HCVINCHNHTRQUCGIAHCHMINH
THTHM
THựC HIệN PHáP LUậT
Về QUYềN KINH Tế, Xã HộI Và VĂN HóA ĐốI
VớI
NGƯờI DÂN TộC THIểU Số ở CáC TỉNH
MIềN NúI PHíA BắC VIệT NAM
Chuyờnnganh
:Lýlunvlchsnhncvphỏplut
Masụ
:62380101
TểMTTLUNNTINS
HÀ NỘI 2015
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS. Tường Duy Kiên
2. TS. Trương Hồ Hải
Phản biện 1: ......................................................
Phản biện 2:.......................................................
văn hóa.
Tuy nhiên, thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
vẫn còn nhiều bất cập tại vùng dân tộc thiểu số nói chung và ở các tỉnh
miền núi phía Bắc nói riêng và đây vẫn là vùng khó khăn nhất cả nước.
Nhà nước ban hành pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là đúng
đắn, song việc triển khai thực hiện rất h ạn ch ế, không ít văn bản quy
phạm pháp luật không xuống được với đời sống bà con dân tộc thiểu số
hay do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt vùng núi địa hình
chia cắt, độ dốc lớn; Hoặc do chính năng lực hạn chế về ý thức pháp luật
của người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc về các quyền về
kinh tế, xã hội và văn hóa. Đó chính là “rào cản,, đối với việc thực hiện
pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu
số nơi đây được hiệu quả. Hơn nữa, các thế lực thù địch đã và đang lợi
dụng những yếu kém của việc thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số để kích động đòi “ly khai,,
dân tộc như bạo loạn ở Tây Nguyên năm 2001 và 2004, ở Mường Nhé
Điện Biên năm 2011, là một ví dụ.
Đó là lý do tôi chọn đề tài : “Thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã
1
hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Việt Nam,, để làm Luận án tiến sỹ. Đây là đề tài có ý nghĩa quan trọng cả
về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1. Mục đích của luận án
Luận án phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về lý luận thực
hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc
thiểu số; qua phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật luận án đề
2
Thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với
người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc là vấn đề rất rộng và
phức tạp, có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề dưới góc độ khoa học lý
luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Trong quá trình nghiên cứu, tập trung
vào các nội dung cơ bản của thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa. Khi đánh giá thực trạng chỉ điều tra khảo sát những vấn đề cốt
lõi để làm cơ sở luận giải các hạn chế, đồng thời đưa ra những quan điểm,
giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam về Nhà nước và pháp luật về thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện
pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nói riêng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp
nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp lịch sử cụ thể và
sử dụng kết quả điều tra xã hội học.
Tác giả chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng nội dung
trong Luận án. Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp
để đánh giá, nhận xét các công trình nghiên cứu có liên quan đến thực hiện
pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nói chung. Chương 2, tác giả
chủ yếu sử dụng phương pháp diễn giải quy nạp để xây dựng các khái
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số; Tham
khảo và phân tích việc thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa đối với người dân tộc thiểu số ở một số nước trên thế giới và
những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam.
Thứ hai, luận án nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách hệ thống
thực trạng thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với
người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nêu lên những kết quả
đạt được, những hạn chế yếu kém; nguyên nhân của những kết quả đạt
được và những hạn chế yếu kém. Đây là cơ sở thực tiễn khoa học để đưa ra
các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
hiện nay.
Thứ ba, luận án dự báo xu hướng tác động đến thực hiện quyền kinh
tế xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía
Bắc, Đưa ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp có tính khả thi về đảm
bảo thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người
dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay nhằm
góp phần thúc đẩy phát triển một xã hội hài hòa không có tính loại trừ
những nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu
số.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
4
Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm phong phú thêm những vấn đề
lý luận của thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với
người dân tộc thiểu số nói chung và ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng.
Làm sáng tỏ khái niệm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và thực hiện pháp
luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.
dung cụ thể của thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
5
đối với người dân tộc thiểu số mà chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ
thống và toàn diện nội dung thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt
Nam.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Nghiên cứu các công trình ngoài nước liên quan đến đề tài cho thấy có
một số công trình đề cập đến thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện phát triển kinh tế
xã hội và hệ thống pháp luật ở các quốc gia trên thế giới có nhiều khác biệt,
nên trong các công trình này chưa đề cập đến Thực hiện pháp luật về quyền
kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số, mà chỉ đề cập
đến những quy phạm chung về quyền con người, trong đó có quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa.
