aaaaaa
TRƯỜNG ĐẠI HỌ
C SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TRIẾT HỌC
DƯƠNG VĂN LĨNH
TƯ DUY BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH VÀ Ý NGHĨA
CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN
Ở TỈNH SƠN LÀ HIỆN NAY
ĐÊ C
̀ ƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIÊT HOC
́
̣
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TRIẾT HỌC
DƯƠNG VĂN LĨNH
PHÊ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Việt Nam. Yêu nước, thương dân, cả cuộc đời người đấu tranh không mệt mỏi
vì tự do hạnh phúc của nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và phong phú về
cách mạng Việt Nam, là sự hun đúc, kết tinh từ những tinh hoa ưu tú nhất của
lịch sử tư tưởng dân tộc, thời đại và nhân loại; được trí tuệ, nhân cách Hồ Chí
Minh làm cho thăng hoa, trở thành giá trị văn hóa Việt Nam hiện đại. Hồ Chí
Minh không những nắm lấy cái tinh thần, phương pháp biện chứng của chủ
nghĩa Mác Lênin, hòa quyện với tinh hoa biện chứng phương Đông vào thực
tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam để phát hiện, giải quyết những vấn đề của lịch
sử cách mạng Việt Nam một cách đúng đắn, sáng tạo mà còn bổ sung mới, phát
triển và làm phong phú hơn chủ nghĩa Mác Lênin trong thời đại mới để tạo nên
cái riêng trong tư tưởng biện chứng của mình.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ được phản ánh trong các bài nói, bài
viết mà còn thể hiện qua quá trình chỉ đạo thực tiễn cách mạng phong phú, đa
dạng, hiệu quả trong phong cách lối sống của Người và trên nhiều lĩnh vực.
Trong đó quan điểm nổi bật nhất là tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc kết hợp
3
giải phóng giai cấp mà cốt lõi là tinh thần đoàn kết dân tộc “Sự nghiệp cách
mạng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng nhân dân và chỉ có thể thực hiện
được bằng sức mạnh của khối thống nhất toàn dân,…”.
Trong tinh thần đoàn kết, công tác vận động quần chúng nhân dân đoàn kết,
thống nhất, chung sức một lòng thực hiện cách mạng, điều đó thể hiện rõ nhất
sự phát triển tổng hợp của tư duy biện chứng, khoa học chính trị, nghệ thuật,
tinh tế và sâu sắc bởi nó chứa đựng những tinh hoa của lịch sử tư tưởng biện
chứng nhân loại nhưng không hề bị gò bó, máy móc mà Người vận dụng một
cách linh hoạt, sáng tạo trong mọi hoàn cảnh cụ thể, ở mọi lĩnh vực và ngày càng
tưởng nhân dân; chậm đổi mới nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần
chúng trong tình hình mới…”
Dân vận là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng, là một đặc trưng
chủ yếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Công tác Dân vận không chỉ là vận
động nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, mà
còn là phương thức thu hút nhân dân vào việc hoạch định đường lối, chủ trương,
chính sách đó. Trong những hoạt động này vấn đề cốt lõi là phải quan tâm đến
lợi ích chính đáng của nhân dân. Vấn đề tưởng như đơn giản, dễ làm nhưng thực
tế đến nay nhiều lúc, nhiều nơi vẫn làm chưa tốt. Bên cạnh số đông cán bộ đảng
viên vẫn giữ được phẩm chất cách mạng và gắn bó với nhân dân, một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên mang nặng bệnh quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần
chúng, nạn tham ô, hối lộ vẫn còn xảy ra. Không ít đoàn thể cũng bị quan liêu
hoá, hành chính hoá, không chịu đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tập
hợp các tầng lớp nhân dân, làm giảm sự gắn bó của nhân dân với Đảng và Nhà
nước... những hiện tượng đó là tiếng chuông cảnh báo để chúng ta phải làm tốt
hơn nữa công tác dân vận. Để nâng cao hiệu quả của công tác dân vận bên cạnh
việc hoàn thiện chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tiễn đang đặt ra còn
phụ thuộc rất lớn vào phương thức tiến hành dân vận.
