Tóm tắt Luận án tiến sĩ Nông nghiệp: Nghiên cứu tính kháng thuốc bảo vệ thực vật của nhện đỏ nâu Oligonychus coffeae Nietner (Acarina: Tetranychidae) trên cây chè và biện pháp khắc phục ở - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
****************************

NGUYỄN MINH ĐỨC

NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT CỦA NHỆN ĐỎ NÂU Oligonychus coffeae Nietner
(Acarina: Tetranychidae) TRÊN
CÂY CHÈ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 9 62 01 12

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Hà Nội - 2019


Công trình được hoàn thành tại: Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1.

PGS.TS. Lê Văn Trịnh

2.


2.1. Mục đích
Nghiên cứu xác định mức độ kháng thuốc và tốc độ hình thành tính kháng
thuốc của nhện đỏ nâu với các nhóm thuốc đang được sử dụng phổ biến trong sản
xuất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại
chè ở miền núi phía Bắc.
2.2. Yêu cầu
Đánh giá được thực trạng sử dụng thuốc BVTV trừ sâu hại và nhện đỏ nâu trên
chè ở Thái Nguyên, Phú Thọ. Xác định mức độ kháng thuốc và sự hình thành tính
kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với các thuốc trừ nhện đỏ nâu đang được dùng phổ
biến tại vùng chè Thái Nguyên, Phú Thọ. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp quản lý
tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu theo hướng quản lý tổng hợp trên cơ sở sử dụng
thuốc BVTV hợp lý.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Cung cấp các thông tin, dẫn liệu khoa học mới về mức độ phát sinh, chỉ số
kháng thuốc, sự hình thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với các nhóm thuốc
BVTV hiện đang được dùng phổ biến trên chè tại Thái Nguyên, Phú Thọ.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cở sở khoa học xây dựng giải pháp quản lý tính
kháng thuốc của nhện đỏ nâu trong quản lý tổng hợp sinh vật hại trên cây chè, góp phần
sử dụng thuốc BVTV an toàn và bền vững trong sản xuất chè.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu O. coffeae Nietner hại chè.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên cây chè tại Thái Nguyên, Phú
Thọ. Mức độ mẫn cảm, sự hình thành tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với một
số nhóm thuốc BVTV và một số biện pháp giảm thiểu tính kháng thuốc của nhện đỏ
nâu tại Thái Nguyên.
5. Những đóng góp mới của đề tài

thường bị nhiễm nhện đỏ nâu nặng hơn (Das, 1959b). Ở miền Nam Ấn Độ, nhện đỏ
nâu xuất hiện quanh năm và thường gối lứa nhau. Quần thể nhện đỏ nâu đạt đỉnh cao
số lượng vào tháng 3 - 4 hàng năm. Nhiệt độ thấp, ẩm độ cao và mưa nặng hạt có ảnh
hưởng bất lợi đến quần thể nhện đỏ nâu (Sudarmani, 2004).
1.2.2. Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ nhện đỏ nâu trên cây chè
Người trồng chè ở Shizuoka (Nhật Bản) đã phun thuốc 16,9 - 21,6 lần/năm để
trừ sâu hại và 4,1 - 8,1 lần/năm để trừ bệnh (Takafuji and Amano, 2001). Các thuốc
Propagite, Fenpyroximate, Hexythiazox, Bifenthrin, Fenazaquin, Spiromesifen được
sử dụng để trừ nhện đỏ nâu hại chè (Anonymous, 2012; Babu and Muraleedharan,
2010;…).
1.2.3. Tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại chè
Việc sử dụng thuốc trừ nhện lặp đi lặp lại đã làm gia tăng sự gây hại trầm trọng
của nhện đỏ nâu đối với cây chè trong những năm qua. Sự giảm tính mẫn cảm của
nhện đỏ nâu đối với các nhóm thuốc trừ nhện có thể là một trong những nguyên nhân
làm tăng mật độ quần thể trên đồng ruộng (Roy et al., 2008; Sarker và
Mukhopadhyay, 2008; Shahoo et al., 2003). Ở Ấn Độ, đối với quần thể nhện đỏ nâu


3
ở Terai và Dooars, thuốc Ethion, Dicofol có giá trị LC50 >300 ppm; giá trị LC50 của
Propagite lần lượt là 46,246 và 97,110; các thuốc Fenazaquin và Fenpropathrin có giá
trị LC50 < 10 ppm (Roy et al., 2009). Ở Bắc Bengal (Ấn Độ) đã đánh giá tính kháng
thuốc của nhện đỏ nâu với 5 hoạt chất trừ nhện Ethion, Dicofol, Propargite,
Fenazaquin và Fenpropathrin. Kết quả cho thấy các quần thể nhện đỏ nâu ở vùng
Terai ít mẫn cảm hơn với cả 5 loại thuốc thí nghiệm so với các quần thể nhện đỏ nâu
thu từ vùng Dooars. Mức mẫn cảm với các thuốc trừ nhện sử dụng trừ nhện đỏ nâu ở
2 vùng này cho thấy sức ép chọn lọc quần thể kháng thuốc gây ra bởi các thuốc trừ
nhện (Roy et al., 2010a).
Theo Roy et al. (2012), trong phòng thí nghiệm giá trị LC50 của Ethion,
Dicofol, Profenofos, Propargite, Fenpropathrin, Fenazaquin và Abamectin đối với

giết chết quần thể nhện còn sót lại (Das, 1960; Gurusubramanian và Borthakur,
2005).


