MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
5
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ 10
TÀI LUẬN ÁN
Chương 1
1.1.
THỰC CHẤT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY
LUẬT PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIÁO DỤC CHÍNH
TRỊ CỦA CHÍNH TRỊ VIÊN ĐẠI ĐỘI TRONG QUÂN
29
ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Thực chất phát triển năng lực giáo dục chính trị của chính
trị viên đại đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam
29
Một số vấn đề có tính quy luật phát triển năng lực giáo
dục chính trị của chính trị viên đại đội trong Quân đội
nhân dân Việt Nam
Chương THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI
VỚI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
2
CỦA CHÍNH TRỊ VIÊN ĐẠI ĐỘI TRONG QUÂN ĐỘI
3
132
3.3.
Phát huy vai trò nhân tố chủ quan của chính trị viên đại 14
đội trong phát triển năng lực giáo dục chính trị của họ
2
KẾT LUẬN
15
5
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 15
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
15
8
PHỤ LỤC
17
0
5
Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao” [8,
tr.1].
Hiện nay, tình hình chính trị an ninh th ế gi ới thay đổi nhanh
chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường. Trong nước, bốn nguy cơ mà
Đảng đã chỉ ra tiếp tục tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh
tế, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá
cách mạng nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, những biểu hi ện “t ự di ễn bi ến”, “t ự chuy ển hóa” trong một bộ
phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham
nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp
đáng lo ngại, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên , nhân dân vào
Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường
các hoạt động nhằm “phi chính trị hoá” quân đội và “vô hiệu hoá” lực
lượng vũ trang. Sự chống phá đó đã, đang tác động mạnh mẽ đến tư
tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, nhất là đối tượng sĩ
quan trẻ, hạ sĩ quan và binh sĩ. Đây là lực lượng đông đảo và phần lớn
được biên chế ở cấp đại đội. Chính vì vậy, để ngăn ngừa, làm thất bại
âm mưu chống phá của các thế lực thù địch và thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất
lượng tổng hợp và sức chiến đấu, một trong những vấn đề cơ bản, cấp
bách nhất hiện nay là phải nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính
trị tại đơn vị, đặc biệt ở cấp đại đội nơi trực tiếp quản lý, giáo dục,
rèn luyện đối tượng sĩ quan trẻ, hạ sĩ quan và binh sĩ.
Chính trị viên đại đội là cán bộ chính trị, về cơ bản đều có tuổi đời
7
và tuổi quân còn rất trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động thực
tiễn. Mặc dù vậy, theo chức trách, nhiệm vụ được phân công, họ là người
chủ trì về chính trị đồng thời là bí thư chi bộ, có vai trò nòng cốt trong xây
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu có liên quan trực tiếp
đến đề tài luận án. Trên cơ sở đó, khái quát kết quả nghiên cứu của các
công trình và xác định những nội dung luận án cần tiếp tục giải quyết.
Làm rõ thực chất và tính quy luật phát triển năng lực giáo dục chính
trị của chính trị viên đại đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đánh giá thực trạng, làm rõ một số vấn đề đặt ra đối với phát triển
năng lực giáo dục chính trị của chính trị viên đại đội trong Quân đội nhân
dân Việt Nam hiện nay.
Đề xuất giải pháp cơ bản phát triển năng lực giáo dục chính trị của
chính trị viên đại đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Phát triển năng lực giáo dục chính trị của
chính trị viên đại đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực
tiễn phát triển năng lực giáo dục chính trị của chính trị viên đại đội trong
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Tập trung khảo sát thực tiễn liên
quan đến phát triển năng lực giáo dục chính trị của chính trị viên đại đội ở
một số đơn vị chủ lực thuộc Quân khu 1, Quân khu 2, Quân khu 3, Quân
đoàn 1, Quân đoàn 2 và công tác đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội của
Trường Sĩ quan Chính trị trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
9
* Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác Lênin, tư tưở ng H ồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về vấn đề phẩm chất, năng lực của con người nói chung và
của ngườ i cán bộ, đảng viên nói riêng; các chỉ thị, nghị quyết c ủa Quân
ủy Trung ương, T ổng c ục Chính trị về xây dựng độ i ngũ cán bộ trong
trong nghiên cứu, giảng dạy ở các trường có đào tạo chính trị viên và công
tác bồi dưỡng cán bộ ở đơn vị trong quân đội về những nội dung có liên
quan.
