Đề cương luận văn Thạc sĩ Triết học: Tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó đối với công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay - Pdf 59

aaaaaa
TRƯỜNG ĐẠI HỌ
C SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TRIẾT HỌC
­­­­­         ­­­­­

 
                                                                                     

DƯƠNG VĂN LĨNH

TƯ DUY BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH VÀ Ý NGHĨA 
CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN      
Ở TỈNH SƠN LÀ HIỆN NAY

ĐÊ C
̀ ƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIÊT HOC
́
̣

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TRIẾT HỌC
­­­­­         ­­­­­

                                                                                     

DƯƠNG VĂN LĨNH
      PHÊ

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ  tịch Hồ  Chí Minh là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc 
Việt Nam. Yêu nước, thương dân, cả  cuộc đời người đấu tranh không mệt mỏi 
vì tự do hạnh phúc của nhân dân.
Tư  tưởng Hồ Chí Minh là hệ  thống quan điểm toàn diện và phong phú về 
cách mạng Việt Nam, là sự  hun đúc, kết tinh từ  những tinh hoa  ưu tú nhất của  
lịch sử  tư  tưởng dân tộc, thời đại và nhân loại; được trí tuệ, nhân cách Hồ  Chí 
Minh làm cho thăng hoa, trở  thành giá trị  văn hóa Việt Nam hiện đại. Hồ  Chí 
Minh không những nắm lấy cái tinh thần, phương pháp biện chứng của chủ 
nghĩa Mác ­ Lênin, hòa quyện với tinh hoa biện chứng phương Đông vào thực 
tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam để phát hiện, giải quyết những vấn đề của lịch 
sử cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo mà còn bổ sung mới, phát 
triển và làm phong phú hơn chủ nghĩa Mác ­ Lênin trong thời đại mới để tạo nên  
cái riêng trong tư tưởng biện chứng của mình. 
Tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ được phản ánh trong các bài nói, bài  
viết mà còn thể  hiện qua quá trình chỉ  đạo thực tiễn cách mạng phong phú, đa  
dạng, hiệu quả  trong phong cách lối sống của Người và trên nhiều lĩnh vực.  
Trong đó quan điểm nổi bật nhất là tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc kết hợp 
3


giải phóng giai cấp mà cốt lõi là tinh thần  đoàn kết dân tộc  “Sự  nghiệp cách  
mạng là sự  nghiệp của đông đảo quần chúng nhân dân và chỉ  có thể  thực hiện  
được bằng sức mạnh của khối thống nhất toàn dân,…”. 
Trong tinh thần đoàn kết, công tác vận động quần chúng nhân dân đoàn kết, 
thống nhất, chung sức một lòng thực hiện cách mạng, điều đó thể  hiện rõ nhất 
sự  phát triển tổng hợp của tư  duy biện chứng, khoa học chính trị, nghệ  thuật,  
tinh tế  và sâu sắc bởi nó chứa đựng những tinh hoa của lịch sử  tư  tưởng biện  
chứng nhân loại nhưng không hề  bị  gò bó, máy móc mà Người vận dụng một  
cách linh hoạt, sáng tạo trong mọi hoàn cảnh cụ thể, ở mọi lĩnh vực và ngày càng  

tưởng nhân dân; chậm đổi mới nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần  
chúng trong tình hình mới…”
Dân vận là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng, là một đặc trưng 
chủ yếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Công tác Dân vận không chỉ là vận  
động nhân dân thực hiện các chủ  trương chính sách của Đảng và Nhà nước, mà 
còn là phương thức thu hút nhân dân vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, 
chính sách đó. Trong những hoạt động này vấn đề  cốt lõi là phải quan tâm đến  
lợi ích chính đáng của nhân dân. Vấn đề tưởng như đơn giản, dễ làm nhưng thực 
tế đến nay nhiều lúc, nhiều nơi vẫn làm chưa tốt. Bên cạnh số đông cán bộ đảng 
viên vẫn giữ được phẩm chất cách mạng và gắn bó với nhân dân, một bộ phận  
không nhỏ cán bộ, đảng viên mang nặng bệnh quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần  
chúng, nạn tham ô, hối lộ  vẫn còn xảy ra. Không ít đoàn thể  cũng bị  quan liêu  
hoá, hành chính hoá, không chịu đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tập 
hợp các tầng lớp nhân dân, làm giảm sự  gắn bó của nhân dân với Đảng và Nhà  
nước... những hiện tượng đó là tiếng chuông cảnh báo để  chúng ta phải làm tốt 
hơn nữa công tác dân vận. Để nâng cao hiệu quả của công tác dân vận bên cạnh  
việc hoàn thiện chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tiễn đang đặt ra còn  
phụ thuộc rất lớn vào phương thức tiến hành dân vận. 
Vì thế trong nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, tác giả nhận thấy  
tư  duy biện chứng trong phương pháp dân vận của Người trong giai đoạn hiện 
nay còn giữ nguyên giá trị to lớn đôi v
́ ơi s
́ ự nghiêp cach mang n
̣
́
̣
ươc ta
́ . “Củng cố  
niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc  
và mối quan hệ  máu thịt giữa Đảng và nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân  