4
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1. Nhện đỏ nâu, đặc điểm sinh học, sinh thái và quy luật phát sinh gây hại
Nguyễn Văn Đĩnh (1994) ghi nhận cây chè có 3 loài nhện nhỏ hại là nhện đỏ
tươi, nhện đỏ nâu và nhện trắng. Trong đó, nhện đỏ nâu là loài hại quan trọng hơn cả.
Trưởng thành nhện đỏ nâu có 4 đôi chân, chân phân đốt có nhiều lông gai nhọn
rải rác. Cơ thể chia thành hai phần khá rõ rệt, phần thân có kích thước từ 0,25 - 0,31
mm x 0,17 - 0,24 mm; phần đầu hơi thon đều, kích thước 0,06 - 0,09 mm x 0,05 0,07 mm. Trứng có hình cầu dẹt, kích thước 0,09 - 0,12 mm, ngay chính giữa quả
trứng có một chiếc lông cong nhỏ dài và mảnh. Trứng mới đẻ có màu hồng nhạt, sau
chuyển màu nâu đỏ, lúc sắp nở có màu nâu sẫm. Nhện non mới nở có thân màu hồng
nhạt, kích thước 0,13 - 0,15 mm x 0,10 - 0,12 mm với 3 đôi chân (Nguyễn Văn Hùng
và Nguyễn Văn Tạo, 2006).
Trong phòng thí nghiệm (trung bình 27,5oC, 81,6% ẩm độ) thời gian vòng đời
của nhện đỏ nâu nuôi bằng giống Trung Du Xanh và PH1 lần lượt là 10,7 ngày và
10,86 ngày (Phạm Thị Mai, 2010). Theo Nguyễn Thái Thắng (2000), thời gian vòng
đời của nhện đỏ nâu từ 11,2 đến 12,8 ngày tùy theo điều kiện môi trường nhất là nhiệt
độ. Mỗi trưởng thành cái có thể đẻ được 79 trứng, sức đẻ trứng theo ngày cao nhất
thường quan sát được trong vòng 5 - 10 ngày đầu sau khi đẻ trứng. Thời gian đẻ
trứng kéo dài 20 ngày. Ở 30oC, thời gian vòng đời rút ngắn còn 11,2 ngày so với 12,8
ngày ở 25oC. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Khắc Tiến (1994) xác định nhện đỏ
nâu thường có 2 đợt phát sinh rộ trong năm: đợt 1 trong thời gian tháng 2 - 5 và đợt 2
trong thời gian tháng 9 - 11.
1.3.2. Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ nhện đỏ nâu trên cây chè
Số lần phun thuốc ở các điểm trồng chè trọng điểm của Ba Vì là 9 - 16
lần/năm, tỷ lệ người phun thuốc định kỳ còn cao, một số điểm lên đến trên 75% và
hầu hết là phun thuốc không theo nguyên tắc 4 đúng (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2009).

loại thuốc trừ nhện thường sử dụng trong sản xuất chè.
- Đánh giá tốc độ phát triển tính kháng thuốc, khả năng kháng chéo của nhện
đỏ nâu đối với một số thuốc trừ nhện thường sử dụng.
- Nghiên cứu một số giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu hại
chè theo hướng tổng hợp.
- Xây dựng mô hình và đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ
nâu theo hướng tổng hợp.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Việc sử dụng thuốc BVTV chè tại Thái Nguyên, Phú Thọ được điều tra theo
phương pháp chung (Đào Trọng Ánh, 2002).
Nhân nuôi nòi nhện đỏ nâu mẫn cảm từ nhện đỏ nâu thu ở nương chè theo
phương pháp Helle và Sabelis (1985). Xác định mức độ kháng thuốc và khả năng
kháng chéo của nhện đỏ nâu theo phương pháp của IRAC (2009), Sato et al. (2005).
Điều tra mật độ nhện đỏ nâu và hiệu quả của biện pháp canh tác đối với nhện
đỏ nâu được thực hiện theo QCVN 01-118 của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2012),
Sudarmani (2004), Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo (2006).
Điều tra thành phần thiên địch trên cây chè theo phương pháp của Phạm Văn
Lầm (1997). Đánh giá hiệu quả của thuốc đối với nhện đỏ nâu theo phương pháp của
Kumari et al. (2012), Knight et al. (1990).
Chọn thuốc luân phiên trong quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu theo Lê
Trường và cs. (2005), Nguyễn Trần Oánh (2012).
Xây dựng mô hình, đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu
theo hướng tổng hợp được dựa vào kết quả nghiên cứu của đề tài và qui trình quản lý
cây chè tổng hợp (Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo, 2006).
2.5. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
Hiệu lực của các thuốc đối với nhện đỏ nâu được tính theo công thức Abbott
(1925), Sarmah et al. (1999), Henderson-Tilton (1955). Giá trị LC50 được tính bằng
chương trình Probit của Finney (1971). Chỉ số kháng thuốc (Ri) được xác định theo
FAO (1980). Số liệu được xử lý bằng chương trình IRRISTAT 5.0.


