Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Chế tạo màng nano kim loại quý và tìm hiểu khả năng ứng dụng - Pdf 59

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

­­­­­­­­­­­­­­­­­­

Trịnh Xuân Sỹ

CHẾ TẠO MÀNG NANO KIM LOẠI QUÝ VÀ TÌM HIỂU 
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


Hà Nội, Năm 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

­­­­­­­­­­­­­­­­­­

Trịnh Xuân Sỹ

CHẾ TẠO MÀNG NANO KIM LOẠI QUÝ VÀ TÌM HIỂU 
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: Vật lý chất rắn
Mã số: 60440104

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CVD (chemical vapor deposition)

Lắng đọng pha hơi hóa học

XRD (X­Ray Diffraction )

Nhiễu xạ tia X

SEM (Scanning Electron 
Microscope)
EDX hoặc EDS (Energy­dispersive 
X­ray spectroscopy)

Phổ tán sắc năng lượng tia X 

AFM (Atomic force microscopy)

Kính hiển vi lực nguyên tử 

FTIR (Fourier transform infrared 

Quang phổ hồng ngoại chuyển đổi 

spectroscopy)

Fourier

SAM (self­assembled monolayer)



Trang

Hình 1.1. Một số phương pháp chế tạo màng mỏng

8

Hình 1.2. Sơ đồ hệ bốc bay nhiệt

9

Hình 1.3. Sơ đồ hệ bốc bay chùm điện tử

10

Hình 1.4. Sơ đồ hệ phún xạ

11

Hình 1.5. Sơ đồ phương pháp CVD

13

Hình 1.6. Sơ đồ phương pháp mạ điện

14

Hình 1.7. Các bộ phận chính của một cảm biến sinh học

20


40

Hình 3.2. Giản đồ nhiệt xạ của màng Pt khi nung ở các nhiệt độ 
khác nhau

41

Hình 3.3. Phổ EDX của mẫu trước khi nung

43

Hình 3.4. Phổ EDX của mẫu nung ở 450°C

43

Hình 3.5. Ảnh SEM màng Pt chế tạo ở 140°C trước khi nung

44

Hình 3.6. Ảnh SEM màng Pt chế tạo ở 140°C sau khi nung ở 
450°C. (a) cấu trúc màng, (b) các đám hạt

44

Hình 3.7. Ảnh SEM mẫu chế tạo ở 160°C

46

Hình 3.8. Ảnh AFM của mẫu chế tạo ở 140°C sau khi nung


Trang

Bảng 2.1. Danh sách các hóa chất sử dụng

29

Bảng 3.1. Các kết quả tính kích thước hạt theo các đỉnh nhiễu xạ

40

Bảng 3.2. Kết quả các kích thước của hạt ở nhiệt độ 300°C.

41

Bảng 3.3. Kết quả các kích thước của hạt ở nhiệt độ 450°C.

42

Bảng 3.4.  Vị  trí các mode dao động của 4­ATP nguyên chất và 
màng Pt đã được chức năng hóa
Bảng 3.5. Vị  trí đỉnh Raman của 4­ATP nguyên chất và màng Pt 
sau khi được chức năng hóa bằng 4­ATP

50

52


MỞ ĐẦU

xạ  magnetron và bốc bay chùm điện tử yêu cầu chân không và năng lượng cao, 
làm tăng đáng kể chi phí chế tạo. Lắng đọng điện hóa thì cần đế  có độ  dẫn tốt  
và độ   ổn định cao trong dung dịch điện giải, trong khi đó lắng mạ  hóa học lại 
cần một lớp kim loại hoạt động trên bề mặt của chất nền.
Trong thời gian gần đây, phương pháp khử  polyol muối Pt bắt đầu được 
sử  dụng rộng rãi để  lắng đọng màng Pt. Đây là phương pháp đơn giản   chỉ  sử 
dụng các phản ứng hóa học thuần túy nên chi phí rẻ, không yêu cầu các thiết bị 
phức tạp hay môi trường chế  tạo đặc biệt, mà vẫn thu được màng kim loại có  
chất lượng tốt, thích hợp cho nhiều ứng dụng khác nhau. Trước đó, phương pháp 
polyol chủ yếu dùng để chế tạo các hạt nano kim loại [10, 60, 63], rất ít nghiên  
cứu trong việc chế tạo màng. Kurihara và các đồng sự  đã có một báo cáo ngắn 
gọn về lắng đọng màng kim loại bao gồm Co, Ni, Rh, Re,W, Pt, và Au trên nền  
các đế  không dẫn khác nhau như  pyrex, kapton, teflon, sợi graphit, sợi cacbon,  
bằng cách nhúng các đế  này vào trong hỗn hợp dung dịch phản  ứng của muối  
kim loại [44]. Màng sau khi chế  tạo có cấu trúc nano với kích thước tinh thể 
trung bình khoảng 10 nm. Hiện nay, đã có nhiều công trình trình sử dụng phương 
pháp khử  polyol để  lắng đọng màng Pt như  một phương pháp đơn giản và tiết  
kiệm [41, 65, 66]. Tuy nhiên đa số các nghiên cứu này đều chỉ tập trung ứng dụng  
vào pin mặt trời, gần như chưa có một báo cáo nào thử  nghiệm ứng dụng trong  
những lĩnh vực khác, đặc biệt là lĩnh vực sinh học. Vì vậy nhằm mục đích tìm 
hiểu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các tính chất của màng Pt được chế  tạo 
bằng phương pháp polyol trên đế silic đồng thời thử nghiệm ứng dụng trong chế 
tạo cảm biến sinh học với tên đề tài của luận văn là:
“Chế tạo màng nano kim loại quý và tìm hiểu khả năng ứng dụng”