cách có hệ thống các lý luận về phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh và phân 
tích khá cặn kẽ  nội dung, ý nghĩa của phương pháp, phong cách Hồ  Chí Minh. 
Tuy nhiên, tác giả  chưa chỉ  ra và phân tích rõ tính biện chứng trong các phương 
pháp cách mạng trên. Đây là một trong số những tài liệu đầu tiên nghiên cứu về 
phương pháp và phong cách Hồ  Chí Minh từ  đó mở  đường và đưa việc nghiên 
cứu phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh lên tầm cao mới.
6


Cuốn sách thứ hai cũng liên quan đến đề  tài này là cuốn Tìm hiểu phương  
pháp Hồ  Chí Minh  của GS.TS Hoàng Chí Bảo, Nxb Lý luận Chính trị  ­ Hành 
Chính, Hà Nội (2011). Cuốn sách là công trình đầy đặn, công phu thể  hiện tâm 
huyết của một nhà khoa học đã có sự thấu hiểu sâu sắc về con người và phương  
pháp Hồ  Chí Minh. Từ  những quan điểm mang tính chất gợi mở, GS.TS Hoàng 
Chí Bảo đã chỉ ra sự hình thành phương pháp Hồ  Chí Minh, bước đầu nêu ra và  
phân tích những đặc điểm chủ  yếu của phương pháp Hồ  Chí Minh, từ  đó bước 
đầu vận dụng vào tìm hiểu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh chứ chưa đi vào tìm  
hiểu và phân tích tính biện chứng trong các phương pháp cách mạng. Về cơ bản, 
cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống phương pháp Hồ Chí Minh và bước 
đầu gợi mở cho các nhà nghiên cứu về phương pháp Hồ Chí Minh sau này.
Thứ hai, Nhóm các công trình nghiên cứu về tư tưởng và tư tưởng triết học  
Hồ Chí Minh:
Các cuốn sách tiêu biểu là Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh của Viện Hồ 
Chí Minh, Hà Nội, 1993, tập 3;  Tư  tưởng triết học Hồ  Chí Minh  do  Lê Hữu 
Nghĩa (Chủ biên), Nxb Lao Động, Hà Nội, 2000; Góp phần tìm hiểu tư duy đặc  
sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh  của tác giả Hồ Kiếm Việt, Nxb Chính trị quốc 
gia, Hà Nội, 2004; Hồ  Chí Minh học và minh triết Hồ Chí Minh của tác giả Bùi 
Đình Phong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Hồ Chí Minh, nhà cách mạng  
sáng tạo  của Mạch Quang Thắng, Nxb Chính trị  quốc gia, Hà Nội, 2009; Giáo 
trình tư  tưởng Hồ  Chí Minh  của Phạm Ngọc Anh, Nxb Chính trị  quốc gia, Hà 

thực tiễn hóa lý luận và lý luận hóa thực tiễn. “Thực tiễn không có lý luận 
hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ  với thực 
tiễn là lý luận suông”.
Thứ  ba, Nhóm các công trình nghiên cứu về  công tác dân vận của Hồ  Chí  
Minh: 
8