lần chiếm tỷ lệ 8,39% người được hỏi. Chỉ tiêu này ở Phú Thọ chiếm tỷ lệ 5,68%
người được hỏi. Số người trồng chè sử dụng nồng độ, liều lượng thuốc tăng hơn
khuyến cáo ở Thái Nguyên đạt cao hơn ở Phú Thọ.
Bảng 3.4. Nồng độ, liều lượng thuốc được người trồng chè sử dụng
trong năm 2014
Sử dụng nồng độ, liều lượng so với
Tỷ lệ người trồng chè áp dụng (%)
khuyến cáo (lần)
Thái Nguyên1
Phú Thọ2
Theo khuyến cáo
71,27
78,15
Tăng > 1 đến 2
19,38
15,74
Tăng > 2 đến 3
8,39
5,68
Tăng > 3
0,96
0,43
Ghi chú:
1. Điều tra tại các xã: Hòa Bình (Đồng Hỷ); La Bằng (Đại Từ); Phấn Mễ (Phú
Lương)
2. Điều tra tại xã Phú Hộ (Thị xã Phú Thọ); Tiên Phú (Phù Ninh); Võ Miếu
(Thanh Sơn).


7

Điều hòa sinh
Hexythiazox
III
3,67
2,78
trưởng
Este sulfite
Propargite
III
10,18
8,67
Focmamidin
Diafenthiuron
III
4,49
Lân hữu cơ
Dimethoate
II
4,24
Pyrazol
Fenpyroximate
II
6,30
9,47
Pyrethroid
Acrinathrin
III
1,16
5,54
Pyridazinon

1. Điều tra tại các xã: Hòa Bình (Đồng Hỷ); La Bằng (Đại Từ); Phấn Mễ (Phú
Lương)
2. Điều tra tại xã Phú Hộ (Thị xã Phú Thọ); Tiên Phú (Phù Ninh); Võ Miếu
(Thanh Sơn).
Hoạt chất Abamectin được sử dụng nhiều nhất để trừ nhện đỏ nâu trên chè. Tỷ
lệ hộ nông dân sử dụng hoạt chất này để trừ nhện đỏ nâu đạt 19,16% ở Thái Nguyên
và 26,37% ở Phú Thọ. Đứng thứ 2 (sau hoạt chất Abamectin) về số người sử dụng là
hoạt chất Propargite ở Thái Nguyên và Emamectin benzoate ở Phú Thọ (tương ứng
với tỷ lệ 10,18% và 15,02% hộ sử dụng). Các hoạt chất còn lại khác có tỷ lệ hộ nông


8
dân sử dụng đạt thấp, chỉ là 0,13 - 8,45% ở Thái Nguyên và 2,78 - 9,47% ở Phú Thọ
(bảng 3.7).
Bảng 3.8. Các thuốc BVTV hỗn hợp nhiều hoạt chất được sử dụng để trừ nhện
đỏ nâu trên cây chè năm 2014
Nhóm
Tỷ lệ hộ sử dụng %
Hoạt chất
*
Nhóm thuốc
độc
được sử dụng
Thái Nguyên1
Phú Thọ2
Avermectin,
Abamectin +
II+II
0,35
Benzoylurea

Abamectin + Fipronil
II+II
0,96
2,43
Phenylpyrazole
Abamectin +
II+II
4,85
1,48
Avermectin,
Alpha-cypermethrin
Pyrethroid
Abamectin +
II+II
2,91
Lambda-cyhalothrin
Abamectin + Matrine
II+III
2,46
3,58
Abamectin+
Azadirachtin+
II+IV+II
0,27
Emamectin benzoate
Avermectin,
Thuốc thảo mộc
Emamectin benzoate +
II+IV
0,88