1.3. MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN
CỨU TRONG LUẬN ÁN
Những công trình trong nước và nước ngoài đã tập trung nghiên cứu các
vấn đề lý luận về quyền con người trong đó có quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa và ở các khía cạnh khác nhau, chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện, đầy đủ có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn
thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân
tộc thiểu số nói chung và ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam nói riêng.
Các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước cho thấy chưa có công
2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU
SỐ
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của quyền kinh tế, xã hội và văn
hoá
2.1.1.1. Khái niệm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Quyền con người là những đặc tính xuất phát từ nhu cầu và phẩm giá
vốn có của con người, được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật quốc gia
và quốc tế. Với tư cách là một giá trị xã hội mà con người giành được để
đi đến phát triển tự do thì quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là nhu cầu thiết
yếu về nhân phẩm và giá trị của con người được pháp luật quốc gia và
quốc tế ghi nhận là điều kiện bảo đảm cho sự tự do và phát triển của con
người, bao gồm các quyền sở hữu, quyền có việc làm, quyền được giáo
dục, quyền chăm sóc sức khỏe, quyền an sinh xã hội, quyền được duy trì
và bảo tồn bản sắc văn hóa.
2.1.1.2.Đặc điểm của quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là một trong hai nhóm quyền cơ bản
của con người, vì vậy nó mang đầy đủ các đặc điểm của quyền con người
như: Tính phổ biến được áp dụng cho tất cả các thành viên trong gia đình
nhân loại mà không có sự phân biệt đối xử nào dựa trên chủng tộc, màu
da, giới tính, ngôn ngữ và các tình trạng khác; Tính không thể chuyển
nhượng; Tính không thể phân chia và phụ thuộc lẫn nhau . Ngoài ra quyền
kinh tế, xã hội và văn hóa còn có những đặc điểm đặc thù như:
Thứ nhất: Tính đặc thù của các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa,
7
trước hết do sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các khu vực và
nghĩa với cộng đồng tộc người, cộng đồng này có thể là bộ phận chủ yếu
hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở trên cùng một lãnh thổ thống nhất
hay ở nhiều quốc gia khác nhau nhưng được liên kết với nhau bằng ngôn
ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người .
Tại Điều 5 Nghị định của Chính phủ về công tác dân tộc quy định: "Dân
tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi
lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" và "Dân tộc đa số là dân
8
tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số cả nước, theo điều tra dân số quốc
gia".
Tuy nhiên, tổng hợp những thuộc tính được ghi nhận từ nội dung
các văn bản pháp luật có liên quan đến dân tộc thiểu số, có thể hiểu khái
niệm "người dân tộc thiểu số " ở Việt Nam như sau:
Người dân tộc thiểu số là người thuộc dân tộc có số dân ít hơn với
dân tộc đa số trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có những đặc điểm riêng
về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán.
2.1.2.2. Đặc điểm của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Thứ nhất, về đặc điểm cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số, Việt
Nam là cộng đồng các dân tộc sống xen kẽ với nhau (cả dân tộc đa số là
người Kinh và các dân tộc thiểu số khác) mà không cư trú thành những
khu vực riêng biệt như các dân tộc thiểu số ở một số nước trên thế giới
đây là đặc trưng duy nhất chỉ có ở các dân tộc Việt Nam
Thứ hai, về đoàn kết dân tộc, cộng đồng các dân tộc Việt Nam có
truyền thống đoàn kết, gắn bó, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Không có hiện
tượng đồng hóa, xâm chiếm lãnh thổ của dân tộc này với dân tộc khác. Vì
vậy, không xuất hiện sự mâu thuẫn đối kháng giữa dân tộc thiểu số với dân
tộc đa số. Đây là đặc điểm đặc trưng nhất của các dân tộc thiểu số ở Việt
Từ sự phân tích lý giải trên, có thể hiểu:
Thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người
dân tộc thiểu số là tổng thể các hoạt động có mục đích, có chủ định của các
cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các cá nhân người dân tộc thiểu số
để đưa các quy phạm pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đi vào
cuộc sống của người dân nơi đây.
