” Nhà 
xuất bản Tư pháp
Đề tài đi sâu vào phân tích đạo đức công chức, đặc biệt làm rõ một số quan  
điểm sau:
Thứ  nhất, những khái niệm liên quan đến đạo đức công chức và chỉ ra tính 
tất yếu của việc xây dựng đạo đức công chức trong điều kiện kinh tế thị trường  
ở nước ta hiện nay

như Hêghen và Phoiơbắc,   sau   này   là   Mác   sử   dụng.   Có   một   số   công   trình   đã 
nghiên cứu về vấn đề này:
Tác giả Vũ Quang Tạo (2008) có bài viết: “C. Mác và sự nghiệp giải phóng  
con người trong thời đại ngày nay” [131].
Tác giả đi sâu vào phân tích quan điểm của Mác về lao động bị tha hóa trong  
“Bản thảo kinh tế­ triết học 1844” đồng thời chỉ  ra những biến  đổi của chủ 
nghĩa tư  bản hiện nay, tác giả  khẳng định, sự  biến đổi đó vẫn không xóa bỏ 
được tình trạng tha hóa như  Mác đã từng đề  cập trong “Bản thảo kinh tế­ triết  
học 1844”. Theo tác giả sự biến đổi của chủ nghĩa tư bản diễn ra do mâu thuẫn  
gay gắt giữa nhà tư  bản và người công nhân, trong quá trình mâu thuẫn  ấy, chủ 
nghĩa tư bản bắt buộc phải tìm cách giải quyết, cách thức giải quyết ấy diễn ra 
như sau:
Thứ  nhất, những thay đổi và điều chỉnh của chủ  nghĩa tư  bản vẫn không 
làm thay đổi bản chất của chế độ  sở  hữu tư  nhân về  tư  liệu sản xuất. Sự thay  
đổi đó, chẳng qua chỉ là những biện pháp xả van an toàn, tháo ngòi nổ của những 
mâu thuẫn giữa tư  bản và lao động làm thuê, giữa giai cấp tư  sản và toàn thể 
nhân dân lao động vốn đang tồn tại trong xã hội tư  bản hiện đại. Theo tác giả 
chủ  nghĩa tư bản xoa dịu đấu tranh của người công nhân “bằng cách bán những 
cổ  phần nhỏ  nhoi cho người công nhân, làm cho họ  lầm tưởng như  được dự 


20

phần ăn chia lợi nhuận, tham gia vào tổ  chức, quản lý doanh nghiệp tư  bản,  
nhưng trong thực tế, các biện pháp này không giúp những người công nhân và đa 
số  cổ  đông bé nhỏ  có đủ  tiếng nói quyết định trong các công ty tư  bản, càng  
không đủ sức thay đổi sở hữu tư bản chủ nghĩa”[131]. Như vậy, trong chủ nghĩa 
tư bản, mặc dù đã có điều chỉnh nhưng vẫn không xoa dịu được mâu thuẫn vốn  
có của nó.
Thứ  hai, tác giả  chỉ  ra rằng: những tiến bộ của khoa học, công nghệ  hiện  