8. Kết cấu của luận án
Luận án có kết cấu gồm: mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu
liên quan đến đề tài luận án, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục các
công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
11
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Hiện nay đã có nhiều công trình khoa học của cá nhân và tập thể
nhà khoa học công bố kết quả nghiên cứu có liên quan đến phát triển
năng lực giáo dục chính trị của chính trị viên đại đội trong quân đội.
Theo hướng nghiên cứu của đề tài luận án, tác giả tiếp cận hệ thống
những công trình khoa học đó trên các vấn đề cơ bản sau:
1. Những công trình khoa học tiểu biểu liên quan đến quan niệm
về năng lực, năng lực giáo dục chính trị của chính trị viên đại đội
trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Nguyễn Văn Hữu, trong công trình “Nâng cao năng lực giáo dục
chính trị của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân
Việt Nam” [52], cho rằng: Năng lực là một thuộc tính bản chất của con
người, gắn liền với mọi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Cuộc sống của con người và xã hội loài ngườ i
hết sức phong phú. Do đó, có rất nhiều dạng năng lực và mỗi dạng năng
lực là tổng hợp các thuộc tính. Theo tác giả, năng lực của con người có
vai trò to lớn, là một trong những yếu tố quy ết định đến hiệu quả hoạt
động của con người và sự phát triển không ngừng của xã hội.
thực tiễn là tổng thể những yếu tố hợp thành khả năng hoạt động vật
chất có hiệu quả của chủ thể, trên những nhiệm vụ xác định, đáp ứng yêu
cầu phát triển của xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định” [51, tr. 23].
Các yếu tố cơ bản cấu thành năng lực thực tiễn, bao gồm: tri thức chuyên
môn; kỹ năng, tố chất thực hành nghề nghiệp; tình cảm, thái độ, động cơ,
ý chí quyết tâm đối với nghề nghiệp. Năng lực thực tiễn được thể hiện ở
13
khả năng xác định, duy trì mục đích hoạt động thực tiễn; ở khả năng quy
tụ, sử dụng lực lượng, công cụ, phương tiện vật chất để cải tạo hiện
thực; ở khả năng tổng kết thực tiễn rút ra những bài học kinh nghiệm của
chủ thể để cải tạo hiện thực; ở kỹ năng, kỹ xảo gắn với kinh nghiệm
trong hoạt động của chủ thể. Từ đó tác giả quan niệm: “Năng lực thực
tiễn của người chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng
thể các yếu tố hợp thành khả năng hoạt động vật chất có hiệu quả các
chức trách, nhiệm vụ, góp phần xây dựng đơn vị, trong đó có xây dựng về
chính trị vững mạnh toàn diện” [51, tr. 33].
Tập thể tác giả Hoàng Hải Bằng, Nguyễn Ngọc Long, Nguy ễn
Văn Huyên, Trần Phúc Thăng, Trần Thành, trong công trình “Bản lĩnh
chính trị với năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính
trị nướ c ta hiện nay” [4], cho rằng: Năng lực thể hiện ở chỗ người ta
làm tốn ít thời gian, ít sức lực, của cải, vật chất mà kết quả lại tốt. Do
đó, khi xem xét, đánh giá năng lực của một người cán bộ cần phải căn cứ
vào hiệu quả công việc là chính, đồng thời cũng cần biết đượ c trình độ
học vấn và quá trình công tác của họ. Mặc dù chưa đưa ra một quan
niệm đầy đủ về năng lực, nhưng các tác giả đã chỉ ra một số tiêu chí cơ
bản nhất trong xem xét, đánh giá năng lực của một người cán bộ đó là
trình độ học vấn và hiệu quả công việc trong quá trình công tác của họ.
