Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018
ĐÁNH GIÁ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU
Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
Ngô Xuân Thái*, Trịnh Đăng Khoa**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá tình hình chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) ở bệnh nhân
đái tháo đường tại khoa Tiết niệu Bệnh viện Chợ Rẫy.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt trường hợp (TH), tất cả các TH
NKĐTN ở bệnh nhân đái tháo đường tại khoa Tiết niệu Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/01/2015 – 31/05/2017.
Kết quả: 234 TH NKĐTN ở bệnh nhân đái tháo đường. Tuổi trung bình: 61 (nhỏ nhất 24, lớn nhất 92); tỷ
lệ nam/nữ: 88/146. Bất thường cấu trúc của đường tiết niệu 164/234 TH, bất thường chức năng của đường tiết
niệu 98/234 TH. Viêm thận bể thận sinh khí là dạng lâm sàng gặp nhiều nhất chiếm 19,2% (45/234TH), nhiễm
khuẩn huyết 18,4%, áp xe quanh thận 12,4%, choáng nhiễm khuẩn 11,1%, mủ thận 7,7%, áp xe thận 6,4%. Vi
khuẩn Gram âm chiếm đa số: 116/125 TH, chiếm 92,8%. Trong nhóm Gram âm, E.coli là vi khuẩn thường gặp
nhất chiếm 65,6%, kế đến là Klebsiella 11,2%, Pseudomonas 4%. Vi khuẩn Gram âm còn nhạy với nhóm
Carbapenem (Ertapenem, Meropenem, Imipenem) từ 79%-98%, Fosmycin 83%, Amikacin 84%. Điều trị có can
thiệp ngoại khoa 162 TH; nội khoa đơn thuần 72 TH, tử vong 2 TH.
Kết luận: NKĐTN ở bệnh nhân đái tháo đường thường gặp, điều trị cần kết hợp nội và ngoại khoa, giải
quyết các yếu tố gây phức tạp khác.
Từ khoá: nhiễm khuẫn đường tiết niệu, đái tháo đường, viêm thận bể thận sinh khí, áp xe thận.
ABSTRACT
DIAGNOSIS AND TREATMENT OF URINARY TRACT INFECTIONS IN DIABETICS AT CHO RAY
HOSPITAL
Ngo Xuan Thai, Trinh Đang Khoa
Keywords: urinary tract infections, diabetes, emphysematous pyelonephritis, renal abscess.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) là
một vấn đề sức khỏe đứng hàng đầu trong
những bệnh lý về đường tiết niệu, đang được
quan tâm của ngành y tế Việt Nam nói riêng
cũng như nhiều nước trên thế giới nói chung.
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có nhiều thể lâm
sàng, có nhiều cách phân loại. Nhiễm khuẩn
đường tiết niệu có thể chia thành đơn thuần
(không phức tạp) và phức tạp. NKĐTN phức tạp
xảy ra ở những bệnh nhân có bất thường về cấu
trúc hay chức năng đường tiết niệu sinh dục, hay
xuất hiện bệnh có trước làm tăng nguy cơ nhiễm
khuẩn hay điều trị thất bại(1,3,6).
Bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có nguy cơ
gia tăng các bệnh nhiễm khuẩn, với đường tiết
niệu là vị trí nhiễm khuẩn thường gặp nhất(13).
Nguy cơ NKĐTN tăng gấp đôi ở những bệnh
nhân ĐTĐ(4). Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu này nhằm đánh giá tình hình chẩn đoán và
điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở bệnh
nhân đái tháo đường tại khoa Tiết niệu Bệnh
viện Chợ Rẫy.
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
Nghiên cứu mô tả loạt trường hợp (TH), tất
cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán NKĐTN
ở những bệnh nhân đái tháo đường tại khoa Tiết
bình 237,4 ± 105,7 mg/dL.
Đường huyết lúc xuất viện của BN đạt được
mục tiêu điều trị (ĐH
Điều trị
Đa số bệnh nhân được sử dụng 1 loại kháng
sinh (126/234 TH chiếm 53,8%); sử dụng 2 loại là
25,2% và sử dụng từ 3 loại trở lên là 20,9%.