21

anh ta, vì sự  chiếm hữu  ấy không đẻ  ra một khoản dư  nào có thể  đem lại một  
quyền lực chi phối lao động của người khác, cũng không tước bỏ của ai cái khả 
năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội”[131].
Bốn là, “xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu với tính cách là sự khẳng 
định sinh hoạt của con người, là sự  xóa bỏ  một cách tích cực mọi tha hóa, con 
người từ  tôn giáo, gia đình, nhà nước quay trở  về  tồn tại con người, tồn tại xã  
hội của mình” [131]. “Xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu”, xây dựng thành  
công chủ nghĩa cộng sản, hoàn thành sự nghiệp giải phóng con người, khắc phục 
tình trạng tha hóa lao động phải cần thủ  tiêu một cách tích cực tình trạng  “lao 
động bị tha hóa”. Từ bài viết, tác giả luận án nhận thấy vấn đề  tha hóa trong xã  
hội có nguồn gốc tự lợi ích, mâu thuẫn lợi ích làm nảy sinh sự  tha hóa trong xã  
hội tư bản. Khi triển khai vấn đề lý luận của luận án, tác giả luận án cũng chỉ ra  
nguồn gốc của tình trạng tha hóa đạo đức ở một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản  
lý có nhiều nguồn gốc khác nhau những nguồn gốc trực tiếp nhất làm nảy sinh 
sự tha hóa của đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý là lợi ích.
Đi sâu bàn về lý luận tha hóa, tác giả Ngô Đình Xây (2010) với bài viết: “G. 
V. Ph. Heghen về "tha hóa" qua sự  đánh giá của C. Mác” [155]. Đây là bài viết 
mang tính lý luận, khái quát cao. Tác giả bài viết đã phân tích sâu sắc quan điểm  
của Hêghen về  tha hóa, đồng thời chỉ  ra những nhận xét của Mác về tha hóa 
mà Hêghen đã trình bày trong các tác phẩm của mình.
Theo tác giả, phạm trù “tha hóa” trong triết học Hêghen “đã trở thành phạm 
trù triết học theo nghĩa đầy đủ, rõ ràng và điển hình nhất của nó  ở  triết học cổ 
điển Đức. Hêghen đã xây dựng một lý luận khá hoàn chỉnh”[155] về “tha hoá” và 
nâng “tha hóa” lên thành phạm trù trung tâm, xuyên suốt trong hệ thống triết học  
của ông. Trong triết học của mình, Hêghen đã trình bày khái niệm tha hóa một 
cách hệ thống.

với con người, mọi sự tha hoá của bản chất con người chẳng qua là sự  tha hoá  
của tự ý thức” [155]. Cũng  ở vấn đề  này Hêghen đã bàn đến lao động và sự tha  
hoá lao động của con người. Nhận xét về cách phân tích của Hêghen, Mác đã chỉ 
ra “thực tế tha hoá hiện thực của sản phẩm lao động khỏi người lao động được  
nhà triết học thể hiện dưới hình thức thần bí, bao gồm các trạng thái ý thức bị 
trói buộc của chủ thể mà cá tính phải chịu những hậu quả tai hại do tác động qua  
lại với môi trường xã hội” [155].
Thứ sáu, Hêghen bàn đến việc “giải” tha hoá. Theo Hêghen, muốn “giải” tha 
hoá thì con người phải trở về với nguồn gốc ban đầu của nó ­ ý niệm tuyệt đối.
Từ những phân tích trên, tác giả đi đến kết luận: “Tha hoá là một hiện thực 
có thật, một hiện trạng thực tế trong xã hội và có cơ sở kinh tế của nó. Và, cũng 
từ đây, C.Mác đã đi đến kết luận về một nội dung quan trọng nhất trong lý luận 
về tha hóa của mình, đó là việc tìm ra lực lượng và biện pháp vật chất để “giải” 
tha hóa trong hiện thực”[155]. Xuất phát từ  bài viết, tác giả  luận án nhận thấy  
đây là bài viết có giá trị  lý luận sâu sắc, tác giả  luận án đã kế thừa một số quan  
điểm, đặc biệt quan điểm “tha hoá hiện thực của sản phẩm lao động khỏi người 
lao động” để làm phần cơ sở lý luận của mình. 
Phân tích quan điểm của C.Mác về  tha hóa có luận án tiến sĩ triết học của 
Nguyễn Thị  Thanh Huyền (2010) với đề  tài: “Quan niệm của Các Mác về  tha  
hóa và ý nghĩa của quan niệm đó đối với phát triển con người Việt Nam” [59]. Luận 
án đã đi sâu vào phân tích quan điểm tha hóa của C.Mác trong Bản thảo kinh tế  ­  


23

triết học 1844. Trên cơ sở đó, luận án đã lý giải về khái niệm tha hóa, nguồn gốc, 
nguyên nhân của tình trạng lao động bị tha hóa. Từ những phân tích trên, luận án đã 
chỉ  rõ tính chất tiêu cực của tình trạng tha hóa trong lao  động của người công 
nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa, cả tình trạng tha hóa của bản chất con người  
trong xã hội  ấy. Tác giả  luận án đã phác thảo bức tranh về  con người Việt Nam  

vực vận dụng. Từ đó cho thấy, khái niệm tha hóa được vận dụng rất linh hoạt ở tất 
cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của các nhà khoa 


