Tóm tắt Luận án Tiến sĩ: Thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam - Pdf 59

HCVINCHNHTRQUCGIAHCHMINH

THTHM

THựC HIệN PHáP LUậT
Về QUYềN KINH Tế, Xã HộI Và VĂN HóA ĐốI
VớI
NGƯờI DÂN TộC THIểU Số ở CáC TỉNH
MIềN NúI PHíA BắC VIệT NAM
Chuyờnnganh
:Lýlunvlchsnhncvphỏplut
Masụ


:62380101

TểMTTLUNNTINS


HÀ NỘI ­ 2015


Công trình được hoàn thành tại 
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS. Tường Duy Kiên
                                    2. TS. Trương Hồ Hải
        

Phản biện 1: ......................................................
Phản biện 2:.......................................................

văn hóa. 
Tuy nhiên, thực hiện pháp luật về  quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 
vẫn còn nhiều bất cập tại vùng dân tộc thiểu số  nói chung và  ở  các tỉnh 
miền núi phía Bắc nói riêng và đây vẫn là vùng khó khăn nhất cả  nước. 
Nhà nước ban hành pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là đúng 
đắn, song việc triển khai thực hiện rất h ạn ch ế, không ít văn bản quy  
phạm pháp luật không xuống được với đời sống bà con dân tộc thiểu số 
hay do  ảnh hưởng của điều kiện tự  nhiên khắc nghiệt vùng núi địa hình 
chia cắt, độ dốc lớn; Hoặc do chính năng lực hạn chế về ý thức pháp luật 
của người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc về các quyền về 
kinh tế, xã hội và văn hóa. Đó chính là “rào cản,, đối với việc thực hiện  
pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu  
số  nơi đây được hiệu quả. Hơn nữa, các thế  lực thù địch đã và đang lợi  
dụng những yếu kém của việc thực hiện pháp luật về  quyền kinh tế, xã 
hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số  để  kích động đòi “ly khai,, 
dân tộc như  bạo loạn  ở  Tây Nguyên năm  2001 và 2004,  ở  Mường Nhé 
Điện Biên năm 2011, là một ví dụ.
Đó là lý do tôi chọn đề tài : “Thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã  

1


hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc  
Việt Nam,, để  làm Luận án tiến sỹ. Đây là đề  tài có ý nghĩa quan trọng cả 
về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1. Mục đích của luận án
 Luận án phân tích làm sáng tỏ  những vấn đề lý luận về  lý luận thực 
hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc  
thiểu số; qua phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật luận án đề 

2


Thực hiện pháp luật về  quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với 
người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc  là vấn đề rất rộng và 
phức tạp, có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. 
Luận án chỉ  tập trung nghiên cứu vấn đề  dưới góc độ  khoa học lý 
luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Trong quá trình nghiên cứu, tập trung 
vào các nội dung cơ bản của thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội 
và văn hóa. Khi đánh giá thực trạng chỉ  điều tra khảo sát những vấn đề cốt  
lõi để làm cơ sở luận giải các hạn chế, đồng thời đưa ra những quan điểm, 
giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã 
hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc 
hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác ­ Lênin,  
Tư  tưởng Hồ  Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt  
Nam về Nhà nước và pháp luật về thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện 
pháp luật  về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nói riêng. 
4.2. Phương pháp nghiên cứu 
Luận án được thực hiện dựa trên phương pháp luận của Chủ  nghĩa 
duy vật biện chứng, chủ  nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp 
nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp lịch sử cụ thể và 
sử dụng kết quả điều tra xã hội học. 
Tác giả  chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng nội dung 
trong Luận án. Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp 
để  đánh giá, nhận xét các công trình nghiên cứu có liên quan đến thực hiện 
pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa nói chung. Chương 2, tác giả 
chủ  yếu sử  dụng phương pháp  diễn giải ­ quy nạp để  xây dựng các khái 

quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số; Tham 
khảo và phân tích việc thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và 
văn hóa đối với người dân tộc thiểu số   ở  một số  nước trên thế  giới và 
những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam.
Thứ  hai,    luận án nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách hệ  thống 
thực trạng thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với 
người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nêu lên những kết quả 
đạt được, những hạn chế  yếu kém;    nguyên nhân của những kết quả  đạt 
được và những hạn chế yếu kém. Đây là cơ sở thực tiễn  khoa học để đưa ra 
các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn 
hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam  
hiện nay.
Thứ ba, luận án  dự báo xu hướng tác động đến thực hiện quyền kinh 
tế xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía  
Bắc, Đưa ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp có tính khả thi về đảm  
bảo thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người 
dân tộc thiểu số  ở  các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay nhằm 
góp phần thúc đẩy phát triển một xã hội hài hòa không có tính loại trừ 
những nhóm dễ  bị  tổn thương như  phụ  nữ, trẻ  em, người dân tộc thiểu 
số. 
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

4


­  Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm phong phú thêm những vấn đề 
lý luận của thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với 
người dân tộc thiểu số  nói chung và ở  các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng. 
Làm sáng tỏ  khái niệm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và thực hiện pháp 
luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.

dung cụ  thể  của thực hiện pháp luật về  quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 

5


đối với người dân tộc thiểu số mà chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ 
thống và toàn diện nội dung thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và 
văn hóa đối với người dân tộc thiểu số  ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt 
Nam.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

Nghiên cứu các công trình ngoài nước liên quan đến đề tài cho thấy có  
một số công trình đề cập đến thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội  
và văn hóa. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện phát triển kinh tế ­ 
xã hội và hệ thống pháp luật ở các quốc gia trên thế giới có nhiều khác biệt, 
nên trong các công trình này chưa đề cập đến Thực hiện pháp luật về quyền 
kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số, mà chỉ  đề  cập 
đến những quy phạm chung về quyền con người, trong đó có quyền kinh tế, 
xã hội và văn hóa.
1.3. MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 
CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ  TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ  CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN 
CỨU TRONG LUẬN ÁN

­ Những công trình trong nước và nước ngoài đã tập trung nghiên cứu các  
vấn đề  lý luận về  quyền  con người trong đó có quyền kinh tế, xã hội và 
văn hóa và  ở  các khía cạnh khác nhau, chưa có một công trình nào nghiên 
cứu một cách toàn diện, đầy đủ có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn  
thực hiện pháp luật về  quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân 
tộc thiểu số nói chung và ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam nói riêng. 
­ Các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước cho thấy chưa có công  

2.1.  KHÁI  NIỆM,   ĐẶC  ĐIỂM,  VAI  TRÒ  THỰC  HIỆN PHÁP LUẬT  VỀ 
QUYỀN KINH TẾ, XàHỘI VÀ VĂN HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU 
SỐ 

 2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của quyền kinh tế, xã hội  và văn  
hoá
2.1.1.1. Khái niệm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Quyền con người là những đặc tính xuất phát từ nhu cầu và phẩm giá 
vốn có của con người, được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật quốc gia 
và quốc tế. Với tư cách là một giá trị xã hội mà con người giành được để 
đi đến phát triển tự do thì quyền kinh tế, xã hội và văn hóa  là nhu cầu thiết  
yếu về  nhân phẩm và giá trị  của con người được pháp luật quốc gia và  
quốc tế ghi nhận là điều kiện bảo đảm cho sự tự do và  phát triển của con  
người, bao gồm các  quyền sở  hữu, quyền có việc làm, quyền được giáo  
dục, quyền chăm sóc sức khỏe, quyền an sinh ­ xã hội, quyền được duy trì  
và bảo tồn bản sắc văn hóa.
2.1.1.2.Đặc điểm của quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
 Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là một trong hai nhóm quyền cơ bản  
của con người, vì vậy nó  mang đầy đủ các đặc điểm của quyền con người  
như: Tính phổ biến được áp dụng cho tất cả các thành viên trong gia đình  
nhân loại mà không có sự  phân biệt đối xử  nào dựa trên chủng tộc, màu 
da, giới  tính, ngôn ngữ  và các tình trạng khác;  Tính không thể  chuyển  
nhượng; Tính không thể phân chia và  phụ thuộc lẫn nhau . Ngoài ra quyền 
kinh tế, xã hội và văn hóa còn có những đặc điểm đặc thù như:
Thứ  nhất: Tính đặc thù của các quyền  kinh tế, xã hội và văn hóa, 

