Tóm tắt Luận án Tiến sĩ: Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới lăng kính học thuyết hành vi con người của Freud - Pdf 59

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

                                  NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG
 

                                                  

LèI SèNG TI£U CùC CñA MéT Bé PHËN GIíI TRÎ
VIÖT NAM HIÖN NAY D¦íI L¡NG KÝNH HäC
THUYÕT
HµNH VI CON NG¦êI CñA FREUD
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số              : 62 22 03 02

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ 
                                               
                                                          


HÀ NỘI ­ 2015


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn khoa học:  GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn
                               
Phản biện 1: .............................................................................

Phản biện 2: .............................................................................


ra những khó khăn và thách thức không nhỏ  cho đất nước nói chung và  
thế hệ trẻ nói riêng. Thực tế cho thấy, thế hệ trẻ rất nhạy cảm và dễ bị 
tổn thương trong thời kỳ  hội nhập này. Khoa học công nghệ  mới, các 
phương tiện truyền thông tiên tiến, giao lưu quốc tế  rộng mở  là điều  
kiện tốt cho giới trẻ tiếp cận nhanh chóng những mặt ưu việt, tích cực 
của thế giới hiện đại, đồng thời họ cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ 
những mặt tiêu cực của nó. Những tiêu cực này lan tỏa trong lối sống 
của một bộ phận giới trẻ  như  những virus gậm nhấm tinh thần và thể 
chất của họ. Có nhiều xu hướng sống khác nhau đang len lỏi trong mọi  
thành phần của giới trẻ  như: học sinh phổ thông, sinh viên, công  nhân, 
viên chức, thanh thiếu niên  ở  thành  thị, nông thôn và miền núi. Từ  tình 
trạng lười học tập, lười lao động tới ăn chơi đua đòi, sống buông thả bản 
thân, sống thác loạn với các tệ nạn ma túy, mại dâm, rồi đi tới tuyệt vọng, 
bế tắc, mất phương hướng. Tình dục đồng giới, chuyển giới, thậm chí hôn 
nhân đồng giới trong giới trẻ có xu hướng ngày càng gia tăng.  Lối sống ích 
kỷ, thờ   ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm; không quan tâm tới người khác; 
không quan tâm tới tương lai, vận mệnh đất nước khác hẳn với tính cách 
vốn có của thanh niên trước đây. Tình trạng bạo lực, coi thường pháp luật, 
tội phạm vị thành niên, tội phạm học đường ngày càng phát triển với nhiều 
dạng rất nguy hiểm như hành động của các kẻ sát nhân máu lạnh trẻ tuổi 
Lê Văn Luyện, Nguyễn Đức Nghĩa, Nguyễn Hải Dương trong mấy năm 
gần đây. 
Tình hình trên đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta nhiệm vụ cấp bách  
là phải giáo dục chính trị  tư  tưởng cho thế  hệ  trẻ. Cùng với các biện 
pháp nhằm từng bước  đẩy lùi sự  lây lan của lối sống tiêu cực này, 


2

nhiều cuộc điều tra xã hội học đánh giá thực trạng, nhiều nghiên cứu về 

hướng đề cao ý thức như phần tư duy chủ yếu của con người. Freud cấu 
trúc bộ  máy tư  duy của con người thành ba thành phần vô cùng quan 
trọng là vô thức, tiền ý thức và ý thức với ba thành tố là cái ấy (id), cái tôi 
(ego),  cái siêu tôi  (superego). Các thành phần này được kích hoạt bởi 
xung lực bên trong của mỗi con người , Freud gọi đó là libido, là năng lực 
tính dục nguyên thủy,  đó là nguồn gốc dẫn tới mọi hành vi của con 
người. Từ  libido, Freud đã xác định được hai bản năng đối lập song lại 