Vì thế trong nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, tác giả nhận thấy
tư duy biện chứng trong phương pháp dân vận của Người trong giai đoạn hiện
nay còn giữ nguyên giá trị to lớn đôi v
́ ơi s
́ ự nghiêp cach mang n
̣
́
̣
ươc ta
́ . “Củng cố
niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc
và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân
cách có hệ thống các lý luận về phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh và phân
tích khá cặn kẽ nội dung, ý nghĩa của phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra và phân tích rõ tính biện chứng trong các phương
pháp cách mạng trên. Đây là một trong số những tài liệu đầu tiên nghiên cứu về
phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh từ đó mở đường và đưa việc nghiên
cứu phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh lên tầm cao mới.
6
Cuốn sách thứ hai cũng liên quan đến đề tài này là cuốn Tìm hiểu phương
pháp Hồ Chí Minh của GS.TS Hoàng Chí Bảo, Nxb Lý luận Chính trị Hành
Chính, Hà Nội (2011). Cuốn sách là công trình đầy đặn, công phu thể hiện tâm
huyết của một nhà khoa học đã có sự thấu hiểu sâu sắc về con người và phương
pháp Hồ Chí Minh. Từ những quan điểm mang tính chất gợi mở, GS.TS Hoàng
Chí Bảo đã chỉ ra sự hình thành phương pháp Hồ Chí Minh, bước đầu nêu ra và
phân tích những đặc điểm chủ yếu của phương pháp Hồ Chí Minh, từ đó bước
đầu vận dụng vào tìm hiểu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh chứ chưa đi vào tìm
hiểu và phân tích tính biện chứng trong các phương pháp cách mạng. Về cơ bản,
cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống phương pháp Hồ Chí Minh và bước
đầu gợi mở cho các nhà nghiên cứu về phương pháp Hồ Chí Minh sau này.
Thứ hai, Nhóm các công trình nghiên cứu về tư tưởng và tư tưởng triết học
Hồ Chí Minh:
Các cuốn sách tiêu biểu là Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh của Viện Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 1993, tập 3; Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh do Lê Hữu
Nghĩa (Chủ biên), Nxb Lao Động, Hà Nội, 2000; Góp phần tìm hiểu tư duy đặc
sắc tư duy triết học Hồ Chí Minh của tác giả Hồ Kiếm Việt, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2004; Hồ Chí Minh học và minh triết Hồ Chí Minh của tác giả Bùi
Đình Phong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Hồ Chí Minh, nhà cách mạng
sáng tạo của Mạch Quang Thắng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Giáo
trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Phạm Ngọc Anh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
thực tiễn hóa lý luận và lý luận hóa thực tiễn. “Thực tiễn không có lý luận
hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực
tiễn là lý luận suông”.
Thứ ba, Nhóm các công trình nghiên cứu về công tác dân vận của Hồ Chí
Minh:
8
Tác phẩm “Dân vận” của chính trực tiếp Hồ Chí Minh viết được in
trong Bộ Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, tr. 232.
Về hình thức: Đây là một bài viết rất ngắn gọn, từ đầu đề (chỉ vỏn vẹn 2
từ), đến dung lượng (chỉ có 573 từ); được diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị, gần
gũi với quần chúng; văn phong súc tích, có tính khái quát cao.
Về nội dung: Giản dị, ngắn gọn mà không hề sơ lược. Tác phẩm “Dân
vận” đã gói ghém một cách đầy đủ và sâu sắc những quan điểm, tư tưởng của
Hồ Chí Minh về công tác này.
Về tầm quan trọng của công tác dân vận: Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Dân
vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.
Về mục đích của công tác dân vận: Cái đích chung và cao nhất của sự
nghiệp cách mạng mà Đảng ta và Hồ Chí Minh chủ trương trước sau vẫn là “từ
dân, vì dân, cho dân”.