Đa số kháng sinh kinh nghiệm đầu tiên
được lựa chọn thuộc nhóm Carbapenem
41,9%, tiếp theo là nhóm Cephalosporin 14,5%,
Fosmycin 12,4%.
Có 112 bệnh nhân điều trị kháng sinh theo
kinh nghiệm có kết quả kháng sinh đồ chiếm tỷ
lệ 55,7%.
Có 64,3% TH dùng kháng sinh kinh nghiệm
phù hợp và 35,7% không phù hợp với kết quả
kháng sinh đồ. Kháng sinh theo kinh nghiệm là
phù hợp với kháng sinh đồ khi trong các kháng
164
Bệnh nhân được điều chỉnh đường huyết
bằng Insulin (223/234 TH chiếm tỷ lệ 95,3%).
Điều trị ngoại khoa
Can thiệp ngoại khoa chiếm đa số 162/234
TH (69,2%), điều trị nội khoa đơn thuần 72/234
TH.
Phẫu thuật triệt để được áp dụng nhiều nhất
(48,1%), Tuy nhiên điều trị can thiệp tối thiểu
cũng góp phần quan trọng trong điều trị ngoại
khoa (35,2%).
Đa số BN được phẫu thuật mổ mở 121/162
sức đề kháng của cơ thể đi kèm ở BN đái tháo
đường.
Trong các nguyên nhân gây bất thường cấu
trúc ĐTN thì bế tắc ĐTN do sỏi là yếu tố hay gặp
nhất chiếm tỷ lệ 56,4% (132/234 TH), kế đến là
tình trạng có đặt thông ĐTN chiếm tỷ lệ 28,2%
(66/234 TH). Về tình trạng có đặt thông ĐTN, đã
có nhiều báo cáo cho thấy có sự gia tăng tỷ lệ
NKĐTN trên bệnh nhân đặt thông ĐTN, đặc biệt
là các vi khuẩn đa kháng thuốc(14). Theo “Hướng
dẫn điều trị” của Hiệp hội niệu khoa Châu Âu
năm 2015(5), đường tiết niệu là nguồn gây nhiễm
khuẩn bệnh viện thường gặp nhất, đặc biệt là khi
có đặt thông niệu đạo bàng quang (mức độ
chứng cứ: 2A); và thời gian đặt thông là yếu tố
nguy cơ quan trọng nhất gây nên tình trạng
nhiễm khuẩn (mức độ chứng cứ: 2A).
Bệnh thận mạn là dạng bất thường chức
năng hệ niệu gặp nhiều nhất chiếm tỷ lệ 38,5%
(90/234 TH), tiếp theo là bàng quang hỗn loạn
thần kinh chiếm tỷ lệ 6,4% (15/234 TH).
Trong các yếu tố gây nên tình trạng giảm sức
đề kháng kèm theo của bệnh nhân ĐTĐ thì hội
chứng Cushing chiếm 6% (14/234), kế đến là sau
ghép thận chiếm 4,3% (10/234 TH).
Chuyên Đề Ngoại Khoa
Nghiên cứu Y học
nhận từ tuyến trước, đa số đã dùng kháng sinh
trước đó nên tỷ lệ cấy dương tính không cao.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ vi
khuẩn gram âm thấp hơn kết quả nghiên cứu
của Yadav et al năm 2016(17). Trong nhóm vi
khuẩn Gram âm, E. Coli là vi khuẩn gây NKĐTN
thường gặp nhất chiếm 65,6%, kế đến là Klebsiella
11,2%, Pseudomonas 4%, còn lại là Acinetobacter,
Proteus 1,6%. Cũng giống trong y văn, E. coli
cũng là vi khuẩn thường gặp nhất trong
NKĐTN, kế đến là các vi khuẩn trong họ
Enterobacteriaceae, và Pseudomonas aeruginosa,
Acinetobacter baumannii. Nghiên cứu của chúng
tôi ghi nhận tỷ lệ tiết ESBL của E.coli và Klebsiella
là 64,6% và 35,7%. Điều này là đáng báo động,
việc điều trị sẽ gặp khó khăn, thời gian điều trị
kéo dài và tăng chi phí điều trị.