3

gắn bó  với nhau là  eros,  ông  gọi là  bản năng sống, đó là những ham 
muốn, dục vọng và đòi hỏi sự sinh tồn của con người  và thanatos, Freud 
gọi là bản năng chết là nguồn gốc dẫn tới hành vi giận dữ, đập phá, hủy 
hoại, bạo lực, chém giết bất chấp mọi nguyên tắc, kỷ cương , luật pháp. 
Những luận thuyết cơ bản nêu trên cùng với các luận đề quan trọng của  
học thuyết Freud như  tâm lý đám đông, tình dục đồng giới… đều có thể 
vận dụng để lý giải tìm căn nguyên hành vi, lối sống của con người.
Từ  góc  độ  triết  học  có  thể  vận dụng học thuyết  hành vi con 
người của Freud về  vô thức,  libido  thể  hiện qua  cái  ấy, cái tôi, cái  
siêu tôi, bản năng eros, thanatos và các luận đề khác của Freud  như là 
một lăng kính  để  phân tích, nhận diện các hành vi lối sống tiêu cực, 
suy thoái đạo đức, hành xử bạo lực, coi thường pháp luật của một bộ 
phận giới trẻ Việt Nam hiện nay.     
         Khác với cách tiếp cận theo hướng  chỉ  tìm hiểu từ  nguyên nhân 
ngoại   sinh  mà   các   nghiên   cứu  hiện   nay  về   lối   sống   của   giới   trẻ 
thường tiếp cận. NCS cố  gắng tìm hiểu nguyên nhân nội sinh, tức là 
đi tìm hiểu bản năng gốc rễ  của mỗi con người hoặc mỗi nhóm cộng 
đồng đã hình thành hành vi của mình để  lý giải hành vi lối sống tiêu 
cực của một bộ  phận giới trẻ  Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, cũng 

Freud, luận án phân tích căn nguyên dẫn đến những hành vi lối sống tiêu cực  
ấy; từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng, nhằm hạn chế 
lối sống tiêu cực cho giới trẻ Việt Nam hiện nay.
2.2.  Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ 
sau:       
Một là, nêu lên thực trạng lối sống tiêu cực của một bộ phận giới  
trẻ Việt Nam hiện nay và chọn những lối sống điển hình trong số đó để 
phân tích, lý giải. 
Hai là, khái quát hóa những nội dung cơ  bản của học thuyết hành 
vi con người Freud được vận dụng nghiên cứu.
Ba là, từ  các luận thuyết, luận đề phù hợp của học thuyết hành vi 
con 
người của Freud, nhận diện, phân tích, lý giải  căn nguyên của một số 
lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. 
Bốn là, phân tích, chỉ ra những mặt giá trị và mặt hạn chế trong học 
thuyết hành vi con người của Freud và đề  xuất một số giải pháp có tính 
định hướng, nhằm hạn chế lối sống tiêu cực cho giới trẻ Việt Nam hiện 
nay.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 

3.1.  Đối tượng nghiên cứu 
­ Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay, 
bao gồm thanh niên và thiếu niên trong độ tuổi học đường.
­ Các luận thuyết cơ  bản và các luận đề  chính của học thuyết 
Freud được chọn để phân tích vận dụng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu 
­ Nghiên cứu những luận thuyết cơ  bản của học thuyết hành vi 
con người của Freud về  vô thức, về cấu trúc bộ máy tâm lý, về  libido, 
về cái  ấy, cái tôi, cái siêu tôi, về bản năng eros và thanatos cùng các 

tổng quan các nghiên cứu về lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ 
hiện nay và các nghiên cứu về  học thuyết Freud  ở  Việt Nam; Phương  
pháp lịch sử  ­ lôgic  để  nghiên cứu đánh giá và phân tích những luận  
thuyết cơ bản của học thuyết Freud. Đồng thời, luận án vận dụng quan  
điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử  để  phân tích, đánh giá,  vận 
dụng học thuyết  Freud để lý giải lối sống tiêu cực của một bộ phận giới 
trẻ hiện nay.
5. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

1. Nghiên cứu xác định được nguyên nhân nội sinh dẫn đến hành vi 
của một số lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ  Việt Nam hiện  
nay, khác biệt với các nghiên cứu về  thanh thiếu niên trước đây chỉ 
nghiên cứu nguyên nhân ngoại sinh với các tác động ngoại cảnh. 