Tác phẩm “Dân vận” của chính trực tiếp Hồ  Chí Minh viết được in 
trong Bộ Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, tr. 232.
Về  hình thức: Đây là một bài viết rất ngắn gọn, từ đầu đề  (chỉ  vỏn vẹn 2 
từ), đến dung lượng (chỉ có 573 từ); được diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị, gần  
gũi với quần chúng; văn phong súc tích, có tính khái quát cao. 
Về  nội dung: Giản dị, ngắn gọn mà không hề  sơ  lược. Tác phẩm “Dân 
vận” đã gói ghém một cách đầy đủ  và sâu sắc những quan điểm, tư  tưởng của 
Hồ Chí Minh về công tác này.
Về  tầm quan trọng của công tác dân vận: Hồ  Chí Minh chỉ  rõ rằng: “Dân 
vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. 
Về  mục đích của công tác dân vận: Cái đích chung và cao nhất của sự 
nghiệp cách mạng mà Đảng ta và Hồ Chí Minh chủ trương trước sau vẫn là “từ 
dân, vì dân, cho dân”. 
Về  bản chất của công tác dân vận: Theo Hồ  Chí Minh, thực chất hay bản 
chất của công tác dân vận, chính là nhằm “vận động tất cả  lực lượng của mỗi  
một người dân không để  sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, 
để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể 
đã giao cho...”. 
Về lực lượng làm công tác dân vận: Chỉ rõ ai là người làm công tác dân vận
Về  cách thức, phương pháp làm công tác dân vận: Óc nghĩ, mắt trông, tai 
nghe, miệng nói, tay làm, chân đi.
 Tác phẩm Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân  

– lịch sử, khái quát hóa, thống kê, so sánh,…
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ  lục luận  
văn dự kiến gồm 2 chương 7 tiết.  
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1. Những luận điểm cơ bản 
Từ mục đích nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn tập trung chủ yếu vào  
một số luận điểm cơ bản sau:
Một là, Tư  duy biện chứng Hồ  Chí Minh là sự  vận dụng, phát triển sáng  
tạo tư  tưởng biện chứng phương Đông, phương Tây mà tiêu biểu là tư  tưởng 
biện chứng cua 
̉ Trung Hoa và tư  tưởng biện chứng của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin 
11


vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Hai là,  hệ  thống tư  duy biện chứng Hồ  Chí Minh trong công tác dân vận 
mang tính khoa học và cách mạng.
Ba là, vận dụng tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh có vai trò, ý nghĩa to 
lớn đối với công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay.
10.2.  Đóng góp mới của tác giả
­ Vê ly luân: H
̀ ́ ̣
ệ thống hóa tư duy biện chứng Hồ Chí Minh.
­ Vê th
̀ ực tiên: Y
̃ ́ nghĩa của nó đối với công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện  
nay.

12


Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh: Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh là sản 
phẩm tổng hợp của sự kế thừa những tư tưởng biện chứng trong l ịch s ử v ới vi ệc  
tổng kết những tính chất biện chứng của cách mạng Việt Nam và vận dụng sáng 
tạo vào thực tiễn xã hội Việt Nam. 
­ Dân vân
̣ : Dân vận là tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục mọi 
người dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật  
của Nhà nước. Dân vận còn có nghĩa là làm gương trước dân.
Theo   Hồ   Chủ   tịch,   “dân   vận là vận động   tất   cả   lực   lượng   của   mỗi 
người dân, không để  sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân để  thực 
hành những công việc nên làm, những công việc mà đoàn thể  và Chính phủ  đã 
giao cho” (bài báo “Dân vận” của Người đăng trên Báo Sự  Thật với bút danh 
X.Y.Z (ngày 15­10­1949).
­ Công tac dân vân
́
̣ : Công tác dân vận là toàn bộ  các hoạt động của Đảng  
đối với quần chúng nhằm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo cho lợi  
ích thiết thực của nhân dân, huy động tối đa lực lượng toàn dân thực thắng lợi 
mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng.
­ Hồ Chí Minh đưa ra quy trình công tác dân vận:
+ Phải cho dân biết: Quyền làm chủ của nhân dân, đường lối, chính sách của 
Đảng, Nhà nước, thông tin thời sự, chính sách, cán bộ lãnh đạo, quản lý mình.
+ Giải thích cho dân hiểu: "Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho 
mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ 
phải hăng hái làm cho kỳ được".
+ Bày cách cho dân làm: "phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm 
của dân, cùng với dân đặt kế  hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương,  
rồi động viên và tổ  chức toàn dân ra thi hành".  Và "Trong lúc thi hành phải theo 
dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân".