24

học. Tác giả luận án vận dụng khái niệm tha hóa vào vấn đề đạo đức, với mục đích 
nhằm khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo,  
quản lý  ở  Việt Nam, khi mà tình trạng này đang trở  thành vấn đề  nhức nhối của 
toàn xã hội.
1.2. Những công trình liên quan đến thực trạng và nguyên nhân việc khắc  

phục tình trạng tha hóa về  đạo đức của một bộ  phận cán bộ  lãnh đạo, 
quản lý ở Việt Nam hiện nay 
Tác giả Nguyễn Tiến Nghĩa /2013) có bài viết: “Tham nhũng­nguyên nhân 
và biện pháp phòng ngừa”. Tác giả bài viết đã phân tích sâu sắc khái niệm tham  
nhũng, đồng thời tác giả cũng chỉ ra thực trạng và một số nguyên nhân. Theo tác 
giả, tham nhũng do một số nguyên nhân sau:
Một là, cơ  chế, chính sách và pháp luật còn nhiều kẽ hở,  lương công chức 
còn thấp.  Theo tác giả   ở  đâu “hệ  thống pháp luật còn lỏng lẻo, các quy trình ra 
quyết định và hoạch định chính sách còn thiếu minh bạch, thủ tục hành chính còn 
rườm rà, lương công chức còn thấp,…thì ở đó tình trạng tham nhũng có xu hướng  
gia tăng”[100].
Hai là, tác giả chỉ ra những hạn chế như: chưa phát huy được tính tích cực 
của người dân trong đấu tranh chống tham nhũng. Việc đấu tranh chống tham  
nhũng chưa được phát động thường xuyên.
Ba là, vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật, như công an, viện kiểm sát,  
tòa án chưa được phát huy đầy đủ.
Từ những phân tích trên tác giả đưa ra một số biện pháp ngăn ngừa trong đó  
có giải pháp giáo dục đạo đức cho cán bộ  lãnh đạo, quản lý; xét xử  công khai,  

thời gian bổ nhiệm không vi phạm kỷ luật ở lĩnh vực Đảng và chính quyền. Việc  
bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý cần được thực hiện qua hình thức thi  
tuyển một cách công khai, minh bạch với những tiêu chuẩn, yêu cầu rõ ràng và  


161

phải có hội đồng thi tuyển khách quan, nghiêm minh. Việc thành lập hội đồng thi  
tuyển phải thông qua hình thức bỏ phiếu kín. Phải thành lập hội đồng thanh tra,  
thực hiện nhiệm vụ thanh tra đột xuất đối với công tác thi tuyển. Mỗi chức danh  
thi tuyển nên có nhiều ứng viên tham gia dự thi để chọn lọc, chọn trúng người có  
năng lực. Sau khi trúng tuyển phải có quá trình theo dõi và kiểm nghiệm, đánh giá  
thực tiễn, nếu cán bộ mới bổ nhiệm không đảm đương được công việc, thì cho 
thôi việc. Việc đánh giá cán bộ không chỉ trong nội bộ cơ quan mà phải có cộng  
đồng giám sát, đánh giá nhằm đảm bảo khách quan, công bằng.
Đối với chức danh người đứng đầu nên xây dựng quy chế tranh cử (những  
người trúng cử  phải thực hiện đúng lời hứa trong đề  án tranh cử  của mình, nếu  
không thực hiện đúng lời hứa sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật). Từng vị  trí, 
chức danh đều phải có tiêu chuẩn cụ thể. Cần rà soát lại tất cả các quy định, xây  
dựng chế  độ  công chức, công vụ  chuyên nghiệp, công khai, minh bạch thì sẽ 
khắc phục được những lỗ hổng của công tác nhân sự, có như  vậy chúng ta mới  
thực sự  lựa chọn đúng người tài, người có đức, có đủ  trình độ  năng lực, phẩm 
chất cho một vị trí lãnh đạo, quản lý.
Khắc phục tình trạng lách luật, lách quy trình, bổ nhiệm người nhà, người thân  
và tình trạng “mua quan, bán chức” trong các cơ quan công quyền. Chống tình trạng,  
“quân xanh, quân đỏ” trong thi tuyển cán bộ, hay nói cách khác là chống tình trạng 
cài cắm người nhà, người thân trong việc thi tuyển các chức danh lãnh đạo, quản lý.
Hàng năm cần tổ chức các buổi hội thảo khoa học trong nước và quốc tế để 
lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học về  giải pháp khắc phục  
tình trạng tha hóa về đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý; Nhà nước cần tham  


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status