6

2. Lần đầu tiên có một nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud để 
phân tích, lý giải tâm lý hành vi của lối sống tiêu cực của giới trẻ, khác 
với các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam chỉ nghiên cứu vận dụng học 
thuyết Freud trong văn học nghệ thuật, tôn giáo, tâm linh, tính cách dân 
tộc.
3. Làm sâu sắc hơn tính khoa học cho các giải pháp của Đảng và Nhà 
nước ta nhằm giảm thiểu lối sống tiêu cực của giới trẻ.  Các giải pháp 
mang tính định hướng trong luận án, có thể  tương tự  như  các giải pháp 
hiện có, song nó được xây dựng trên cơ sở của một học thuyết nổi tiếng  
về hành vi con người là học thuyết Freud.
           6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 

1. Góp phần nghiên cứu về giới trẻ Việt Nam, trong đó nghiên cứu 

sát về thực trạng văn hóa thanh niên  (2002) và Cuộc điều tra quốc gia  
về   vị   thành  niên   và   thanh   niên   Việt   Nam  (Survey  Assessment   of 
Vietnamese Youth  –  SAVY1, SAVY2 ­ 2003, 2010).  Các cuộc điều tra 
này chỉ cung cấp những con số về thực trạng tình hình mà chưa đi sâu vào  
tìm hiểu lối sống của giới trẻ, đặc biệt chưa có những phân tích , lý giải 
tìm nguyên nhân dẫn đến lối sống của họ. 
1.1.3.  Nghiên cứu về  thanh thiếu niên và lối sống của thanh 
thiếu niên trong thời kỳ đổi mới
Các   nghiên   cứu   về   thanh   niên   khá   phong   phú.   Bước   đầu   các 
nghiên cứu đã phân tích nguyên nhân dẫn đến những hạn chế tiêu cực 
trong   lối   sống   của   một   bộ   phân   giới   trẻ   hiện   nay.   Tuy   nhiên,   các 
nghiên cứu mới chỉ  đưa ra các nguyên nhân ngoại cảnh tác động dẫn  
đến hành vi tiêu cực đó như  thiếu sự  giáo dục của gia đình và nhà 
trường,   ảnh hưởng của văn hóa phẩm ngoại lai,  của internet…  mà 
chưa đi sâu vào căn nguyên gốc rễ  bên trong dẫn đến các hành vi tiêu  
cực nói trên. Cụ  thể  hơn, chưa có một nghiên cứu nào vận dụng học 
thuyết Freud, học thuyết nổi tiếng về  tâm lý hành vi con người, để 
phân tích hành vi lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam  
hiện nay.
1.2. TỔNG QUAN CÁC  NGHIÊN CỨU  VỀ  HỌC THUYẾT FREUD  Ở 
VIỆT NAM

1.2.1.  Sự  tiếp nhận  và đánh giá chung tình hình nghiên cứu học 
thuyết Freud ở Việt Nam     


8

Ở  miền Bắc Việt Nam tr ước năm 1975 ,  việc nghiên cứu triết 
học phươ ng Tây nói chung và học thuyết Freud nói riêng   chưa đượ c 

thuyết về  vô thức, lý thuyết về  tính dục và lý thuyết về  cơ  cấu nhân  
cách toàn diện hay tâm lý học về  cái tôi. Cùng với ba vấn đề  lớn nêu 
trên, Phạm Minh Lăng cũng đề  cập tới các nghiên cứu khác của Freud 
về  giấc mơ, về  mặc cảm  Ơdipe và gợi ý một số  khả  năng  ứng dụng 
học thuyết Freud vào thực tế xã hội.