BVTV hỗn hợp gồm 3 hoạt chất. Tại các điểm điều tra ở Phú Thọ, thuốc BVTV hỗn
hợp 2 hoạt chất được sử dụng nhiều nhất (với tỷ lệ hộ dùng 4,07%) để trừ nhện đỏ
nâu là hỗn hợp Abamectin + Petroleum oil; sau đó là các hỗn hợp Abamectin +
Matrine và Emamectin benzoate + Matrine với tỷ lệ hộ sử dụng tương ứng là 3,58%
và 3,27% (bảng 3.8).
3.1.2.4. Tình hình sử dụng thuốc phòng trừ nhện đỏ nâu tại một số địa phương
Tại xã La Bằng (Thái Nguyên) có 14 hoạt chất thuộc 10 nhóm thuốc BVTV
được sử dụng để phòng trừ nhện đỏ nâu. Hoạt chất Abamectin có tỷ lệ hộ sử dụng
nhiều nhất (28,31%). Hoạt chất Emamectin benzoate có tỷ lệ hộ sử dụng là 16,39%.
Các hoạt chất còn lại khác có tỷ lệ hộ ở xã này sử dụng là 0,64 - 12,37%. Xã Phú Hộ
(Phú Thọ) có 10 hoạt chất thuộc 9 nhóm thuốc BVTV được sử dụng để trừ nhện đỏ
nâu. Hoạt chất được sử dụng nhiều nhất là Abamectin với 43,1% số hộ sử dụng. Hoạt
chất Emamectin benzoate, Fenpyroximate, Propargite có tỷ lệ hộ sử dụng tương ứng
là 14,57%; 15,44% và 12,76%. Các hoạt chất còn lại khác có tỷ lệ hộ ở xã này sử
dụng là 0,14 - 4,73%.
3.2. Mức độ kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với một số hoạt chất thuốc được
sử dụng trong sản xuất chè
3.2.1. Mức độ kháng thuốc của nhện đỏ nâu với một số hoạt chất
3.2.1.1. Đối với nguồn nhện đỏ nâu thu tại Thái Nguyên
Nhện đỏ nâu trên chè ở Thái Nguyên có chỉ số kháng thuốc R i đối với hoạt
chất Dimethoate đạt cao nhất trong các hoạt chất thí nghiệm và là 14,3. Chỉ số kháng
thuốc Ri của nhện đỏ nâu này đối với hoạt chất Fenpropathrin, Propargite, Abamectin
và Emamectin benzoate đạt thấp hơn, tương ứng là 11,6; 11,3; 11,3 và 11,2. Đối với
hoạt chất Fenpyroximate và Pyridaben, nhện đỏ nâu thu từ Thái Nguyên có chỉ số
kháng thuốc Ri đều đạt 10,3. Nhện đỏ nâu trong thí nghiệm có chỉ số kháng thuốc Ri
đối với các hoạt chất Azadirachtin, Matrine, Rotenone và Hexythiazox đạt rất thấp,
tương ứng chỉ là 3,2; 5,3; 3,7 và 4,6 (bảng 3.11).
Như vậy, nhện đỏ nâu thu trên chè ở Thái Nguyên đã biểu hiện tính kháng
thuốc cao nhất đối với hoạt chất Dimethoate; mới biểu hiện tính kháng thuốc đối với
hoạt chất Fenpropathrin, Propargite, Abamectin và Emamectin benzoate; biểu hiện

13,7139
Fenpropathrin
11,6
10EC
(137,6135-183,7388)
(11,8838-15,8258)
Ortus
42,134
4,0907
Fenpyroximate
10,3
5SC
(38,6907-45,8841)
(3,7598-4,4507)
Nissorun
14,0742
3,0596
Hexythiazox
4,6
5EC
(12,7715-15,4957)
(2,7815-3,3656)
Comite
181,1582
16,0317
Propargite
11,3
73EC
(158,7714-206,7015)
(14,0629-18,2761)

1.9EC
(0,7706-0,9460)
(0,0688-0,0845)
Sokupi
3,5187
0,6639
Matrine
5,3
0.36SL
(2,9870-4,1415)
(0,5645-0,7807)
Trusach
2,8251
0,7636
Rotenone
3,7
2.5EC
(2,6360-3,0143)
(0,7436-0,7835)
Ghi chú: Đánh giá tính kháng thuốc đối với nhện đỏ nâu trưởng thành
Thu mẫu đánh giá vào tháng 10-11/2014
3.2.1.2. Đối với nguồn nhện đỏ nâu thu tại Phú Thọ
Nhện đỏ nâu thu trên chè từ Phú Thọ có chỉ số kháng thuốc Ri đạt không cao
đối với hoạt chất Propargite, Abamectin, Fenpyroximate và tương ứng là 11,5; 11,3
và 10,2. Chỉ số kháng thuốc Ri của nhện đỏ nâu thí nghiệm đối với hoạt chất Matrine,
Azadirachtin đều đạt thấp, tương ứng chỉ là 4,8 và 4,6 (bảng 3.12).
Như vậy, nhện đỏ nâu thu trên chè từ Phú Thọ mới biểu hiện tính kháng thuốc
đối với hoạt chất Propargite và Abamectin; biểu hiện tính kháng chưa rõ ràng đối với
hoạt chất Fenpyroximate và chưa biểu hiện tính kháng thuốc đối với hoạt chất
Azadirachtin, Matrine.

11,5
73EC
(160,2341-203,8748)
(13,3480-17,3285)
Catex
0,06269
0,7084
Abamectin
11,3
(0,0579-0,07156)
1.8EC
(0,6538-0,8861)
Trutat
3,3562
0,7296
Azadirachtin
4,6
0.32EC
(2,8794-3,7653)
(0,6128-0,8463)
Sokupi
3,4262
0,7138
Matrine
4,8
0.36SL
(2,6583-4,0285)
(0,5166-0,8041)
Ghi chú: Đánh giá tính kháng thuốc đối với nhện đỏ nâu trưởng thành
Thu mẫu đánh giá vào tháng 10 - 11/2014

46,8385
11,5
Hexythiazox
Nissorun 5EC
3,0596
14,0742
4,6
Propargite
Comite 73EC
16,0317
117,0314
7,3
Pyridaben
Alfamite 15EC
2,9038
20,3266
7,0
3.3.2. Sự giảm tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu khi không tiếp xúc với thuốc
Sau 5 thế hệ không tiếp xúc với thuốc, giá trị LC50 của hoạt chất Abamectin
đối với nhện đỏ nâu bị giảm nhiều nhất, giảm 9,3 lần. Giá trị LC50 của hoạt chất
Pyridaben, Fenpyroximate, Hexythiazox tương ứng chỉ giảm 6,7; 5,7 và 5,3 lần. Giá
trị LC50 của hoạt chất Propargite bị giảm ít nhất, chỉ giảm 4,6 lần (bảng 3.14). Điều