Phạm Văn Thuần, trong luận án tiến sĩ Triết học “Nâng cao năng
chủ thể trong những điều kiện nhất định, đượ c biểu hiện ra trong hoạt
động, giúp chủ thể nhận thức và giải quyết có hiệu quả công việc trong
những lĩnh vực cụ thể. Năng lực luôn gắn liền với mỗi cá nhân, một tập
15
thể, một nhóm xã hội, do đó xã hội có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động thì
con người cũng có bấy nhiêu năng lực tương ứng” [86, tr. 29].
Đào Huy Tín, trong luận án tiến sĩ Quân sự “Biện chứng của quá
trình phát triển nhân cách người sĩ quan chính trị cấp phân đội Quân đội
nhân dân Việt Nam hiện nay” [90], quan niệm: Năng lực của người sĩ quan
chính trị cấp phân đội là tổng hợp những thuộc tính cá nhân, bảo đảm cho
họ tiến hành công tác đảng, công tác chính trị theo chức trách và nhiệm vụ
đạt hiệu quả cao. Tác giả phân chia năng lực của người sĩ quan chính trị
cấp phân đội thành hai nhóm: năng lực nhận thức và năng lực hoạt động
thực tiễn. Hai nhóm năng lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhóm
năng lực nhận thức giúp cho người sĩ quan chính trị cấp phân đội nhận
thức, đánh giá đúng tình hình, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, đề ra chủ
trương, biện pháp và phương hướng hành động đúng đắn. Nhóm năng lực
hoạt động thực tiễn tạo cho người sĩ quan chính trị cấp phân đội khả năng
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, quân sự ở đơn vị, nhất là những
nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị. Từ đó tác giả kết luận: Năng
lực của người sĩ quan chính trị cấp phân đội là sự thống nhất giữa tri thức
khoa học với kỹ năng nghề nghiệp; phát triển năng lực cho họ cần phải
kết hợp chặt chẽ giữa “dạy chữ” với “dạy nghề”, giữa “học chữ” với “học
nghề”.
Vũ Quang Tạo, trong bài viết “Nâng cao năng lực thực tiễn cho đội
ngũ cán bộ một đòi hỏi cấp bách hiện nay” [85], đã quan niệm: Năng lực
thực tiễn của người cán bộ là tổng thể các thuộc tính hợp thành khả năng
hoạt động thực tiễn có hiệu quả theo chức trách, nhiệm vụ của người cán
trị của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt
17
Nam. Đây là những nội dung có ý nghĩa lý luận trực tiếp mà nghiên cứu
sinh có thể kế thừa để nghiên cứu các yếu tố cơ bản cấu thành năng lực
giáo dục chính trị của chính trị viên đại đội trong Quân đội nhân dân Việt
Nam.
2. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến phát triển năng
lực giáo dục chính trị của chính trị viên đại đội trong Quân đội nhân dân Việt
Nam
Đào Huy Tín, trong lu ận án tiến sĩ [90], đã chỉ ra các nhân tố cơ
bản tác động tới quá trình phát triển nhân cách ngườ i sĩ quan chính trị
cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là: quan hệ bi ện ch ứng
giữa môi trườ ng xã hội với cá nhân sĩ quan chính trị cấp phân độ i; quan
hệ biện chứng giữa quá trình giáo dục đào tạo và tự giáo dục đào
tạo; hoạt động thực tiễn mà chủ yếu là hoạt độ ng công tác đả ng, công
tác chính trị ở phân đội; mối quan hệ bi ện ch ứng gi ữa m ặt sinh v ật và
mặt xã hội của sĩ quan chính trị cấp phân đội.