9

Trong  Học thuyết và tâm lý học S.Freud  Phạm Minh Hạc cho 
người đọc thấy bức tranh toàn cảnh về học thuyết Freud. Tác giả tổng 
hợp học thuyết Freud với những nét cô đọng nhất  với các vấn đề: khái 
niệm năng lượng, lực, xung; giấc ngủ và giấc mơ; vô thức và ý thức;  
bản năng…Từ  đó, tác giả  giới thiệu:  tâm lý học sâu thẳm (tâm lý học 
miền sâu) và  tâm lý học động,  là những vấn đề  mới của Tâm lý học 
đương đại.  Tác giả  nêu lên mối liên hệ  giữa chủ  nghĩa Marx và học 
thuyết Freud đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu. 
1.2.2.2. Các nghiên cứu vận dụng học thuyết hành vi con người  
của Freud vào thực tiễn cuộc sống
Trên thế  giới  đã có rất nhiều nghiên cứu  vận  dụng học thuyết 
Freud vào phân tích, lý giải các hiện tượng trong đời sống xã hội, trong 
bệnh học, trong tâm lý con người, trong văn hóa nghệ  thuật…Lĩnh vực 
nghiên  cứu này  được  gọi  chung là  nghiên   cứu  vận   dụng   học   thuyết  
Freud.
Ở  Việt Nam cho đến nay, những nghiên cứu mang tính vận dụng 
học  thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống  mà chủ  yếu trong văn học 
nghệ thuật mới chỉ dừng lại ở mức độ nhỏ lẻ qua các bài báo trên các tạp 
chí. Chỉ có một số  công trình mang tính tổng hợp như: Phân tâm học áp  
dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn của Vũ Đình Lưu (1969) và 
một chùm tác phẩm về nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud của  học 

Tuy   nhiên,   chư a   có   mộ t   nghiên   c ứ u   nào   vậ n   d ụ ng   ư u   th ế   mạ nh 
nh ấ t củ a  h ọ c thuy ết Freud là  xuấ t phát từ   g ố c r ễ   sâu thẳ m c ủa tâm 
lý nhân cách con ng ườ i   để  lý giả i   tâm lý hành vi  c ủa  lố i s ống tiêu 
c ự c củ a m ột b ộ ph ận gi ới tr ẻ Vi ệt Nam. 
1.3.2. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu
Từ  tên gọi của đề  tài luận án, có thể  thấy được hướng nghiên 
cứu của  luận án chọn là  nghiên  cứu  vận dụng học thuyết Freud vào  
thực tiễn cuộc sống. Luận án chọn cách tiếp cận mà ở Việt Nam chưa 
có nghiên cứu nào lựa chọn là nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ 
­ nguyên nhân nội sinh của hành vi dẫn đến lối sống tiêu cực của một  
bộ phận giới trẻ nhìn từ các luận thuyết cơ bản của học thuyết Freud,  
đó   là:  vô   thức,   libido,   bản   năng  eros,   thanatos,   tính   dục,  đồng   tính  
luyến ái, tâm lý đám đông.
                                
                                     CHƯƠNG 2
LỐI SỐNG TIÊU CỰC CỦA MỘT BỘ PHẬN GIỚI TRẺ
VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ KHÁI LƯỢC HỌC THUYẾT
HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA FREUD
          2.1. LỐI SỐNG TIÊU CỰC CỦA MỘT BỘ  PHẬN GIỚI TR Ẻ  VI ỆT  
NAM HIỆN NAY

2.1.1. Về phạm trù “giới trẻ” và phạm trù “lối sống”
NCS phân tích và chọn lựa định nghĩa tổng quát và phổ dụng nhất  
của phạm trù “giới trẻ” và phạm trù “lối sống” để mặc định xuyên xuốt 
quá trình nghiên cứu trong luận án.