12
này có nghĩa là tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu đối với hoạt chất Propargite là bền
vững hơn.
Bảng 3.14. Giá trị LC50 của một số hoạt chất đối với nhện đỏ nâu sau 5 thế hệ
không tiếp xúc (tại Viện Bảo vệ thực vật, 2015-2016)
Hoạt chất

Alfamite 15EC
30,1995
4,5074
6,7
3.3.3. Khả năng phát triển tính kháng chéo của nhện đỏ nâu với một số hoạt chất
3.3.3.1. Khả năng kháng chéo của nhện đỏ nâu đã kháng hoạt chất Abamectin
Nhện đỏ nâu (sau 12 thế hệ tiếp xúc với hoạt chất Abamectin) đã kháng hoạt
chất Abamectin có chỉ số kháng thuốc Ri với chính hoạt chất này đạt khá cao (24,4),
còn với hoạt chất Emamectin benzoate (cùng nhóm Avermectin) đạt 16,4. Nhện đỏ
nâu đã kháng hoạt chất Abamectin không biểu hiện kháng chéo với các hoạt chất
thuộc nhóm khác như Azadirachtin, Matrine, Rotenone, Hexythiazox,
Fenpyroximate, Propargite, Pyridaben, Fenpropthrin và Dimethoate. Chỉ số kháng
thuốc Ri của nhện đỏ nâu đối với những hoạt chất thuộc nhóm khác đạt thấp và chỉ là
0,9 - 2,9 (bảng 3.15).
Bảng 3.15. Khả năng kháng chéo của nhện đỏ nâu thế hệ thứ 12 đã kháng hoạt
chất Abamectin với một số hoạt chất khác trừ nhện nhỏ
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2016)
Giá trị LC50 (ppm) đối với
Chỉ số
nhện đỏ nâu
Hoạt chất thí nghiệm
Tên thương phẩm
kháng
Đã kháng
(Ri)
Mẫn cảm
Abamectin
Abamectin
Catex 1.8EC
1,6300

1,1
Matrine
Sokupi 0,36SL
0,7599
0,6440
1,2
Propargite
Comite 73EC
20,2202
15,5540
1,3
Pyridaben
Alfamite 15EC
8,2544
2,8172
2,9
Rotenone
Trusach 2.5EC
0,5767
0,6785
0,9
Nhện đỏ nâu (sau 18 thế hệ tiếp xúc với hoạt chất Abamectin) đã kháng hoạt
chất Abamectin được đánh giá tính kháng chéo với một số hoạt chất được dùng để trừ
nhện đỏ nâu. Kết quả cho thấy nhện đỏ nâu đã kháng Abamectin biểu hiện tính kháng
cao với chính hoạt chất Abamectin và các hoạt chất trong cùng nhóm. Chỉ số kháng


13
thuốc Ri của nhện đỏ nâu đã kháng hoạt chất Abamectin với chính hoạt chất
Abamectin đạt ở mức cao nhất và là 31,4. Đối với hoạt chất Emamectin benzoate

1,5
Propargite
Comite 73EC
20,67156
15,9012
1,3
Pyridaben
Dandy 15EC
8,456859
2,8863
2,9
Như vậy, chưa có biểu hiện tính kháng chéo của nhện đỏ nâu đã kháng hoạt
chất Abamectin với các hoạt chất khác nhóm như Pyridaben, Fenpyroximate và
Propargite. Kết quả nghiên cứu này còn cho thấy nhện đỏ nâu đã kháng hoạt chất
Abamectin từ thế hệ thứ 12 đến thế hệ thứ 18 (sau 6 thế hệ tiếp tục tiếp xúc với hoạt
chất Abamectin) có chỉ số kháng thuốc Ri đối với hoạt chất Abamectin tăng lên đáng
kể, từ 24,4 tăng lên 31,4. Chỉ tiêu này đối với hoạt chất Emamectin benzoate (cùng
nhóm Avermectin) đã tăng từ 16,4 lên 24,4 (bảng 3.15, bảng 3.16).
3.3.3.2. Khả năng kháng chéo của nhện đỏ nâu đã kháng hoạt chất Propargite
Bảng 3.17. Khả năng kháng chéo của nhện đỏ nâu thế hệ thứ 23
đã kháng hoạt chất Propargite với các hoạt chất khác dùng trừ nhện nhỏ
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2016)
Giá trị LC50 (ppm) đối với
Chỉ số
nhện đỏ nâu
kháng
Tên
Hoạt chất thí nghiệm
(Ri)
thương phẩm

3,9688
1,4
Hexythiazox
Nissorun 5EC
3,3246
2,9684
1,1
Matrine
Sokupi 0.36SA
0,5732
0,6440
0,9
Propargite
Comite 73EC
205,0017
15,5540
13,2
Pyridaben
Alfamite 15EC
0,0922
0,0668
1,4
Rotenone
Trusach 2.5EC
0,4546
0,6785
0,7