2.1.3.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội
và văn hoá đối với người dân tộc thiểu số
Thứ nhất, THPL về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là sự tiếp nối
xây dựng pháp luật về quyền, bao gồm toàn bộ các hoạt động nhằm đưa các
quy phạm pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đi vào cuộc sống
của bà con dân tộc thiểu số.
Thứ hai, chủ thể thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa đối với người dân tộc thiểu số bao gồm nhiều loại chủ thể, đó là các
cơ quan nhà nước; các cấp ủy Đảng; chính quyền các cấp, công chức, viên
chức nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; tổ
chức cộng đồng của đồng bào, các cá nhân và hộ gia đình người dân tộc
thiểu số. Trong đó:
Chủ thể có nghĩa vụ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện pháp luật về quyền
kinh tế, xã hội và văn hóa là đảng bộ các cấp từ cấp tỉnh xuống huyện và
xã; các cấp chính quyền từ trung ương xuống địa phương.
Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn
hóa là những cơ quan, tổ chức, cá nhân có chức năng nhiệm vụ phải thực
hiện, tổ chức THPLvề quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trên địa bàn mà
mình phụ trách và bảo đảm đúng đối tượng được thụ hưởng quyền.
Chủ thể hưởng quyền chính là người dân tộc thiểu số. Trong trường
hợp này người dân tộc thiểu số vừa là chủ thể quyền, vừa là chủ thể
thực hiện pháp luật, hơn ai hết chính người dân tộc thiểu số là chủ thể
trực tiếp tham gia thể thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn
hoá
Thứ năm, thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
đối với người dân tộc thiểu số phát huy các giá trị đạo đức, bản sắc văn
hóa truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam.
2.2. NỘI DUNG, YÊU CẦU VÀ CÁC YẾU TỐ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI
DÂN TỘC THIỂU SỐ
2.2.1. Nội dung thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa đối với người dân tộc thiểu số
Một là, Nhà nước với tư cách là chủ thể nghĩa vụ, chịu trách nhiệm
bảo đảm thực thi pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với
người dân tộc thiểu số thông qua các cơ quan nhà nước, các công chức,
viên chức nhà nước triển khai tổ chức thực hiện để đưa chính sách và
pháp luật vào cuộc sống của bà con dân tộc thiểu số
11
Hai là, Nâng cao nhận thức pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa cho các chủ thể quyền, trong trường hợp này, chủ thể quyền
chính là bản thân đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện các quyền năng của
mình về kinh tế, xã hội và văn hóa.
Ba là, Các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước hay những người
có thẩm quyền tổ chức thực hiện các hoạt động áp dụng pháp luật về
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số cần phải
thiết lập những nguyên tắc cơ bản của quá trình giải quyết khiếu nại và
tố cáo trong quá trình thực hiện pháp luật về phát triển kinh tế, xã hội
nếu:
Những quyền và lợi ích cơ bản của người dân tộc thiểu số bị ảnh
hưởng;
2.3. TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC
VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ
ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
2.3.1. Pháp luật quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và
quyền của người dân tộc thiểu số.
2.3.1.1. Nội dung pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá
Nội dung pháp luật về quyền kinh tế như quyền lao động, việc
làm quyền có tiêu chuẩn sống thích đáng
Nội dung pháp luật về quyền xã hội, như quyền an sinh xã hội,
chăm sóc y tế
Nội dung pháp luật về quyền văn hóa bao gồm giáo dục tiểu học
là phổ cập và miễn phí với mọi người; Bằng mọi biện pháp thích hợp.
Mỗi quốc gia cần bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
dưới mọi hình thức và ở tất cả các cấp phải thể hiện những nét đặc
trưng, gắn kết bao gồm:
Tính sẵn có: thể hiện ở những điều kiện cơ sở hạ tầng thiết yếu
Có thể tiếp cận: Thể hiện ở việc các cơ sở và chương trình bảo
đảm tiếp cận bình đẳng của tất cả mọi người,
Có thể chấp nhận được: tức là phù hợp về văn hoá các dân tộc và
có chất lượng tốt
Có thể thích ứng: Thể hiện ở nhà cung cấp dịch vụ phải linh hoạt
để có thể thích ứng với nhu cầu liên tục thay đổi của xã hội và cộng
đồng.