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
16


                                Thành công, thành công, đại thành công” [39, tr. 607].
Người luôn kêu gọi toàn dân thống nhất, đoàn kết trên cùng một mặt trận.  
Người kêu gọi tất cả  mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo, 
đảng phái, dân tộc, không phân biệt già trẻ, gái trai. Ai có tài, có đức, có sức, có  
lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thì đoàn kết với họ. Với tinh thần đó 
trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế  quốc Mỹ  xâm lược, dân 
tộc ta đã làm nên những thắng lợi vĩ đại, vang dội khắp năm châu, chấn động địa  
cầu.
Hai là, Kết hợp giữa kiên định mục tiêu của cuộc kháng chiến với linh hoạt,  
sáng tạo trong các hình thức và phương pháp tiến hành chiến tranh giữ nước.
Để chiến thắng nhiều kẻ thù khác nhau, ông cha ta đã sáng tạo và vận dụng  
linh hoạt nhiều hình thức, phương pháp đấu tranh cách mạng phù hợp với điều  
kiện hoàn cảnh thực tế   ở  nước ta, giải quyết thành công vấn đề  lấy nhỏ  thắng  
lớn, “lấy ít địch nhiều”, tùy thời cơ mà dùng mưu lược để thắng địch.
Trần Quốc Tuấn đã nhận định: “Tóm lại, giặc cậy trường trận, ta cậy đoản  
binh, lấy đoản chế trường là việc thường của binh pháp. Nếu thấy quân giặc đến  
ồ ạt như lửa cháy, gió thổi thì dễ chế  ngự. Nếu chúng đi chậm như cách tầm ăn,  
không cần của dân, không cần được chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét  
quyền biến như đánh cờ vậy, tùy thời mà làm”  [23, tr. 215]. Trần Quốc Tuấn luôn 
bám sát thế trận để đề ra nhiều phương pháp tác chiến, cách đánh với nội dung và  
hình thức phù hơp: lúc đánh du kích, khi đánh lẻ  tẻ  phân tán, khi tập trung công 
kích, khi lại rút lui, lợi dụng khí hậu, địa hình hiểm trở, dùng mưu trí lừa địch... 
với hình thức, quy mô khác nhau để  giành thắng lợi. Tư  tưởng biện chứng trong  
phương pháp đánh giặc ấy đã được thể hiện rất rõ ràng.
Đến thế kỷ XV, Nguyễn Trãi cũng đưa ra nhiều cách đánh sáng tạo, độc đáo 
là tránh chỗ mạnh, đánh chỗ  yếu, dùng quân mai phục để  đánh bất ngờ, phát huy  

phương pháp tác chiến rất sáng tạo:  “Dụ  giặc vào bẫy để  đánh”  [32, tr.475]; 
18


Người đòi hỏi phải “Thiên biến vạn hóa, xuất quỷ nhập thần” [32, tr.470]; “Náo 
phía đông, đánh phía tây”  [32, tr.474]... Trong kháng chiến chống Mỹ, Hồ  Chí 
Minh có sự kết hợp linh hoạt đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp 
giữa khởi nghĩa quần chúng với chiến tranh cách mạng, đánh địch trên cả ba vùng 
chiến lược, đánh địch bằng ba mũi giáp công, vừa đánh vừa đàm... Thực tiễn cách  
mạng Việt Nam đã chứng minh sự  kết hợp  ấy hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo,  
làm nên sức mạnh to lớn đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thành công.
1.2.2 Bản thân Hồ Chí Minh và quá trình tìm đường cứu nước
Việt Nam là một quốc gia phong kiến nhỏ  bé và lạc hậu  ở  Đông Dương, 
cũng không thoát khỏi thân phận là thuộc địa của thực dân Pháp. Sau Cách Mạng 
Tháng Mười Nga, Việt Nam cũng là nơi hội tụ hầu hết những mâu thuẫn lớn của  
thời đại. Phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam cũng liên tiếp nổ ra 
nhưng đều lần lượt bị  thất bại vì bế  tắc về  đường lối, khủng hoảng lực lượng  
lãnh đạo có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của lịch sử. Nhưng, cũng vì vậy mà tư 
tưởng chống Pháp, nguyện vọng giải phóng dân tộc ngày càng trở  nên thiết tha 
mãnh liệt, nhất là đối với những tầng lớp tri thức có lòng yêu nước nồng nàn. Đa  
số  họ  xuất thân từ  tầng lớp khoa bảng, thấm nhuần học thuyết Nho giáo và các 
học thuyết phương Đông khác, đồng thời lại được tiếp thu ít nhiều tri thức mới  
của phương Tây, nhất là văn minh Pháp. Tuy nhiên, tất cả những con đường giải  
phóng dân tộc mà họ  tìm kiếm vẫn chưa thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn trước 
đây…
     Trong bối cảnh lịch sử ấy của đất nước và của thời đại, Chủ tịch Hồ Chí  
Minh sinh ra và lớn lên, nhận sứ  mệnh lịch sử  giải phóng dân tộc, thực hiện dân 
chủ, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, theo con đường mà Cách mạng tháng  
mười Nga đã vạch ra. Hoàn cảnh lịch sử với yêu cầu cách mạng ấy là nguồn gốc  
đầu tiên quy định mục tiêu, khơi nguồn động lực cho việc hình thành và phát triển 