13


Trong luận văn, chúng tôi sử  dụng polyol là ethylene glycol để  khử  muối 
H2PtCl6  tạo màng Pt trên đế  silic. Màng sau khi tạo thành được xử  lý nhiệt để 

1.1. Giới thiệu về Platin
Platin hay còn gọi là bạch kim là một nguyên tố hóa học, ký hiệu Pt có số 
nguyên tử 78 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Platin là một kim loại 
chuyển tiếp quý hiếm. Mặc dù nó có sáu đồng vị  tự  nhiên, những platin vẫn là  
một trong những nguyên tố hiếm nhất trong lớp vỏ Trái Đất với mật độ phân bố 
trung bình khoảng 0,005 mg/kg. Platin thường được tìm thấy  ở  một số  quặng  
niken và đồng, chủ  yếu là  ở  Nam Phi chiếm 80% tổng sản lượng trên toàn thế 
giới.
Platin thường được sử dụng trong làm chất xúc tác, trang thiết bị phòng thí 
nghiệm, thiết bị điện báo, các điện cực, nhiệt kế điện trở, thiết bị  nha khoa, và  
đồ trang sức.
1.1.1. Tính chất vật lý
Platin là nguyên tố  thuộc chu kỳ VI, nhóm VIII B, có cấu hình electron là  
[Xe]4f145d96s1. Khối lượng mol là 195 g/mol, có mạng lưới tinh thể lập phương  
tâm mặt. Nhiệt độ nóng chảy của platin khoảng 1768°C, nhiệt độ sôi cỡ 3825°C. 
Platin có màu trắng bạc, sáng bóng, là một trong những kim loại dẻo dai  
nhất, dễ kéo sợi và dễ dát mỏng: 1g Pt có thể kéo thành sợi với chiều dài 5km và  
có thể  dát mỏng platin tới độ  dày cỡ  micromet [2].  Platin ít bị  mài mòn nên rất 
thích hợp để làm đồ trang sức mỹ nghệ. Kim loại này khó bị  ăn mòn, chịu được  
nhiệt độ  cao và có tính dẫn điện  ổn định cho nên được sử  dụng trong các  ứng 
dụng công nghiệp [17]. Tuy nhiên platin có thể bị ăn mòn bởi các halogen, xianua, 
lưu huỳnh và dung dịch kiềm ăn da. Platin rất dễ hấp thụ hydro và oxy, ứng dụng 
là vật liệu xúc tác trong các phản ứng hóa học.

15


1.1.2. Tính chất hóa học 
Trạng thái oxi hóa phổ biến của platin là +2 và +4. Trạng thái +1 và +3 ít  
phổ  biến hơn và thường  ổn định nhờ  liên kết kim loại trong dạng lưỡng kim  


Platinum(II) chloride có hai dạng tinh thể là α­PtCl2 và β­PtCl2, nhưng những tính 
chất chính của chúng có nhiều điểm tương đồng như: màu nâu sẫm, không tan 
trong nước và không mùi.
PtCl2  có thể được điều chế  bằng cách nung nóng H2PtCl6 lên 350°C trong 
không khí [24]:

H2PtCl6  PtCl2 + Cl2 + 2 HCl

(1.3)

Ngoài ra PtCl2 cũng có thể thu được khi nung PtCl4 ở 450°C theo phản ứng 
sau [71]:

PtCl4  PtCl2 + Cl2

(1.4)

Khi nung lên nhiệt độ  cao hơn cỡ  550°C PtCl2  sẽ  bị  phân hủy thành Pt 
nguyên chất và khí clo. [74]
1.1.3.2. Platin (IV) chloride
Platin (IV) chloride là hợp chất màu nâu có công thức là PtCl4. Platin (IV) 
chloride dễ  tan trong nước, tạo thành aquaxit H 2[PtCl4(OH)2]  ở  trạng thái tự  do. 
Khi có mặt HCl còn tạo nên H2[PtCl6] bền vững hơn.
PtCl4 có thể thu được khi nung H2PtCl6:

H2PtCl6  PtCl4 + 2 HCl

(1.5)


(1.7)

PtCl2  Pt + Cl2

(1.8)

Cả  ba phản  ứng trên là thuận nghịch. Nhiệt độ  của từng phản  ứng phân  
hủy trên không rõ ràng. Chẳng hạn, có báo cáo cho rằng phản ứng phân hủy PtCl 2 
thành Pt nguyên chất bắt đầu xảy ra ở 375°C [4], báo cáo khác lại cho rằng PtCl2 
bị phân hủy ở 550°C [74]. Nhiệt độ phân hủy của H 2PtCl6 thành Pt cũng thay đổi 
tùy theo các tài liệu khác nhau: Ysmael Verde và các đồng sự cho rằng nhiệt độ 

18


này là 350°C [74], Min­Hye Kim [50] và Than­Tung Duong [68] chế tạo điện cực 
Pt từ  phân hủy H2PtCl6  ở  450°C, còn Lewis cho rằng nhiệt độ  này trong khoảng 
400 – 600°C [45].
1.1.4. Các hạt nano Pt
Các hạt nano Pt là một trong những loại hạt nano kim loại quan trọng  
nhất. Chúng đã được nghiên cứu ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau chẳng  
hạn xúc tác trong fuel cell [3, 7, 19, 53], hệ thống xả của ô tô [3, 62], cảm biến  
khí [3, 38], cảm biến glucozo [35], và cả trong trị liệu ung thư [11]. 
Hạt nano Pt có thể  được chế  tạo bằng nhiều phương pháp hóa lý khác 
nhau. Đối với phương pháp hóa, hạt nano thường được tổng hợp trong dung dịch 
hóa học, vì vậy các hạt nano này thường gọi là các hạt Pt dạng keo. Một số 
phương pháp hóa có thể kể đến như  phương pháp hóa khử  [16, 20, 46], phương  
pháp polyol [51] và phương pháp mixen đảo [13]. Bên cạnh đó, hạt nano Pt cũng  
có thể chế tạo bằng nhiều phương pháp lý chẳng hạn như phún xạ [58], bốc bay 
chùm điện tử [43] hoặc cắt đốt bằng laser trong dung dịch [21, 52].

không cao và ngưng tụ  trên đế  (được đốt nóng hoặc không đốt nóng). Đây là  
phương pháp truyền thống, đơn giản và dễ thực hiện. 
Bộ  phận chính của các thiết bị  bay bốc nhiệt là một buồng chân không  
được hút chân không cao (cỡ  10­5  ­ 10­6  Torr) nhờ  các bơm chân không (bơm 
khuếch tán hoặc bơm phân tử...). Người ta dùng một thuyền điện trở  (thường 
làm bằng các vật liệu chịu nhiệt và ít tương tác với vật liệu) đốt nóng chảy các  
vật liệu nguồn, và sau đó tiếp tục đốt làm cho vật liệu bay hơi. Vật liệu bay hơi  
sẽ  ngưng đọng lên các đế  được gắn vào giá phía trên. Đôi khi đế  còn được đốt 
nóng (tùy theo mục đích tạo màng tinh thể hay vô định hình...) để điều khiển các 
quá trình lắng đọng của vật liệu trên màng.