2.3.1.2. Quyền của người dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc
tế
Thứ nhất: Điều 27 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị đã xác lập một quyền của riêng các nhóm thiểu số, bao g ồm thiểu số
về dân tộc (quyền của nhóm).
Thứ hai: Việc bảo đảm các quyền của người thiểu số nêu ở Điều
cả các biện pháp đặc biệt tạm thời để thực thi các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa đối với người DTTS một cách hiệu quả.
Kinh nghiệm của các nước có ý nghĩa với Việt Nam bao gồm:
Một là, nhà nước luôn xác định trách nhiệm hàng đầu và chính yếu
trong việc đầu tư, phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số, nhất
là ở các tỉnh biên giới, miền núi. Nhà nước phải đặc biệt quan tâm phát
triển kinh tế xã hội để giải quyết vấn đề dân tộc và bất bình đẳng giữa
các dân tộc gắn với bảo đảm an ninh biên giới và ổn định chính trị.
Hai là, nhà nước ban hành các chính sách, pháp luật nhằm thúc đẩy sự
phát triển kinh tế xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số đều tiến hành các
chương trình đầu tư mang tính đồng bộ, dài hạn để giải quyết một cách cơ
bản điều kiện cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là giao thông, năng lượng, các
công trình thủy lợi, gắn sản phẩm nông nghiệp với thị trường hàng hóa,
cũng như đồng bộ với chính sách phát triển, y tế giáo dục, và bảo đảm an
sinh xã hội.
Ba là, nhà nước phải xác định hướng ưu tiên trong việc đầu tư vào
thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm tập trung vào ba lĩnh vực
quan trọng đối với người dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số đó là:
Lĩnh vực phát triển kinh tế; lĩnh vực giáo dục và đào tạo cán bộ, có thể
xuất bản giáo khoa song ngữ tiếng Việt và tiếng dân tộc (đối với những
14
dân tộc có chữ viết riêng) cũng như có chiến lược đào tạo cao học riêng
cho cán bộ người dân tộc thiểu số. Đây là những vấn đề cốt lõi liên quan
trực tiếp đến việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
Qua việc tham chiếu thực hiện pháp luật về quyền ở một số nước
trong khu vực, chúng ta nhận thấy chính sách, pháp luật của mỗi quốc gia
cũng có những ưu điểm và cả những hạn chế, nhưng đây là bài học kinh
các tỉnh miền núi phía Bắc rất cao(chiếm trên 50% trong tỷ lệ nghèo
15
chung cả nước). Tây Bắc có 958 xã ĐBKK thuộc Chương trình 135 giai
đoạn II, chiếm 58,3% tổng số xã ĐBKK của cả nước . Cơ sở hạ tầng kỹ
thuật còn yếu kém và chịu tác động tiêu cực của quá trình phát triển công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đặc điểm văn hóa, xã hội: Mật độ dân số thấp 60 90 người/km2.
Dân tộc thiểu số có 5.949.436 người, chiếm 61% dân số vùng và 53% dân
tộc thiểu số cả nước; nhiều tỉnh người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao
như; Cao Bằng 94,1%; Bắc kạn 85%; Đây là vùng cư trú sinh sống của
hơn 30 Dân tộc thiểu số trong 54 dân tộc anh em, tập trung chủ yếu ở
vùng đồi núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới. Các dân tộc thiểu số nơi đây
đều có ngôn ngữ riêng một số ít dân tộc thiểu số có chữ viết riêng, sự tồn
tại lâu đời của nhiều phong tục tập quán lạc hậu, bất lợi cho sức khoẻ và
sự tiến bộ xã hội. Chất lượng chăm sóc y tế, giáo dục và đào tạo nguồn
nhân lực còn hạn chế. Đặc thù về an ninh biên giới, hoạt động kinh tế
vùng biên diễn ra hết sức phức tạp như tình trạng buôn lậu, ma túy, lao
động qua biên giới ở vùng biên..v.v.
Qua phân tích các yếu tố đặc thù về điều kiện tự nhiên và kinh tế
xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, nơi cư trú của phần lớn
đồng bào các DTTS nước ta, chúng ta nhận thấy các vấn đề nêu trên thực
sự là những khó khăn, thách thức đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến
việc thực hiện pháp luật về quyền con người trong đó có các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa đối với người dân nơi đây.