của lịch sử. Rõ ràng nhất là tư  tưởng nhân văn sâu sắc của Việt Nam với những  
20


triết lí như  “thương người như  thể  thương thân”, “lá lành đùm lá rách” , “ba cây 
chụm lại” “lao động là tiêu chuẩn đạo đức”, “một dân tộc độc lập và một quốc gia 
có chủ quyền”… luôn luôn được Hồ Chí Minh trân trọng, nuôi dưỡng và vận dụng 
trong mọi quá trình cách mạng, dưới những hình thức mới như  “lao động là vẻ 
vang”, “nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn”, “đoàn kết, đoàn 
kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”, “không có gì quý hơn  
độc lập tự  do”… Có thể  nói, những tư  tưởng triết học truyền thống của dân tộc  
Việt Nam là cội nguồn, là yếu tố nội sinh được tích tụ một cách tự nhiên trong tư 
tưởng triết học của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đã biết hội tụ trong mình hầu như tất cả những giá trị triết học 
của dân tộc, biết phát triển, và nâng chúng lên  ở  trình độ  mới với hình thức mới. 
Trước hết là tư  tưởng “trời, đất và con người hòa hợp”. Trong đó, con người có  
thể  “đội đá vá trời” , “dời núi, lấp sông, lấp biển” ­ “nhân địch thắng thiên”. Tư 
tưởng này càng được củng cố  và  ổn định khi được bổ  sung bởi tư  tưởng “thiên  
nhân hợp nhất” của triết học Nho, Phật, Lão du nhập vào Việt nam những năm 
đầu công nguyên. 
Là một nước nhỏ   ở  gần hai nền văn hóa lớn là  Ấn Độ  và Trung Hoa nên  
Việt Nam đã tiếp thu hai nền văn hóa đó để  làm giàu cho tư tưởng cũng như  nền 
văn hóa của mình. Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng từ hai  
nền văn hóa đó đặc biệt là biện chứng của Nho giáo, biện chứng trong tác phẩm  
Kinh Dịch và biện chứng của Phật giáo. 
Ảnh hưởng của Nho giáo
Nho giáo chủ  trương “Nhập thế”, “chính danh”, “hành đạo”, phải có hành 
động tích cự  với đời, phải “tận lực”... Người quân tử  phải xả  thân vì Nhân, vì  
Nghĩa... Triết lý Nho giáo là triết lý hành động, giúp đời, cứu người.
Nho giáo vào Việt Nam đã kết hợp với chủ nghĩa yêu nước truyền thống tạo  

thì chủ trương “Xuất thế”, “Vô vi”, “Lấy nhu thắng cương”. Nho gia và Đạo gia là 
22