14

Ghi chú: Công thức 1: Mật độ nhện đỏ nâu ở nương chè có cây che bóng (cây mỡ)
Công thức 2: Mật độ nhện đỏ nâu ở nương chè không có cây che bóng
3.4.2.2. Biện pháp đốn cành
Mật độ nhện đỏ nâu tại đỉnh cao cuối tháng 5 ở nương chè đốn đau là 5,14 con/lá,
còn ở nương chè đốn phớt đạt cao hơn và là 8,07 con/lá. Như vậy, nương chè đốn đau có
mật độ nhện đỏ nâu thấp hơn nhiều so với ở nương chè đốn phớt. Kết quả này tương


15
đồng với kết quả của Nguyễn Văn Đĩnh (1994) và Das (1960). Áp dụng đốn đau giúp
giảm áp lực dùng thuốc trừ nhện đỏ nâu.

Hình 3.3. Tác động của đốn cành đến quần thể nhện đỏ nâu trên giống chè
Trung Du (La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, 2015)
Ghi chú: Công thức 1: Đốn đau (đốn cách mặt đất 40 cm)
Công thức 2: Đốn phớt (đốn cách mặt đất 60cm)
3.4.2.3. Sử dụng phân bón trên chè
Mật độ nhện đỏ nâu trên chè ở các nền phân bón thí nghiệm đều vượt ngưỡng
phòng trừ (6 con/lá). Ở nương chè chỉ bón phân vô cơ (công thức 1) có mật độ nhện
đỏ nâu đạt cao nhất (trong tháng 5 mật độ đạt cao nhất tới 9,2 - 11,2 con/lá). Ở nương
chè bón cả phân hữu cơ sông Gianh và phân vô cơ (công thức 2 và công thức 3) có
mật độ nhện đỏ nâu ở mức thấp hơn so với chỉ bón phân vô cơ (trong tháng 5 mật độ
cao nhất đạt 7,3 - 9,1 con/lá). Ở công thức 2 và công thức 3 có bón phân hữu cơ đã
giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, làm mật độ nhện đỏ nâu giảm đi. Tuy nhiên, mật
độ nhện đỏ nâu ở các nương chè bón phân khác nhau không sai khác ở mức có ý
nghĩa thống kê.
3.4.3. Bảo vệ thiên địch tự nhiên
3.4.3.1. Thành phần thiên địch tự nhiên của nhện đỏ nâu
Bảng 3.18. Thành phần thiên địch của nhện đỏ nâu trên cây chè
(La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, 2015)

+++: Xuất hiện rất phổ biến, tần suất xuất hiện trên 50%.


16
Tại Thái Nguyên đã ghi nhận có 5 loài thiên địch của nhện đỏ nâu. Trong đó,
loài có tần suất bắt gặp cao nhất là bọ rùa đen hai chấm Stethorus sp. Còn các loài
thiên địch khác có tần suất bắt gặp ít hơn là nhện nhỏ bắt mồi Amblyseius sp., bọ mắt
vàng Chrysopa sp., bọ cánh ngắn Oligota sp. và bọ trĩ bắt mồi Scolothrips
sexmacultus.
3.4.3.2. Ảnh hưởng của thuốc đối với thiên địch của nhện đỏ nâu trên cây chè
Các hoạt chất được thí nghiệm có ảnh hưởng đến các loài bắt mồi của nhện đỏ
nâu với mức độ giảm dần theo thứ tự là Pyridaben, Fenpyroximate, Propagite và
Hexythiazox. Bảo vệ được nguồn thiên địch tự nhiên của nhện đỏ nâu sẽ giúp giảm
áp lực dùng thuốc đối với nhện đỏ nâu.
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của một số thuốc đối với thiên địch
của nhện đỏ nâu trên cây chè (La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, 2015)
Thời điểm
điều tra

Mật độ tổng số của các loài bắt mồi ở các công thức (con/khay)

Comite 73EC Dandy 15EC Nissorun5EC Ortus 5SC Đối chứng
(1,0lít/ha)
(1,5 lít/ha)
(0,6 lít/ha)
(1,0 lít/ha)
(nước lã)
TPL1
0,19
0,20

0,09
0
0,29
14 NSPL2
0,02
0
0,18
0
0,34
21 NSPL2
0,05
0
0,22
0
0,32
TPL3
0,06
0
0,28
0
0,28
7 NSPL3
0
0
0,08
0
0,23
14 NSPL3
0
0

theo thời gian sau phun (thuốc Comite 73EC có hiệu lực đạt cao nhất là 82,86% vào
ngày thứ 14 sau phun và thuốc Nissorun 5EC có hiệu lực cao nhất là 78,54% ở ngày
thứ 21 ngày sau phun).
3.4.4.2. Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
a. Xác định nơi ở của nhện đỏ nâu trên cây chè
Nhện đỏ nâu ở mặt trên lá chè nhiều hơn so với ở mặt dưới lá chè. Tỷ lệ cá thể
nhện đỏ nâu ở mặt trên của lá chè chiếm 62- 69,4% tổng số. Nhện đỏ nâu tập trung
chủ yếu ở tầng tán lá dưới và tầng tán lá giữa, còn tầng tán lá trên có số lượng cá thể
ở mức thấp nhất. Vào đỉnh cao mật độ, số lượng nhện đỏ nâu tập trung ở tầng giữa và
tầng dưới tán chè đạt 79,2 - 79,8%. Kết quả này chỉ ra khi phun thuốc cần phun kỹ cả
hai mặt lá chè và tất cả các tần tán lá chè.