Theo tác giả, những nhân tố trên luôn có mối quan hệ biện chứng với
nhau và cùng tác động, chi phối đến quá trình phát triển nhân cách người sĩ
quan chính trị cấp phân đội. Trong đó, mặt sinh vật là tiền đề vật chất không
thể thiếu; môi trường xã hội có vai trò quyết định, giáo dục đào tạo là
nhân tố chủ đạo; hoạt động thực tiễn và tự giáo dục đào tạo có ý nghĩa
quyết định trực tiếp quá trình phát triển nhân cách của họ.
Từ những cơ sở lý luận trực tiếp nêu trên và kế t quả khảo sát,
đánh giá thực trạng phát triển nhân cách ngườ i sĩ quan chính trị cấp
phân đội trong quân đội, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp tươ ng
đối đồng bộ: xây dựng môi trườ ng quân sự, trực tiếp là m ôi trườ ng
19
quan chức năng của đơn vị với việc nâng cao năng lực giáo dục chính trị
của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở; đổi mới nội dung, hình
thức, phươ ng pháp bồi dưỡ ng năng lực giáo dục chính trị của độ i ngũ
cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở; đẩy mạnh việc t ự h ọc t ập, t ự rèn luyện
của đội ngũ cán bộ chính trị ở đơn vị cơ sở.
Nguy ễ n Văn Huy, trong lu ận án ti ến sĩ [51], kh ẳng đị nh: “Nâng
cao năng l ực th ực tiễn c ủa ng ườ i chính trị viên trong Quân độ i nhân
dân Vi ệt Nam là quá trình bổ sung, hoàn thi ệ n t ổng th ể các yế u tố cấu
thành năng l ực th ực ti ễn trong s ự t ươ ng tác hợp quy lu ật c ủa các chủ
thể, làm biế n đổ i năng lực th ực tiễn c ủa độ i ngũ này theo hướ ng đáp
ứng ngày càng tốt h ơn ch ức trách, nhiệ m v ụ, v ị thế c ủa h ọ ở giai đoạ n
lịch sử phát tri ển quân độ i nhấ t đị nh” [51, tr. 41]. Tác giả chỉ ra ba y ếu
tố cơ b ản quy đị nh tr ực ti ếp đế n nâng cao năng l ực th ực ti ễn c ủa
ngườ i chính tr ị viên trong Quân độ i nhân dân Vi ệt Nam. Đó là: sự tác
độ ng biệ n ch ứng gi ữa m ức độ phù hợp củ a chươ ng trình, nộ i dung,
hình th ức, ph ươ ng pháp đào tạ o, bồi d ưỡ ng v ới năng lực thực tiễn của
ngườ i chính tr ị viên; sự quyế t đị nh tr ực tiế p c ủa nhân tố chủ quan của
chính h ọ; sự quy đị nh củ a môi tr ườ ng ho ạt độ ng củ a họ .
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luậ n cơ bản và
kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá khách quan thực tr ạng nâng cao
năng lực thực ti ễn c ủa ng ười chính trị viên trong Quân đội nhân dân
Việt Nam, tác giả tập trung lu ận gi ải ba gi ải pháp cơ bản: nâng cao
chất lượ ng đào tạo, bồi dưỡ ng năng lực thực tiễn của ng ười chính trị
viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam; phát huy vai trò nhân tố chủ
quan của người chính trị viên trong nâng cao năng lực thực tiễn của họ;
xây dựng môi trườ ng thuận l ợi cho nâng cao năng lực thực tiễn của
20
nay” [64], cho rằng: Bồi d ưỡng năng lực thực hành công tác đảng, công
tác chính trị của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội là nhiệm
vụ cơ bản của công tác giáo dục đào tạo. Nó bao gồm tổng thể những
tác động có chủ định của hệ thống lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chức năng,
đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý cùng với sự nỗ lực học tập, rèn luyện
của học viên, nhằm trang bị, củng cố, m ở r ộng tri th ức, hình thành và
phát triển kỹ năng, kỹ xảo cho học viên.