hai hệ  tư tưởng đối lập nhau. Nhưng Hồ  Chí Minh đã tìm ra được sự  thống nhất 
của hai cái “đối lập” đó, khi dân khổ, mất nước thì phải xả  thân vì nước, vì dân,  
đến khi nước đã giành được độc lập, nhân dân được âm no thì “thân thoái”, trở về 
sống cảnh điền viên, gần gũi với thiên nhiên và người dân lao động. Người tâm  
sự: “Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để  
câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ  già hái củi, em trẻ  chăn trâu,  
không dính líu gì với vòng danh lợi” [33, tr.161].
Như vậy, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo mối quan hệ giữa 
lực, thế, thời trong tư tưởng biện chứng Phương Đông. Đó là cơ  sở cho tư tưởng 
chỉ đạo chiến lược tạo lực, lập thế, tranh thời sáng suốt của Người. Điều đó được 
chứng minh qua hai cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân Pháp và đế  quốc 
Mỹ.
Bên cạnh Nho gia Đạo gia, Hồ  Chí Minh còn chịu  ảnh hưởng từ  tư  tưởng 
biện chứng trong phương pháp dùng binh của Tôn Tử. Với tác phẩm “Tôn tử binh 
pháp”, Tôn Tử đã đề cập hết các vấn đề lý luận quân sự thời Xuân thu, được phân 
tích với quan điểm biện chứng. Dù còn thô sơ  nhưng đã tổng két kinh nghiệm  
chiến tranh hơn một nghìn năm trước đó, trong đó trọng tâm là bàn đến phương 
pháp để giành thắng lợi trong chiến tranh. Tôn Tử đã chỉ ra quy luật: “Biết mình,  
biết người, trăm trận không nguy” [53, tr.78], “Việc binh là thuật dối trá, đánh vào  
nơi địch không phòng bị, ra quân lúc địch không ngờ”  [53, tr.61]. Hồ  Chí Minh 
nhận xét: “ ... Phép ông Tôn Tử  tuy đã lâu đời nhưng nguyên tắc đến nay vẫn là  
rất đúng. Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về quân sự đúng, mà dùng về  
chính trị  cũng rất hay”  [32, tr.513]. Người cũng đã vận dụng:  “Biết mình, biết  
giặc, trăm trận, trăm thắng” [34, tr.475]. Trong chỉ đạo tác chiến, Người cũng rất 
coi trọng việc nắm quyền chủ  động trông chiến đấu và phải  “tránh chỗ  mạnh,  
đánh chỗ  yếu” [34, tr.474]. Người cũng luôn chú ý đến nghệ  thuật lừa địch, đánh 

phù hợp với quy luật của đất trời, phải có sự  giao hòa giữa con người và thiên 
24


nhiên “thiên nhân tương cảm”. 
Kinh dịch đề cập đến sự vận động và phát triển của vạn vật: trong “hệ từ 
thượng truyện” (Chương XI) có đoạn: “Dịch hữu thái cực, thị  sinh lưỡng nghi,  
lưỡng nghi sinh tứ  tượng, tứ  tượng sinh ra bát quái... Nghĩa là dịch có thái cực,  
thái cực sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh ra tứ  tượng, tứ  tượng sinh ra bát  
quái” [24, tr.563].
Châu Liêm Khê giảng thêm  “Vô cực nhi sinh thái cực. Thái cực động nhi  
sinh Dương; động cực nhi tĩnh; tĩnh nhi sinh Âm; tĩnh cực phục động; nhất động  
nhất tĩnh, hỗ  vi kỳ  căn. Phân Âm phân Dương, Lưỡng nghi lập yên. Dương biến  
Âm hợp nhi sinh Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ, Ngũ khí thuận bố, tứ  thời hành yên.  
Ngũ hành, nhất, Âm dương dã. Âm dương, nhất, Thái cực dã. Thái cực bản vô cực  
dã. Ngũ hành chi sinh dã, các nhất kỳ tính. Vô cực chi chân, nhị ngũ chi tinh, diệu  
hợp chi ngưng. Kiền đạo thành nam, Khôn đọa thành nữ; nhị  khí giao cảm, hóa  
sinh vạn vật; vạn vật sinh, sinh nhi biến hóa vô cùng yên. Nghĩa là: Vô cực mà là  
thái cực. Thái cực động thì sinh Dương; động cực thì tĩnh; tĩnh thì sinh Âm; tĩnh  
cực lại động; một động một tĩnh, cùng làm căn bản cho nhau. Rồi khi phân chia ra  
Âm dương thì Lưỡng nghi thành lập. Và đến lúc Dương biến, Âm hợp thì Thủy,  
Hỏa, Mộc, Kim, Thổ sinh ra. Năm khí đó nếu được xếp đặt thuận hợp với nhau thì  
bốn mùa sẽ  vận hành đều đặn. Ngũ hành nếu hợp nhất thì thành Thái cực. Thái  
cực có gốc là vô cực. Ngũ hành sinh hóa đều có tính chất duy nhất. Cái Chân  
không của vô cực, cái tính chất của Âm dương và Ngũ hành, tất cả phối hợp một  
cách kỳ diệu và kết tụ với nhau. Thế rồi Đạo Kiền làm thành trai, Đạo Khôn làm  
thành gái; hai khí giao cảm mà sinh ra muôn vật; muôn vật sinh, rồi lại sinh, sinh  
sinh mãi và biến hóa vô cùng” [28, tr.32].
Sự  vận động trong Kinh Dịch luôn diễn ra liên tục theo một chu trình tuần 
hoàn, xuất phát từ  hai quẻ  Càn ­ Khôn (tượng trưng cho Âm ­ Dương), từng cặp 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status