11

2.1.2. Những biểu hiện của lối sống tiêu cực của một bộ phận 

2.1.2.4. Biểu hiện về lối sống hành xử bạo lực, coi thường luật  
pháp


12
2.2. KHÁI LƯỢC HỌC THUYẾT HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA 
FREUD 

2.2.1. Bối cảnh lịch sử, tiền đề  khoa học và tiền đề  lý luận của  
học thuyết hành vi con người của Freud
2.2.1.1. Bối cảnh lịch sử
Sigmund   Freud   (1856   ­1939)   sinh   ngày   6   tháng   5   năm   1856   tại 
Freiberg,   vùng Moravia thuộc nước Áo (nay thuộc Cộng hòa Sec) là  
trung tâm văn hoá chính trị của Châu Âu thời bấy giờ. 
2.2.1.2. Tiền đề khoa học và tiền đề lý luận 
Freud đã chịu  ảnh hưởng và kế  thừa nhiều tư  tưởng triết học khác 
nhau của các triết gia trước và cùng thời với ông như: Darwin (1809­1882), 
G.W.   Leibniz  (1646­1716),Schopenhauer(1788­1860),  J.Goethe   (1749­
1832),Von  Helmholtz   (1821­1894),  Nietzsche   (1844­1900),  F.Brentano 
(1838­1917). 
2.2.2. Quá trình hình thành và phát triển học thuyết  hành vi 
con người của Freud
Cả cuộc đời mình với hơn 60 năm làm khoa học, S . Freud đã dành 
hết tâm huyết cho việc xây dựng, củng cố và phát triển một học thuyết 
nổi tiếng  mang tên ông.  Quá trình đó được chia làm 3 giai đoạn:  Giai 
đoạn   1   (1881­1896);  Giai   đoạn   2   (1896­1920);  Giai   đoạn   3   (1920  
­1939). 
2.2.3.  Những  luận   thuyết   chính   của  học   thuyết  hành   vi   con 
người của Freud                                          
Học thuyết Freud đượ c tổ  hợp từ  nhiều các luận thuyết khác 

chưa trở  thành  ý thức.  Vô thức  tách rời hẳn ý thức, nó là thành phần 
chính, là thành phần chủ  đạo và có mối quan hệ  khăng khít với các hệ 
thống khác trong bộ máy tư duy của con người. 
Freud đã so sánh cấu trúc này với hình tượ ng của một tảng băng 
trôi. Trong tảng băng trôi đó, phần nổi nhìn thấy đượ c trên mặt nướ c 
là ý thức chỉ chiếm một phần rất nh ỏ c ủa tảng băng, phần chìm dướ i 
nướ c không nhìn thấy đượ c chiếm phần vô cùng lớn của tảng băng 
là vô thức. Phần rất nhỏ nằm giáp ranh giữa  vô thức và ý thức và vẫn 
chìm dướ i nước là tiền ý thức. 
Trên nền 3 hệ thống vô thức, tiền ý thức, ý thức nêu ở trên, Freud 
cấu trúc bộ  máy tư  duy  của con người với ba thành tố  vô cùng quan 
trọng là cái ấy (id), cái tôi (ego), cái siêu tôi (super ego). 
 Cái  ấy (id): Nằm hoàn toàn trong vô thức, theo sơ đồ  cấu trúc bộ 
máy tư duy nó nằm ở phần dưới nước của tảng băng trôi.  Cái ấy (id) là 
thành phần sinh học (biological component) của tư duy. Nó là bản năng 
tính dục, có ngay từ  lúc con người mới sinh, nó thể  hiện những lực 
lượng nguyên thủy của sự sống. Các hành động của cái ấy đều dựa trên 
nguyên tắc khoái lạc (pleasure principle). 
 Cái tôi (ego): Trong mô hình cấu trúc bộ máy tư duy con người, cái 
tôi nằm ở phần trên cái ấy.  Cái tôi nằm trong cả phần ý thức, tiền ý thức 


14

và   một   phần  vô   thức.  Cái   tôi  là   thành   phần   tâm   lý   (psychological 
component) của bộ  máy tư  duy.  Cái tôi  bị  chi phối bởi nguyên lý thích 
ứng với thực tại.  Cái tôi  thể  hiện trong hoạt động ý thức như  tri giác, 
ngôn ngữ và những hoạt động trí tuệ cho phép kiểm soát kiềm chế hành 
vi cá nhân trong quan hệ với ngoại cảnh. Cái tôi nhận biết được thế giới 
xung quanh và nhận ra rằng, phải kìm hãm những khuynh hướng sai lệch  