Hình 3.5. Diễn biến nhện đỏ nâu ở các mặt lá chè Trung Du
(La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, 2015)

Hình 3.6. Diễn biến mật độ nhện đỏ nâu ở các tầng tán lá chè giống Trung Du
(La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, 2015)
b. Sử dụng công cụ phun rải hợp lý để nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc
Hiệu lực đối với nhện đỏ nâu hại chè của cả 3 loại bình bơm đều đạt cao nhất
(71,91- 87,73%) vào thời điểm 14 ngày sau phun thuốc Comite 73EC. Trong đó, bình
bơm cao áp hoặc bình động cơ đảm bảo hiệu quả phòng trừ nhện đỏ nâu đạt cao hơn
bình bơm tay.


18
Bảng 3.26. Hiệu quả của các loại công cụ phun rải khi phun thuốc Comite 73EC
để hiệu quả đối với nhện đỏ nâu (La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, tháng 4/2015)
Kích
Hiệu lực (%) vào các thời điểm sau phun
thước

LSD0.05
2,50
13,35
17,02
10,53
7,81
14,92
CV (%)
10,4
11,1
11,5
6,5
4,8
11,3
Ghi chú: MĐTP: Mật độ nhện đỏ nâu trước phun; NSP: Ngày sau phun;
Các chữ cái khác nhau trong cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P
dùng thuốc có hoạt chất Pyridaben), sau một năm giá trị LC 50 của Pyridaben đối
với nhện đỏ nâu tăng 2,4 lần (bảng 3.32).
3.5. Xây dựng mô hình và đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện
đỏ nâu theo hướng tổng hợp
3.5.1. Hiệu quả kỹ thuật của mô hình
3.5.1.1. Giảm số lần sử dụng thuốc phòng trừ nhện đỏ nâu
Chè mô hình trong năm 2015, 2016 đã giảm được (tương ứng) 6 và 5 lần phun
thuốc BVTV so với ở ngoài mô hình. Trên chè mô hình có số lần phun thuốc trừ nhện
đỏ nâu ít hơn 2 lần so với ngoài mô hình.
Bảng 3.33. Số lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè ở trong mô hình và
ngoài mô hình (La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, 2015- 2016)
Chỉ tiêu
Đơn vị
Năm 2015
Năm 2016
tính
MH
NMH
MH
NMH
Thuốc trừ bệnh
lần
3
4
3
3
Thuốc trừ nhện đỏ nâu
lần
3
5

ở trong mô hình và ngoài mô hình (La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, 2016)
Trong mô hình chỉ thực hiện 3 lần phun thuốc trừ nhện đỏ nâu với sự luân
phiên giữa của các thuốc có cơ chế tác động khác nhau, nhưng mật độ nhện đỏ nâu
luôn ở mức thấp hơn rõ rệt so với trên nương chè ngoài mô hình. Đỉnh cao trong
tháng 4/2016 nhện đỏ nâu đạt mật độ 4,45 - 4,59 con/lá và đỉnh cao trong tháng
10/2016 có mật độ 4,91 con/lá. Mặc dù đã thực hiện 5 - 6 lần phun thuốc, nhện đỏ


20
nâu trên nương chè ngoài mô hình có mật độ khá cao, thường xuyên ở mức vượt
ngưỡng phòng, luôn luôn cao hơn so với ở trong mô hình. Tại đỉnh cao vào tháng
4/2016 có mật độ đạt 18,2 con/lá và tại đỉnh cao tháng 10/2016 có mật độ là 9,3
con/lá (hình 3.7).
3.5.1.3. Làm chậm sự phát triển tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu
Mô hình đã sử dụng luân phiên thuốc. Do đó, chỉ số kháng thuốc Ri của nhện
đỏ nâu đối với các thuốc đã giảm khá rõ. Chỉ số kháng thuốc Ri của nhện đỏ nâu đối
với thuốc Catex 1.8EC đã từ 11,3 (cuối năm 2014) giảm xuống 8,3 (cuối năm 2016).
Đối với thuốc Alfamite 15EC, chỉ số Ri đã từ 10,3 (cuối năm 2014) giảm xuống 8,6
(cuối năm 2016). Đối với thuốc Ortus 5SC, chỉ số Ri đã từ 10,3 (cuối năm 2014)
giảm còn 7,6 (cuối năm 2016),v.v… (bảng 3.34).
Bảng 3.34. Mức độ kháng với một số thuốc BVTV của nhện đỏ nâu trước và sau
2 năm thực hiện mô hình (La Bằng, Đại Từ, Thái Nguyên, 2014- 2016)
Chỉ số kháng (Ri)
Tên
Sau thực hiện MH
Trước thực
Tên hoạt chất
thương phẩm
hiện MH
MH