Về bản chất của công tác dân vận: Theo Hồ Chí Minh, thực chất hay bản
chất của công tác dân vận, chính là nhằm “vận động tất cả lực lượng của mỗi
một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân,
để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể
đã giao cho...”.
Về lực lượng làm công tác dân vận: Chỉ rõ ai là người làm công tác dân vận
Về cách thức, phương pháp làm công tác dân vận: Óc nghĩ, mắt trông, tai
nghe, miệng nói, tay làm, chân đi.
Tác phẩm Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
– lịch sử, khái quát hóa, thống kê, so sánh,…
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận
văn dự kiến gồm 2 chương 7 tiết.
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1. Những luận điểm cơ bản
Từ mục đích nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn tập trung chủ yếu vào
một số luận điểm cơ bản sau:
Một là, Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh là sự vận dụng, phát triển sáng
tạo tư tưởng biện chứng phương Đông, phương Tây mà tiêu biểu là tư tưởng
biện chứng cua
̉ Trung Hoa và tư tưởng biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin
11
vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Hai là, hệ thống tư duy biện chứng Hồ Chí Minh trong công tác dân vận
mang tính khoa học và cách mạng.
Ba là, vận dụng tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh có vai trò, ý nghĩa to
lớn đối với công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện nay.
10.2. Đóng góp mới của tác giả
Vê ly luân: H
̀ ́ ̣
ệ thống hóa tư duy biện chứng Hồ Chí Minh.
Vê th
̀ ực tiên: Y
̃ ́ nghĩa của nó đối với công tác dân vận ở tỉnh Sơn La hiện
nay.
12
Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh: Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh là sản
phẩm tổng hợp của sự kế thừa những tư tưởng biện chứng trong l ịch s ử v ới vi ệc
tổng kết những tính chất biện chứng của cách mạng Việt Nam và vận dụng sáng
tạo vào thực tiễn xã hội Việt Nam.
Dân vân
̣ : Dân vận là tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục mọi
người dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước. Dân vận còn có nghĩa là làm gương trước dân.
Theo Hồ Chủ tịch, “dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi
người dân, không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực
hành những công việc nên làm, những công việc mà đoàn thể và Chính phủ đã
giao cho” (bài báo “Dân vận” của Người đăng trên Báo Sự Thật với bút danh
X.Y.Z (ngày 15101949).
Công tac dân vân
́
̣ : Công tác dân vận là toàn bộ các hoạt động của Đảng
đối với quần chúng nhằm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo cho lợi
ích thiết thực của nhân dân, huy động tối đa lực lượng toàn dân thực thắng lợi
mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng.
Hồ Chí Minh đưa ra quy trình công tác dân vận:
+ Phải cho dân biết: Quyền làm chủ của nhân dân, đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước, thông tin thời sự, chính sách, cán bộ lãnh đạo, quản lý mình.
+ Giải thích cho dân hiểu: "Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho
mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ
phải hăng hái làm cho kỳ được".
+ Bày cách cho dân làm: "phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm
của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương,
rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành". Và "Trong lúc thi hành phải theo
dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân".
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
16
Thành công, thành công, đại thành công” [39, tr. 607].
Người luôn kêu gọi toàn dân thống nhất, đoàn kết trên cùng một mặt trận.
Người kêu gọi tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo,
đảng phái, dân tộc, không phân biệt già trẻ, gái trai. Ai có tài, có đức, có sức, có
lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thì đoàn kết với họ. Với tinh thần đó
trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dân
tộc ta đã làm nên những thắng lợi vĩ đại, vang dội khắp năm châu, chấn động địa
cầu.
Hai là, Kết hợp giữa kiên định mục tiêu của cuộc kháng chiến với linh hoạt,
sáng tạo trong các hình thức và phương pháp tiến hành chiến tranh giữ nước.