ý nghĩa căn bản trong sự  quyết định tiến trình đời sống cá nhân mỗi con  


15

người, trong đó bản năng quan trọng nhất là libido ­ loại bản năng hoang sơ 
nhất. 
           2.2.3.4. Luận thuyết về xung lực bản năng 
Trong  mô hình  cấu trúc bộ  máy tư  duy con người của Freud, các 
xung lực  bản năng  này đều nằm trong  cái  ấy  của  vô thức.  Freud cho 
rằng, toàn bộ  sức mạnh tác động  ở  phía sau những nhu cầu cấp bách  
của cái ấy là xung lực, nói cách khác, xung lực bắt nguồn từ những nhu  
cầu cơ thể. 
Có   nhiều   xung   lực  được  Fredud   đề   cập   tới   trong   nghiên   cứu, 
nhưng cuối cùng ông chỉ  chọn hai  xung lực bản năng cơ  bản nhất là 
eros được gọi là bản năng sống và xung lực phá huỷ thanatos được gọi 
là bản năng chết. Freud tin rằng, mọi hành vi của con người đều được 
thúc đẩy bởi hai xung lực này. 
Tóm lại, vô thức, libido và các xung lực bản năng eros, thanatos cùng 
với cấu trúc cái ấy (id), cái tôi (ego), cái siêu tôi (superego) là những vấn 
đề  trung tâm của học thuyết Freud.  Đây là đóng góp hết sức to lớn của 
Freud, nó đặt nền móng cho lời giải về  động lực thúc đẩy hành vi con 
người và mở rộng ra là động lực phát triển xã hội. Bởi lẽ đó, người ta gọi  
học thuyết Freud là học thuyết về hành vi con người là học thuyết về con  
người.
2.2.4.  Những  luận  đề   được  hình  thành  trên cơ   sở   các luận 
thuyết cơ bản của học thuyết hành vi con người của Freud
Luận đề về tâm lý học đám đông được Freud nghiên cứu dựa trên 
sự  phát  triển những quan điểm của Gustave Le Bon (1841­1931)  trong 
tác phẩm  Tâm lý học đám đông  (1895);  của Mc. Dougall (1871­1938), 

ra,  eros  hướng tới thỏa mãn các ham muốn dục vọng và sự  sống còn. 
Ham ăn, ham uống, ham sắc dục, ham của cải vật chất, ham tiền bạc,  
ham danh lợi... đều là những thứ ham muốn nằm trong cái eros. 
Thanatos cũng là một từ gốc Hy lạp được Freud sử dụng để chỉ trạng 
thái tâm lý “muốn hủy hoại” (death wish)  muốn đập phá mọi thứ bất chấp 
cái chết để giải quyết những bế tắc, những căng thẳng trong cuộc sống và 
ông gọi đó là  bản năng chết  thanatos. Sự  biểu lộ   ở  mức độ  thấp của 
thanatos là tính tự ái, nóng giận, nổi khùng;  ở mức độ cao hơn là sự  ghen 
tức, đố kị dẫn tới hành vi hãm hại lẫn nhau. Mức độ tột cùng của thanatos là 
thù oán, giận dữ, muốn chém giết đồng loại như một thứ bản năng dã thú , 
bản năng súc vật. 
Trong rất nhiều trường h ợp bản năng  eros  là tiền đề, là động 
lực cho bản năng  thanatos.  Sự  ham muốn, sự  đòi hỏi quá mức của 
eros  sẽ  thúc đẩy và dẫn tới sự  giành giật và hành động hãm hiếp,  
cướ p của, chém giết, của bản năng thanatos. 
Xem xét từ  gốc rễ  của hai bản năng   eros  và  thanatos  dễ  dàng 
nhận thấy rằng, hành vi dã man của Lê Văn Luyện được  xuất phát 
từ  thói ham chơi, ham có nhiều tiền để  đượ c sung sướ ng, giàu có. 