Fenpyroximate
Ortus 5SC
10,3
7,6
10,5
Hexythiazox
Nissorun 5EC
4,6
4,7
4,5
Matrine
Sokupi 0.36SL
5,3
5,4
5,9
Propargite
Comite 73EC
11,3
10,1
12,8
Pyridaben
Alfamite 15EC
10,3
8,6
12,3
Rotenone
Trusach 2.5EC
3,7
3,6
3,6

Thời điểm
Hiệu lực (%) ở các ngày sau phun
Loại thuốc thí
đánh giá
nghiệm
3 NSP
5 NSP
7 NSP 14 NSP 21 NSP
10/2014
76,76
78,20
73,43
68,09
60,04
Catex 1.8EC
(0,6 lha)
10/2016
72,93
85,93
78,23
74,31
65,41
10/2014
68,67
76,72
69,30
64,73
59,07
Trutat 0.32EC
(0,4 l/ha)

80,74
78,59
74,47
66,80
10/2014
68,98
75,65
79,97
82,86
80,34
Comite 73EC
(1,0 l/ha)
10/2016
77,39
82,36
86,59
91,14
83,70
10/2014
83,82
79,75
75,88
68,05
60,25
Dandy 15EC
(1,5 l/ha)
10/2016
87,16
88,78
85,73

Mô hình
Ngoài mô hình
1. Phân bón (1.000đ)
47.200
42.495
2. Chi phí BVTV (1.000đ)
10.680
15.980
3. Chi phí khác (1.000đ)
85.500
60.900
4. Tổng chi phí (1.000đ, cộng 1+ 2+ 3)
143.400
119.375
5. Năng suất trung bình (kg):
13.300
12.100
6. Tổng thu (1.000đ)
332.500
278.300
7. Lợi nhuận (1.000đ)
189.100
158.925
Tăng so với NMH (%)
19,0%
Ghi chú: MH: Trong mô hình; NMH: Ngoài mô hình
Giá thu mua: Trong mô hình: 24.000 đ/kg, Ngoài mô hình: 22.000 đ/kg
3.5.3. Đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc của nhện đỏ nâu theo hướng
tổng hợp cho vùng chè Thái Nguyên và Phú Thọ
Từ kết quả nghiên cứu kết hợp với kết quả nghiên cứu đã công bố của các nhà

cùng sau khi áp dụng các biện pháp phòng trừ khác không còn hiệu quả. Chỉ sử dụng
thuốc hóa học khi mật độ nhện 4 - 6 con/lá hoặc 20% số lá già, lá bánh tẻ bị hại. Chú
ý kiểm tra nương chè, thường xuyên để phát hiện sớm các điểm phát sinh gây hại của
nhện và phun thuốc phòng trừ kịp thời để tránh lây lan trên diện rộng.
- Chỉ sử dụng các thuốc trong danh mục thuốc BVTV được phép dùng trên cây
chè như Hexythiazox (Nissorun 5EC,…) Pyridaben (Alfamite 15EC, Dandy
15EC…), Propargite (Comite 73EC, Daisy 57EC,…).
- Ưu tiên sử dụng luân phiên các thuốc thuộc nhóm hoạt chất Matrine (Sokupi
0.36SL,...), Azadirachtin (Trutat 0.32EC,...), Rotenone (Trusach 2.5EC,…),
Abamectin (Catex 1.8EC,...) và dầu khoáng Petroleum spray oil (SK Enspray
99EC,...), v.v...
- Sử dụng 1 lần/năm với các loại thuốc chứa hoạt chất mà nhện đỏ nâu chưa biểu
hiện tính kháng (Ri < 10). Cần hạn chế sử dụng các thuốc chứa hoạt chất mà nhện đỏ
nâu đã biểu hiện kháng (Ri>10) và mỗi loại thuốc chứa hoạt chất mà đã bị kháng chỉ
nên sử dụng 1 lần trong 2 năm. Phải sử dụng luân phiên các thuốc thuộc các nhóm
hoạt chất khác nhau.
- Chọn thuốc có hiệu lực cao đối với giai đoạn phát triển của nhện đỏ nâu vào
thời điểm dự định phun thuốc. Thí dụ, các thuốc Comite 73EC, Nissorun 5EC và
Dandy 15EC có hiệu lực cao đối với pha trứng thì cần được lựa chọn sử dụng khi trên
nương chè chủ yếu là pha trứng của nhện đỏ nâu; thuốc Comite 73EC có hiệu lực cao
đối với nhện non tuổi 1 và tuổi 2 thì cần được lựa chọn khi trên nương chè nhện đỏ
nâu chủ yếu đang ở giai đoạn nhện non tuổi 1 và tuổi 2;…
- Để phun thuốc phòng trừ nhện đỏ nâu đạt hiệu quả cần phải chú ý phun kỹ cả
hai mặt lá chè ở tất cả các tầng tán lá chè.
Sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc 4 đúng (đúng thời điểm, đúng thuốc,
đúng nồng độ và liều lượng, đúng cách) và khi phun thuốc ưu tiên sử dụng bình phun
máy cao áp, phun kỹ 2 mặt lá. Lượng nước thuốc cần phun từ 400 - 600 lít/ha.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Đã ghi nhận 21 hoạt chất (thuộc 16 nhóm thuốc) ở Thái Nguyên và 13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status