Để chiến thắng nhiều kẻ thù khác nhau, ông cha ta đã sáng tạo và vận dụng
linh hoạt nhiều hình thức, phương pháp đấu tranh cách mạng phù hợp với điều
kiện hoàn cảnh thực tế ở nước ta, giải quyết thành công vấn đề lấy nhỏ thắng
lớn, “lấy ít địch nhiều”, tùy thời cơ mà dùng mưu lược để thắng địch.
Trần Quốc Tuấn đã nhận định: “Tóm lại, giặc cậy trường trận, ta cậy đoản
binh, lấy đoản chế trường là việc thường của binh pháp. Nếu thấy quân giặc đến
ồ ạt như lửa cháy, gió thổi thì dễ chế ngự. Nếu chúng đi chậm như cách tầm ăn,
không cần của dân, không cần được chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét
quyền biến như đánh cờ vậy, tùy thời mà làm” [23, tr. 215]. Trần Quốc Tuấn luôn
bám sát thế trận để đề ra nhiều phương pháp tác chiến, cách đánh với nội dung và
hình thức phù hơp: lúc đánh du kích, khi đánh lẻ tẻ phân tán, khi tập trung công
kích, khi lại rút lui, lợi dụng khí hậu, địa hình hiểm trở, dùng mưu trí lừa địch...
với hình thức, quy mô khác nhau để giành thắng lợi. Tư tưởng biện chứng trong
phương pháp đánh giặc ấy đã được thể hiện rất rõ ràng.
Đến thế kỷ XV, Nguyễn Trãi cũng đưa ra nhiều cách đánh sáng tạo, độc đáo
là tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, dùng quân mai phục để đánh bất ngờ, phát huy
phương pháp tác chiến rất sáng tạo: “Dụ giặc vào bẫy để đánh” [32, tr.475];
18
Người đòi hỏi phải “Thiên biến vạn hóa, xuất quỷ nhập thần” [32, tr.470]; “Náo
phía đông, đánh phía tây” [32, tr.474]... Trong kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí
Minh có sự kết hợp linh hoạt đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp
giữa khởi nghĩa quần chúng với chiến tranh cách mạng, đánh địch trên cả ba vùng
chiến lược, đánh địch bằng ba mũi giáp công, vừa đánh vừa đàm... Thực tiễn cách
mạng Việt Nam đã chứng minh sự kết hợp ấy hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo,
làm nên sức mạnh to lớn đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thành công.
1.2.2 Bản thân Hồ Chí Minh và quá trình tìm đường cứu nước
Việt Nam là một quốc gia phong kiến nhỏ bé và lạc hậu ở Đông Dương,
cũng không thoát khỏi thân phận là thuộc địa của thực dân Pháp. Sau Cách Mạng
Tháng Mười Nga, Việt Nam cũng là nơi hội tụ hầu hết những mâu thuẫn lớn của
thời đại. Phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam cũng liên tiếp nổ ra
nhưng đều lần lượt bị thất bại vì bế tắc về đường lối, khủng hoảng lực lượng
lãnh đạo có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của lịch sử. Nhưng, cũng vì vậy mà tư
tưởng chống Pháp, nguyện vọng giải phóng dân tộc ngày càng trở nên thiết tha
mãnh liệt, nhất là đối với những tầng lớp tri thức có lòng yêu nước nồng nàn. Đa
số họ xuất thân từ tầng lớp khoa bảng, thấm nhuần học thuyết Nho giáo và các
học thuyết phương Đông khác, đồng thời lại được tiếp thu ít nhiều tri thức mới
của phương Tây, nhất là văn minh Pháp. Tuy nhiên, tất cả những con đường giải
phóng dân tộc mà họ tìm kiếm vẫn chưa thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn trước
đây…
Trong bối cảnh lịch sử ấy của đất nước và của thời đại, Chủ tịch Hồ Chí