7


trước hết do sự  phát triển kinh tế  không đồng đều giữa các khu vực và  

nghĩa với cộng đồng tộc người, cộng đồng này có thể  là bộ  phận chủ  yếu  
hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở trên cùng một lãnh thổ thống nhất 
hay  ở  nhiều quốc gia khác nhau nhưng được liên kết với nhau bằng ngôn  
ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người .
 Tại Điều 5 Nghị định của Chính phủ về công tác dân tộc quy định:  "Dân  
tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi  
lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam"  và "Dân tộc đa số là dân  

8


tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số cả nước, theo điều tra dân số quốc  
gia".
Tuy nhiên, tổng hợp những thuộc tính được ghi nhận từ  nội dung  
các văn bản pháp luật có liên quan đến dân tộc thiểu số, có thể  hiểu khái  
niệm "người dân tộc thiểu số " ở Việt Nam như sau: 
Người dân tộc thiểu số là người thuộc dân tộc có số  dân ít hơn với  
dân tộc đa số trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có những đặc điểm riêng  
về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán. 
2.1.2.2. Đặc điểm của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Thứ  nhất, về  đặc điểm cư  trú của đồng bào dân tộc thiểu số, Việt 
Nam là cộng đồng các dân tộc sống xen kẽ với nhau (cả dân tộc đa số  là  
người Kinh và các dân tộc thiểu số  khác) mà không cư  trú thành những  
khu vực riêng biệt như các dân tộc thiểu số  ở một số nước trên thế giới  ­ 
đây là đặc trưng duy nhất chỉ có ở các dân tộc Việt Nam
Thứ  hai, về  đoàn kết dân tộc, cộng đồng các dân tộc Việt Nam có 
truyền thống đoàn kết, gắn bó, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Không có hiện 
tượng đồng hóa, xâm chiếm lãnh thổ  của dân tộc này với dân tộc khác. Vì  
vậy, không xuất hiện sự mâu thuẫn đối kháng giữa dân tộc thiểu số với dân 
tộc đa số. Đây là đặc điểm đặc trưng nhất của các dân tộc thiểu số  ở Việt  

Từ sự phân tích lý giải trên, có thể hiểu: 
Thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa  đối với người  
dân tộc thiểu số là tổng thể các hoạt động có mục đích, có chủ định của các  
cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các cá nhân người dân tộc thiểu số  
để đưa các quy phạm pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa  đi vào  
cuộc sống của người dân nơi đây.
2.1.3.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về  quyền kinh tế, xã hội  
và văn hoá đối với người dân tộc thiểu số
Thứ  nhất, THPL về  quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là sự  tiếp nối  
xây dựng pháp luật về quyền, bao gồm toàn bộ các hoạt động nhằm đưa các 
quy phạm pháp luật về  quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đi vào cuộc sống 
của bà con dân tộc thiểu số.
          Thứ hai, chủ thể thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn 
hóa đối với người dân tộc thiểu số bao gồm nhiều loại chủ  thể, đó là các 
cơ quan nhà nước; các cấp ủy Đảng; chính quyền các cấp, công chức, viên 
chức nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; tổ 
chức cộng đồng của đồng bào, các cá nhân và hộ  gia đình người dân tộc 
thiểu số. Trong đó: 
Chủ thể có nghĩa vụ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện pháp luật về quyền 
kinh tế, xã hội và văn hóa  là đảng bộ  các cấp từ cấp tỉnh xuống huyện và 
xã; các cấp chính quyền từ trung ương xuống địa phương. 
Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn 
hóa là những cơ quan, tổ chức, cá nhân có chức năng nhiệm vụ  phải thực 
hiện, tổ  chức  THPLvề  quyền kinh tế, xã hội và văn hóa   trên địa bàn mà 
mình phụ trách và bảo đảm đúng đối tượng được thụ hưởng quyền.
Chủ thể hưởng quyền chính là người dân tộc thiểu số. Trong trường 
hợp này người  dân tộc thiểu số  vừa là chủ  thể  quyền, vừa   là  chủ  thể 
thực hiện pháp luật, hơn ai hết chính người dân tộc thiểu số là chủ  thể 
trực tiếp tham gia thể thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn 
hoá