Nguyễn Thanh Hùng, tác giả cuốn sách “Bồi dưỡng năng lực công
tác đảng, công tác chính trị cho sĩ quan chỉ huy cấp phân đội” [50]. Khi
bàn về những vấn đề có tính nguyên tắc trong bồi dưỡng năng lực công
tác đảng, công tác chính trị cho sĩ quan chỉ huy cấp phân đội, tác giả đã
nhấn mạnh phải kết hợp ch ặt chẽ gi ữa b ồi d ưỡng c ủa t ổ ch ức v ới t ự
bồi dưỡng, tự rèn luyện; gắn bồi dưỡng năng lực công tác đảng, công tác
chính trị với nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực toàn
diện. Bởi vì, bồi dưỡng của tổ chức và tự bồi dưỡng, tự rèn luyện là
những yếu tố cơ bản chi ph ối đến năng lực công tác đảng, công tác
chính trị; phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chỉ huy, quản lý
chuyên môn là những yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh bên trong, là điều
kiện không thể thiếu đối với các chủ thể tiến hành công tác đảng, công
tác chính trị.
Theo tác giả, để nâng cao chất lượng bồi dưỡng năng lực công tác
đảng, công tác chính trị cho sĩ quan chỉ huy cấp phân đội, cần phải nâng
cao nhận thức của lãnh đạo, chỉ huy các cấp; đổi mới nội dung, hình
22
thức, phương pháp bồi dưỡng; thực hiện tốt t ự h ọc t ập, t ự rèn luyện;
xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Trong đó, tác giả nhấn mạnh vai
trò quan trọng của việc nâng cao nhận thức của lãnh đạo, chỉ huy các
cấp về bồi dưỡng năng lực công tác đảng, công tác chính trị.
và đơn vị trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung, cán bộ chính trị cấp
phân đội nói riêng.
Nguyễn Văn Phúc, trong bài viết “Đổi mới dạy học môn công tác
đảng, công tác chính trị trong đào tạo chính trị viên ở Trườ ng Sĩ quan
Chính trị hiện nay” [104, tr. 91], đã chỉ rõ: đổi mới chương trình, nội
dung môn học cần phải hướng vào xây dựng hai yếu tố cơ bản trong
phẩm chất và năng lực của chính trị viên là “Hồng” và “Chuyên”; đổi
mới trước hết phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về phẩm chất và năng lực của chính trị viên. Chương trình,
nội dung phải bảo đảm tỷ lệ thích hợp giữa dạy lý thuyết với dạy thực
hành, thực tập. Mặt khác, phải tăng cườ ng thời gian và đổi mới nội dung
thực tập tại đơn vị cơ sở; xúc tiến nghiên cứu, đề xuất với Bộ Quốc
phòng những hình thức thích hợp cho mô hình gắn kết giữa nhà trường
với đơn vị.
Đỗ Đình Lượng, trong bài viết “Bồi dưỡng phương pháp, tác
phong công tác của chính trị viên đại đội” [104, tr. 144], đã nhấn mạnh
việc kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo tại trường với bồi dưỡng, rèn luyện
phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ chính trị viên tại đơn vị.
Theo tác giả, trong tuyển chọn h ọc viên đào tạo chính trị viên đại đội
cần coi trọng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng khiếu nghề
nghiệp. Đồng thời, trong quá trình giáo dục, đào tạo phải trang bị những
24
kiến thức cần thiết. Nâng cao chất lượng thực hành thông qua các bài
tập chuyên ngành công tác đảng, công tác chính trị; thực tập chức danh
chính trị viên tại lớp (đại đội); diễn tập cuối khoá và thực tập tại đơn vị
cơ sở gắn với chức danh, cương v ị công tác theo mục tiêu, mô hình đào
tạo chính trị viên. Kết hợp tốt giữa bồi dưỡng, rèn luyện của tổ chức
với tự tu dưỡng, tự rèn luyện của học viên đào tạo chính trị viên.
cao chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng năng lực công tác đảng,
công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên, theo tác giả: Phải kết hợp
chặt chẽ giữa nhà trường và đơn vị, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa tổ
chức và cá nhân.