Minh sinh ra và lớn lên, nhận sứ mệnh lịch sử giải phóng dân tộc, thực hiện dân
chủ, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, theo con đường mà Cách mạng tháng
mười Nga đã vạch ra. Hoàn cảnh lịch sử với yêu cầu cách mạng ấy là nguồn gốc
đầu tiên quy định mục tiêu, khơi nguồn động lực cho việc hình thành và phát triển
của lịch sử. Rõ ràng nhất là tư tưởng nhân văn sâu sắc của Việt Nam với những
20
triết lí như “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” , “ba cây
chụm lại” “lao động là tiêu chuẩn đạo đức”, “một dân tộc độc lập và một quốc gia
có chủ quyền”… luôn luôn được Hồ Chí Minh trân trọng, nuôi dưỡng và vận dụng
trong mọi quá trình cách mạng, dưới những hình thức mới như “lao động là vẻ
vang”, “nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn”, “đoàn kết, đoàn
kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”, “không có gì quý hơn
độc lập tự do”… Có thể nói, những tư tưởng triết học truyền thống của dân tộc
Việt Nam là cội nguồn, là yếu tố nội sinh được tích tụ một cách tự nhiên trong tư
tưởng triết học của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đã biết hội tụ trong mình hầu như tất cả những giá trị triết học
của dân tộc, biết phát triển, và nâng chúng lên ở trình độ mới với hình thức mới.
Trước hết là tư tưởng “trời, đất và con người hòa hợp”. Trong đó, con người có
thể “đội đá vá trời” , “dời núi, lấp sông, lấp biển” “nhân địch thắng thiên”. Tư
tưởng này càng được củng cố và ổn định khi được bổ sung bởi tư tưởng “thiên
nhân hợp nhất” của triết học Nho, Phật, Lão du nhập vào Việt nam những năm
đầu công nguyên.
Là một nước nhỏ ở gần hai nền văn hóa lớn là Ấn Độ và Trung Hoa nên
Việt Nam đã tiếp thu hai nền văn hóa đó để làm giàu cho tư tưởng cũng như nền
văn hóa của mình. Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng từ hai
nền văn hóa đó đặc biệt là biện chứng của Nho giáo, biện chứng trong tác phẩm
Kinh Dịch và biện chứng của Phật giáo.
Ảnh hưởng của Nho giáo
Nho giáo chủ trương “Nhập thế”, “chính danh”, “hành đạo”, phải có hành
động tích cự với đời, phải “tận lực”... Người quân tử phải xả thân vì Nhân, vì
Nghĩa... Triết lý Nho giáo là triết lý hành động, giúp đời, cứu người.
Nho giáo vào Việt Nam đã kết hợp với chủ nghĩa yêu nước truyền thống tạo
thì chủ trương “Xuất thế”, “Vô vi”, “Lấy nhu thắng cương”. Nho gia và Đạo gia là
22
hai hệ tư tưởng đối lập nhau. Nhưng Hồ Chí Minh đã tìm ra được sự thống nhất
của hai cái “đối lập” đó, khi dân khổ, mất nước thì phải xả thân vì nước, vì dân,
đến khi nước đã giành được độc lập, nhân dân được âm no thì “thân thoái”, trở về
sống cảnh điền viên, gần gũi với thiên nhiên và người dân lao động. Người tâm
sự: “Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để
câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu,
không dính líu gì với vòng danh lợi” [33, tr.161].
Như vậy, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo mối quan hệ giữa
lực, thế, thời trong tư tưởng biện chứng Phương Đông. Đó là cơ sở cho tư tưởng
chỉ đạo chiến lược tạo lực, lập thế, tranh thời sáng suốt của Người. Điều đó được
chứng minh qua hai cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ.