3.2.THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU
SỐ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
đặc biệt là đồng bào sinh sống ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành những chính sách đặc thù được thể
hiện bằng hai quyết định của Thủ tướng Chính phủ là hai chương trình lớn
tác động đến giảm nghèo miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó
khăn, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đó là Chương trình
phát triển kinh tế, xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và
miền núi (QĐ 135/1998/QĐTTg, gọi tắt là Chương trình 135 và Chương
trình 134).
Một số văn bản quy phạm pháp luật về quyền kinh tế
Một số văn bản quy phạm pháp luật về quyền xã hội
Một số văn bản quy phạm pháp luật về quyền văn hóa như giáo
dục và đào tạo, dạy nghề, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số.
3.2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội
và văn hoá đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía
Bắc
3.2.2.1. Những thành tựu, kết quả đạt được trong thực hiện pháp
luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá đối với người dân tộc thiểu
số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Thực hiện pháp luật nói chung và THPL về quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa nói riêng với người DTTS ở các tỉnh miền núi phía Bắc đều có
bốn hình thức cơ bản là: Tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng
pháp luật và áp dụng pháp luật. Nhưng trong bốn hình thức thực hiện
pháp luật nêu trên, tuân thủ pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
đối với người dân tộc thiểu số là các chủ thể pháp luật tự kiềm chế để
không thực hiện hành vi, hoạt động mà pháp luật về quyền kinh tế, xã
17
hội và văn hóa nghiêm cấm, không cho phép thực hiện. Qua số liệu điều
viên, thể hiện trong Báo cáo quốc gia phổ quát định kỳ về việc thực hiện
quyền con người ở Việt Nam: "Chính phủ Việt Nam cam kết và xác định
việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quyền con người, quyền công dân
là một trong những ưu tiên quốc gia trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền
18
con người trong thời gian tới " thể hiện qua đã nội luật hóa các quy phạm
điều ước vào hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia.
Hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa nói riêng, cũng như những chính sách đặc thù về phát triển
kinh tế xã hội miền núi đã đạt được những tiến bộ nhất định tạo ra cơ
sở cho việc thực hiện và thúc đẩy các quyền kinh tế, xã hội đối với người
dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào dân tộc ở các tỉnh miền núi phía
Bắc nước ta.
Kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây có bước phát triển
mạnh đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát
triển có mức thu nhập trung bình (thấp) từ năm 2010 với mức thu nhập
trung bình đầu người là 1.068 USD, năm 2013 là 1.960 USD Việt Nam hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và gia nhập nhiều định chế
thương mại quốc tế vì vậy Việt Nam có nguồn lực để thúc đẩy thực hiện
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân nói chung và đồng bào
dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng.
Nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định đường lối
đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc.
Thứ hai, Sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, sâu sát trong thực hiện
pháp luật về quyền của các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp.
Thứ ba, Sự tham gia tâm huyết của đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ
quyền lao động việc làm của người dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía
Bắc còn nhiều hạn chế. Chương trình 134 về cấp đất ở, nhà ở, nước sinh
hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, là một chủ trương đúng, nhưng
khi triển khai áp dụng lại không phù hợp với điều kiện của các tỉnh, hiệu quả
tác động chưa cao.
3.2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp
luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu
số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Nguyên nhân khách quan:
Vị trí địa lý tự nhiên ở vùng núi cao độ dốc lớn, địa hình hiểm trở,
chia cắt phức tạp
Đặc điểm cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi
phía Bắc sống phân tán, trên địa hình rộng lớn, đi lại khó khăn
Do yếu tố lịch sử để lại mà tình hình kinh tế xã hội ở vùng dân
tộc các tỉnh miền núi phía Bắc vẫn là nơi kém phát triển nhất của cả
nước.
Nguyên nhân chủ quan:
Một là, chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật về quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa được ban hành vẫn còn không ít những điểm bất cập
giữa các quy định và thực tiễn đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở
các tỉnh miền núi phía Bắc.
Hai là, quản lý, chỉ đạo, tổ chức của một số các cán bộ, công chức
ở các cấp trong thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
20
đối với người dân tộc thiểu số còn hạn chế, bất cập và bộc lộ nhiều yếu
kém.
Ba là, nhận thức của chủ thể thụ hưởng quyền là người dân tộc