Ngô Văn Quỳnh, trong bài viết “Phát huy vai trò của cán bộ giảng
dạy chính trị nhằm nâng cao chất lượng học t ập chính trị cho hạ sĩ quan,
binh sĩ ở đơn vị cơ sở hiện nay” [84], đã nhấn mạnh : Cùng với việc tăng
cường hoạt động tập huấn, bồi dưỡng của đơn vị, yêu cầu từng cán bộ
làm công tác giảng dạy chính trị phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, tích
cực, chủ động, say mê học tập, nghiên cứu nhằm tích luỹ kinh nghiệm
và nâng cao trình độ năng lực chuyên môn; không ngừng trau dồi phương
pháp, tác phong và năng lực công tác. Mặt khác, đối với cấp uỷ, chỉ huy
đơn vị mà trực tiếp là chính uỷ và cơ quan chính trị phải thường xuyên
thực hiện nghiêm kế hoạch bồi dưỡng, kiểm tra, giám sát, quản lý chặt
chẽ đội ngũ cán bộ giảng dạy chính trị, phân loại chất lượng giảng dạy
chính trị của từng cán bộ. Thực hiện tốt chế độ bồi dưỡng nâng cao trình
độ cho đội ngũ cán bộ giảng dạy chính trị thông qua các hình thức như
thông qua giáo án, giảng thử, gi ảng m ẫu, d ự gi ờ, bình giảng.
26
Trần Hậu Tân, trong luận án tiến sĩ [86], cho rằng: Năng lực thực
tiễn của chính trị viên từng bước được hình thành, hoàn thiện và nâng cao
thông qua đào tạo, bồi dưỡng và tham gia hoạt động thực tiễn trên cương
vị chức trách được giao. Từ đó, tác giả quan niệm: “Nâng cao năng lực thực
tiễn của chính trị viên là quá trình tác động tích cực, tự giác của các chủ thể
làm cho khả năng tiến hành các hoạt động chủ trì về chính trị và tổ chức
tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của chính trị viên
ngày càng có chất lượng, hiệu quả giúp chính trị viên hoàn thành tốt chức
trách, nhiệm vụ được giao” [86, tr. 41]. Thực chất nâng cao năng lực thực
đề cập khá sâu sắc, toàn diện và khoa học về vị trí, vai trò, tính cấp
thiết và những giải pháp đổi mới chươ ng trình, nội dung môn học Giáo
dục chính trị trong đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội hiện nay.
Trong đó, đã nhấn mạnh vấn đề nâng cao nh ận th ức, trách nhiệm c ủa
các lực lượ ng trong việc tăng cườ ng bồi dưỡ ng năng lực giáo dục chính
trị cho học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân độ i.
Trong đó, tiêu biểu có các bài viết của các tác giả: Trần Hoài Trung
“Chất lượng công tác giáo dục chính trị tại đơn vị cơ sở và vấn đề đặt ra
trong đào tạo chính trị viên đại đội hiện nay” [107, tr. 9]; Nguyễn Xuân
Trường “Quy trình đổi mới môn học Giáo dục chính trị trong đào tạo cán
bộ chính trị cấp phân đội ở Trường Sĩ quan Chính trị: những định hướng
cơ bản và các bước tiến hành”; Lê Văn Làm “Nâng cao chất lượng môn
học Giáo dục chính trị ở Trường Sĩ quan Chính trị hiện nay” [107, tr. 24];
Vũ Văn Dũng “Nâng cao chất lượng quản lý, điều hành huấn luyện thực