Tỷ lệ đề kháng kháng sinh trong nhóm
nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các nghiên
cứu khác trước đó nhưng thấp hơn chút ít so với
tác giả Nguyễn Thế Hưng(10). Điều đó nói lên
tình hình đề kháng kháng sinh rất nghiêm trọng
và tăng theo thời gian.
165
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018
Những trường hợp sau khi can thiệp ngoại
khoa tạm thời giải quyết ổ nhiễm khuẩn khi
bệnh nhân ổn định cần xem xét điều trị triệt để
các yếu tố gây NKĐTN phức tạp khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Đánh giá sự chọn lựa kháng sinh theo kinh
nghiệm
Theo kết quả nghiên cứu này, Carbapenem
là nhóm KSKN được sử dụng nhiều nhất
(41,9%). Nhóm nghiên cứu của chúng tôi phần
lớn là bệnh nặng, được chuyển từ tuyến tỉnh và
BN mắc ĐTĐ nên khi đánh giá phân tầng nguy
cơ người bệnh nhiễm khuẩn thuộc nhóm 2 nên
tỷ lệ sử dụng KSKN nhóm Carbapenem cao. Ghi
nhận 64,3% (72/112 TH) bệnh nhân được điều trị
KSKN phù hợp kết quả KSĐ. Điều trị thích hợp
sớm là mấu chốt của vấn đề cứu sống BN đặc
biệt trong những trường hợp nặng.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
31 (3), 573-8.
Aswani SM, Chandrashekar UK, Shivashankara KN, Pruthvi
BC (2014) "Clinical profile of urinary tract infections in
diabetics and non-diabetics". The Australasian Medical Journal, 7
(1), 29-34.
Bonkat G, et al (2017) Guidelines on Urological Infections.
European Association of Urology.
de Lastours V., Foxman B. (2014) "Urinary tract infection in
diabetes: epidemiologic considerations". Curr Infect Dis Rep, 16
(1), 389.
Grabe M, et al (2015) Guidelines on Urological Infections.
European Association of Urology.
Hội Tiết Niệu Thận học Việt Nam (2013) "Hướng dẫn điều trị
nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở Việt Nam", tr.48.
Hsueh PR, Hoban DJ, Carmeli Y, Chen SY, Desikan S,
Alejandria M, Ko WC, Binh TQ (2011) "Consensus review of
the epidemiology and appropriate antimicrobial therapy of
complicated urinary tract infections in Asia-Pacific region". J
Infect, 63 (2), 114-23.
Ijaz M, et al (2014) "Urinary tract infection in diabetic patients;
causative bacteria and antibiotic sensitivity". 22, 110-114.
Ngô Xuân Thái (2016), "Viêm thận bể thận sinh khí: nghiên
cứu 52 trường hợp tại bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian
2011-2015", Y Học TP. Hồ Chí Minh, Phụ bản Tập 20, Số 4, tr.
89.
Nguyễn Thế Hưng (2016) "Đánh giá chẩn đoán và điều trị
nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp", Luận án tốt nghiệp
Bác sĩ chuyên khoa II, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh,
tr.56.
Nguyễn Thị Thanh Tâm (2014) "Khảo sát vi trùng học và các
17.
Nghiên cứu Y học
diabetic patients with Escherichia coli urinary tract infection".
J Microbiol Immunol Infect, 46 (1), 24-9.
Yadav K, Prakash S (2016) "Antimicrobial Resistance Pattern
of Uropathogens Causing Urinary Tract Infection Among
Diabetes ". Biomedical Research International, 1, 07-15.
Ngày nhận bài báo:
06/11/2017
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
17/11/2017
Ngày bài báo được đăng:
15/03/2018
167