17

Chính cái ham muốn từ bản năng  eros đó đã thúc đẩy Luyện, mặc dù 
Luyện mới chỉ  là trẻ  vị  thành niên. Sự  thúc đẩ y này lan truyền, cộng  
hưở ng   với   bản   năng  thanatos  cũng   nằm   trong  cái   ấy  làm   cho   cái 
thanatos  có xung lực mạnh mẽ  dồn lên  cái tôi  thúc ép  cái tôi  hành 
động.  Cái   tôi  bị   thúc   đẩy   mạnh   mẽ   vượt   lên   khỏi   tiền   ý  thức  tới 
phần ý thức là phần nổi trên mặt của bộ  máy tư  duy. Các hành động 
sau   đó   của   Luyện   gần   như   là   theo  ý   thức,   phải   giết   người   để   có 
vàng, có tiền, thôi thúc hắn hành động mà không hề  run sợ, không hề 

3.2. VẤN NẠN ĐUA XE TRÁI PHÉP TỪ GÓC NHÌN TRIẾT HỌC CỦA 
TÂM LÝ HỌC ĐÁM ĐÔNG CỦA FREUD

3.2.1. Những nghiên cứu về  tâm lý đám đông được Freud tiếp 
thụ
  Freud rất đồng tình với  quan điểm của Gustave Le Bon và của 
Mc. 
Dougall về tâm lý đám đông. Ông tiếp thụ những luận điểm chính của 
hai tác giả  này và phát triển theo các luận thuyết về  vô thức, libido,  
xung lực bản năng eros… của mình.
3.2.2. Freud với Tâm lý học đám đông và nhìn nhận vấn nạn đua 
xe trái phép dưới góc nhìn  Triết học về  Tâm lý học đám đông  của 
Freud
        Cũng giống như G. Le Bon và Mc Dougall, Freud cho rằng, hành 
động  chung của  đám   đông  và hành  vi  của  từng  cá nhân  trong   đám 
đông đều xuất phát từ  bản năng  vô thức. Liên hệ  với đám đông đua 
xe trái phép chúng ta dễ dàng nhận thấy, khi cùng tham gia và bị cuốn  
hút vào đám đông đua xe thì những cá nhân tham gia  không còn đủ  lý 
trí để  điều khiển ý thức  mà  họ  hoàn toàn bị  vô thức  chi phối, điều 
khiển. 
Freud đồng tình với Le Bon về  ba nguyên nhân quyết định sự 
xuất hiện những tính cách riêng của tâm lý đám đông. Đó là:  Tâm lý 
đám đông được hình thành dưới áp lực của số  đông;  Do tính lây lan  
hay lây nhiễm trong đám đông;  Do tính dễ  bị  gợi ý hay tính dễ  bị  ám  
thị của cá nhân trong đám đông. Liên hệ với đám đông đua xe trái phép 
tự  phát, chúng ta dễ  dàng nhận ra những nguyên nhân đó là hoàn toàn 
đúng.
Với nguyên nhân thứ nhất, đúng là, nếu chỉ với vài người có cùng 
sở  thích muốn tìm cảm giác mạnh, cảm giác say tốc độ  cao, cảm giác 
yêng hùng của đua xe gặp nhau thì chưa chắc đã tạo ra được nhóm đua  

ngay vào bộ  não của cá nhân, ngay lập tức   gợi ý  đó  biến thành hành 
động chung của  cả  đám đông đua xe. Từ  đó, hàng chục, hàng trăm 
người đua xe ào  ạt như cơn lốc, hò la, lao xe như điên dại trên đường 
phố. Đúng như  Le Bon đã nhận định và Freud  cũng đồng tình, khi đó, 
dù là đốt cháy một tòa lâu đài hay thực hiện những hành động điên 
cuồng khác, như  cướp bóc cửa hàng, đập phá, đốt xe ô tô, đám đông 
cũng sẵn sàng làm một cách dễ  dàng, họ  tin tưởng hoàn toàn vào sự 
gợi ý  một cách mù quáng.  Khi đã hòa vào đám đông đua xe, mọi cá 
nhân có những hành động như những con thú trong một bầy đàn và cả 
đám đông trông như  một đàn thú ô hợp chạy trên đường , đúng như 
Freud đánh giá về đám đông. 
3.3. ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI VỚI CÁCH NHÌN NHẬN CỦA FREUD