Bên cạnh Nho gia Đạo gia, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng từ tư tưởng
biện chứng trong phương pháp dùng binh của Tôn Tử. Với tác phẩm “Tôn tử binh
pháp”, Tôn Tử đã đề cập hết các vấn đề lý luận quân sự thời Xuân thu, được phân
tích với quan điểm biện chứng. Dù còn thô sơ nhưng đã tổng két kinh nghiệm
chiến tranh hơn một nghìn năm trước đó, trong đó trọng tâm là bàn đến phương
pháp để giành thắng lợi trong chiến tranh. Tôn Tử đã chỉ ra quy luật: “Biết mình,
biết người, trăm trận không nguy” [53, tr.78], “Việc binh là thuật dối trá, đánh vào
nơi địch không phòng bị, ra quân lúc địch không ngờ” [53, tr.61]. Hồ Chí Minh
nhận xét: “ ... Phép ông Tôn Tử tuy đã lâu đời nhưng nguyên tắc đến nay vẫn là
rất đúng. Nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về quân sự đúng, mà dùng về
chính trị cũng rất hay” [32, tr.513]. Người cũng đã vận dụng: “Biết mình, biết
giặc, trăm trận, trăm thắng” [34, tr.475]. Trong chỉ đạo tác chiến, Người cũng rất
coi trọng việc nắm quyền chủ động trông chiến đấu và phải “tránh chỗ mạnh,
đánh chỗ yếu” [34, tr.474]. Người cũng luôn chú ý đến nghệ thuật lừa địch, đánh
phù hợp với quy luật của đất trời, phải có sự giao hòa giữa con người và thiên
24
nhiên “thiên nhân tương cảm”.
Kinh dịch đề cập đến sự vận động và phát triển của vạn vật: trong “hệ từ
thượng truyện” (Chương XI) có đoạn: “Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi,
lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh ra bát quái... Nghĩa là dịch có thái cực,
thái cực sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh ra tứ tượng, tứ tượng sinh ra bát
quái” [24, tr.563].
Châu Liêm Khê giảng thêm “Vô cực nhi sinh thái cực. Thái cực động nhi
sinh Dương; động cực nhi tĩnh; tĩnh nhi sinh Âm; tĩnh cực phục động; nhất động
nhất tĩnh, hỗ vi kỳ căn. Phân Âm phân Dương, Lưỡng nghi lập yên. Dương biến
Âm hợp nhi sinh Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ, Ngũ khí thuận bố, tứ thời hành yên.
Ngũ hành, nhất, Âm dương dã. Âm dương, nhất, Thái cực dã. Thái cực bản vô cực
dã. Ngũ hành chi sinh dã, các nhất kỳ tính. Vô cực chi chân, nhị ngũ chi tinh, diệu
hợp chi ngưng. Kiền đạo thành nam, Khôn đọa thành nữ; nhị khí giao cảm, hóa
sinh vạn vật; vạn vật sinh, sinh nhi biến hóa vô cùng yên. Nghĩa là: Vô cực mà là
thái cực. Thái cực động thì sinh Dương; động cực thì tĩnh; tĩnh thì sinh Âm; tĩnh
cực lại động; một động một tĩnh, cùng làm căn bản cho nhau. Rồi khi phân chia ra
Âm dương thì Lưỡng nghi thành lập. Và đến lúc Dương biến, Âm hợp thì Thủy,
Hỏa, Mộc, Kim, Thổ sinh ra. Năm khí đó nếu được xếp đặt thuận hợp với nhau thì
bốn mùa sẽ vận hành đều đặn. Ngũ hành nếu hợp nhất thì thành Thái cực. Thái
cực có gốc là vô cực. Ngũ hành sinh hóa đều có tính chất duy nhất. Cái Chân
không của vô cực, cái tính chất của Âm dương và Ngũ hành, tất cả phối hợp một
cách kỳ diệu và kết tụ với nhau. Thế rồi Đạo Kiền làm thành trai, Đạo Khôn làm
thành gái; hai khí giao cảm mà sinh ra muôn vật; muôn vật sinh, rồi lại sinh, sinh
sinh mãi và biến hóa vô cùng” [28, tr.32].
Sự vận động trong Kinh Dịch luôn diễn ra liên tục theo một chu trình tuần
hoàn, xuất phát từ hai quẻ Càn Khôn (tượng trưng cho Âm Dương), từng cặp