20


Đây là một phương pháp đơn giản dễ  thực hiện để  chế  tạo màng Pt, tuy  
nhiên có lại có nhiều nhược điểm như  không thể  tạo các màng quá mỏng, khả 
năng khống chế chiều dày của phương pháp này rất kém do tốc độ  bay bốc khó  
điều khiển. Đặc biệt đối với nguyên liệu Pt có nhiệt độ nóng chảy cao, nhiệt độ 
nguồn bốc bay cũng phải rất cao lên tới 2100°C [1] gây khó khăn trong quá trình 
chế tạo cũng như khả năng ứng dụng. Do đó tỉ lệ sử dụng phương pháp bay bốc  
nhiệt trong chế tạo màng Pt ngày càng ít.
1.2.2. Phương pháp bốc bay chùm điện tử 
Bốc bay chùm điện tử (e­beam evaporation) là phương pháp sử dụng năng 
lượng của chùm electron hội tụ  trực tiếp lên vật liệu để  làm hóa hơi vật liệu 
trong chân không cao và ngưng tụ trên đế.
Trong hệ  thông bốc bay chum điện tử, buồng chân không phải được hút 
chân không cao đến 7.5 x 10­5 Torr để  cho phép các electron từ  súng electron có 
thể đến được vật liệu cần bốc bay. Nhiều loại vật liệu bốc bay và súng electron 
có thể  được sử  dụng đồng thời trong chỉ  một hệ  thống bốc bay, mỗi loại có 
nguồn   năng   tự   từ   hàng   chục   đến   hang   trăm   kW.   Khi   máy   hoạt   động,   chùm  

­

Có thể sử dụng rất ít vật liệu gốc

1.2.3. Phương pháp phún xạ catot
Phún xạ  (sputtering) là kỹ  thuật chế  tạo màng mỏng dựa trên nguyên lý  
truyền động năng bằng cách dùng các ion khí hiếm được tăng tốc dưới điện 
trường bắn phá bề mặt vật liệu từ bia vật liệu, truyền động năng cho các nguyên 
tử này bay về phía đế và lắng đọng trên đế.
Khác với phương pháp bay bốc nhiệt, phún xạ  không làm cho vật liệu bị 
bay hơi do đốt nóng mà thực chất quá trình phún xạ  là quá trình truyền động  
năng. Vật liệu nguồn được tạo thành dạng các tấm bia (target) và được đặt tại 
điện cực (thường là catot), trong buồng được hút chân không cao và nạp khí hiếm  
với áp suất thấp (cỡ 10−2 mbar). Dưới tác dụng của điện trường, các nguyên tử 
khí hiếm bị ion hóa, tăng tốc và chuyển động về  phía bia với tốc độ  lớn và bắn  
phá bề mặt bia, truyền động năng cho các nguyên tử vật liệu tại bề mặt bia. Các  
nguyên tử  được truyền động năng sẽ  bay về phía đế  và lắng đọng trên đế. Các  
nguyên tử  này được gọi là các nguyên tử  bị  phún xạ. Như  vậy, cơ chế  của quá 
trình phún xạ là va chạm và trao đổi xung lượng, hoàn toàn khác với cơ chế của 
phương pháp bay bốc nhiệt trong chân không.

22


Phún xạ được chia làm hai loại chính: phún xạ cao áp 1 chiều và phún xạ 
xoay chiều. Phún xạ  cao áp 1 chiều là loại đơn giản nhất sử  dụng nguồn cấp  
điện áp 1 chiều đặt trên hai điện cực trong chuông chân không. Phún xạ  xoay 
chiều là kỹ thuật sử dụng hiệu điện thế xoay chiều để gia tốc cho ion khí hiếm.  
Nó vẫn có cấu tạo chung của các hệ phún xạ, tuy nhiên máy phát là một máy phát 
cao tần sử dụng dòng điện tần số sóng vô tuyến (thường là 13.56 MHz). 

Các phản ứng hóa học ở pha hơi của các chất phản ứng sẽ tạo nên 
các tiền chất màng và sản phẩm phụ

­

Các tiền chất này và sản phẩm phụ  được vận chuyển xuống bề 
mặt đế (được nung nóng)

­

Xảy ra sự hấp thụ và khuếch tán các tiền chất trên bề mặt đế

­

Dưới nhiệt độ  cao, các phản  ứng hóa học bề  mặt xảy ra đẫn dến 
sự lắng đọng màng mỏng

­

Sản phẩm phụ sinh ra sau phản  ứng sẽ khuếch tán ngược vào dòng 
chất lưu, dòng chất lưu đưa khí tiền chất dư  và sản phẩm phụ  ra  
khỏi buồng.

Hình 1.5. Sơ đồ phương pháp CVD [29]
Ta có thể mô tả phương pháp CVD bằng phương trình:

(1.9)
Phương pháp CVD được  ứng dụng phổ  biến để  chế  tạo màng Pt. Vargas 
Garcia và Takashi Goto đã tóm tắt một cách đầy đủ  và chi tiết các cách thức chế 
tạo   màng   Pt   bằng   CVD   [32].   Trong   đó,   màng   Pt   có   thể   được   chế   tạo   từ 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status