3.3.1. Đồng tính luyến ái trên thế giới và ở Việt Nam
Hiện tượ ng đồng tính luyến ái (ĐTLA) đượ c thấy  ở  rất nhiều  
quốc gia,   nhiều nhất là  ở  các quốc gia phát triển châu Âu và Bắc  
Mỹ.  Cho đến nay đã có 20 quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính. 


20

Trong đó châu Âu có 13 nước, châu Mỹ  có 4 nước và mới đây, ngày  
15/6/2015 quốc hội Mỹ  đã thông qua luật cho phép hôn nhân đồng giới 
trên tất cả các bang của nước Mỹ (những năm trước đây chỉ có 22 bang 
cho phép hôn nhân đồng tính). Hà Lan là quốc gia đầu tiên cho phép hôn 
nhân đồng tính vào năm 2001. Không có quốc gia nào  ở  châu Á công 
nhận hôn nhân đồng tính. 
Hiện tượng ĐTLA và một số lượng không lớn hôn nhân đồng tính 
ở  Việt Nam đang có xu hướng phát triển mạnh  gây bức xúc cho xã hội 
và các cơ  quan pháp luật. Tuy nhiên, trong kỳ  họp Quốc hội vào tháng 

không lạc quan. Freud cảnh báo rằng, “Loại bỏ  đồng tính luyến ái 
không bao giờ  dễ  dàng và chỉ  thành công trong hoàn cảnh đặc biệt  
thuận lợi và thậm chí thành công, thì sau khi anh ta tiếp cận với người  
cùng giới một thời gian các chức năng lưỡng tính của anh ta  lại được 
khôi phục”1. Ông cũng lưu ý những người có mối quan hệ gần gụi với 
với những người có khuynh hướng tình dục đồng giới phải thận trọng 
vì rất có thể bị cuốn theo xu thế này.
Trong cuộc đời mình, Freud nhìn người đồng tính luyến ái với 
một thái độ  rất  khoan dung. Năm 1930, Freud đã ký vào bản kêu gọi 
hợp pháp hóa các hành vi tình dục đồng giới  ở  Đức và Áo.   Khi được 
hỏi liệu người ta phải thực hiện để chữa bệnh đồng tính luyến ái hoặc 
làm cho giảm bớt đi bằng cách tăng sức ép của dư luận xã hội, ông trả 
lời: “Đương nhiên, sự nhấn mạnh của tôi là cần đưa về  các biện pháp 
xã hội”2 Freud hiểu vai trò của xã hội là vô cùng quan trọng để  giảm  
thiểu sự phát sinh của đồng tính luyến ái. 
                                                
                                                   CHƯƠNG 4
GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG HỌC THUYẾT
HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA FREUD VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
CÓ TÍNH ĐỊNH  HƯỚNG, NHẰM HẠN CHẾ LỐI SỐNG TIÊU CỰC 
CHO GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. MỘT SỐ GIÁ TRỊ TRONG HỌC THUYẾT HÀNH VI CON NGƯỜI 
CỦA FREUD         

4.1.1. Học thuyết Freud giúp hiểu sâu hơn về tâm lý và hành vi 
của con người ­ đó là học thuyết về con người 
Học thuyết Freud mang tính nhân văn rất cao, nó đi sâu tìm hiểu 
về y học cụ thể là thần kinh bệnh học và tâm lý nhân cách con người. 
Đó là những lĩnh vực khoa học xuất phát để hình thành nên học thuyết  
về con người. Vì vậy, người ta gọi học thuyết Freud là học thuyết về 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status