Thứ  năm, thực hiện pháp luật về  quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 
đối với người dân tộc thiểu số  phát huy các giá trị đạo đức, bản sắc văn 
hóa truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam.
2.2. NỘI DUNG, YÊU CẦU VÀ CÁC YẾU TỐ  BẢO ĐẢM THỰC HIỆN 
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KINH TẾ, XàHỘI VÀ VĂN HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI 
DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.2.1. Nội dung thực hiện pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và 
văn hóa đối với người dân tộc thiểu số
Một là, Nhà nước với tư cách là chủ  thể  nghĩa vụ, chịu trách nhiệm 
bảo đảm thực thi pháp luật về  quyền  kinh tế, xã hội và văn hóa đối với 
người dân tộc thiểu số  thông qua các cơ  quan nhà nước, các công chức,  
viên chức nhà nước triển khai tổ  chức thực hiện để  đưa chính sách và  
pháp luật vào cuộc sống của bà con dân tộc thiểu số

11


Hai là,  Nâng cao nhận thức pháp luật về  quyền   kinh tế, xã hội và 
văn hóa  cho các chủ  thể  quyền, trong trường hợp này, chủ  thể  quyền 
chính là bản thân đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện các quyền năng của  
mình về kinh tế, xã hội và văn hóa.
Ba là, Các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước hay những người  
có thẩm quyền tổ  chức thực hiện các hoạt động áp dụng pháp luật về 
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu số cần phải  
thiết lập những nguyên tắc cơ  bản của quá trình giải quyết khiếu nại và  
tố  cáo trong quá trình thực hiện   pháp luật về  phát triển kinh tế, xã hội  
nếu:
­ Những quyền và lợi ích cơ  bản của người dân tộc thiểu số  bị   ảnh  
hưởng;

2.3. TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC  
VỀ  THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ  QUYỀN KINH TẾ, XàHỘI  VÀ VĂN HOÁ 
ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

2.3.1. Pháp luật quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và 
quyền của người dân tộc thiểu số.
2.3.1.1.  Nội dung pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá 
­ Nội dung  pháp luật về  quyền  kinh tế  như  quyền  lao động, việc 
làm quyền có   tiêu chuẩn sống thích đáng
­ Nội dung pháp luật về  quyền xã hội, như  quyền an sinh xã hội,  
chăm sóc y tế
­ Nội dung pháp luật về  quyền văn hóa bao gồm giáo dục tiểu học  
là phổ cập và miễn phí với mọi người; Bằng mọi biện pháp thích hợp.
Mỗi quốc gia cần bảo đảm    các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 
dưới mọi  hình thức và  ở  tất cả  các cấp phải thể  hiện những nét đặc 
trưng, gắn kết bao gồm: 
­ Tính sẵn có: thể hiện ở những điều kiện cơ sở hạ tầng thiết yếu 
­ Có thể  tiếp cận: Thể  hiện  ở  việc các cơ  sở  và chương trình bảo 
đảm tiếp cận bình đẳng của tất cả mọi người, 
­ Có thể chấp nhận được: tức là phù hợp về văn hoá các dân tộc và 
có chất lượng tốt 
­ Có thể thích ứng: Thể hiện ở nhà cung cấp dịch vụ phải linh hoạt 
để  có thể  thích  ứng với nhu cầu liên tục thay đổi của xã hội và cộng  
đồng.
2.3.1.2. Quyền của người dân tộc thiểu số  trong pháp luật quốc  
tế
Thứ nhất: Điều 27 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính 
trị  đã xác lập một quyền của riêng các nhóm thiểu số, bao g ồm thiểu số 
về dân tộc (quyền của nhóm).
Thứ hai: Việc bảo đảm các quyền của người thiểu số nêu ở  Điều 

cả  các biện pháp đặc biệt tạm thời để  thực thi các quyền kinh tế, xã hội  
và văn hóa đối với người DTTS một cách hiệu quả. 
Kinh nghiệm của các nước có ý nghĩa với Việt Nam bao gồm:
Một là, nhà nước luôn xác định trách nhiệm hàng đầu và chính yếu  
trong việc đầu tư, phát triển kinh tế ­ xã hội vùng dân tộc thiểu số, nhất 
là  ở  các tỉnh biên giới, miền núi.  Nhà nước phải đặc biệt quan tâm phát 
triển kinh tế ­ xã hội để  giải quyết vấn đề dân tộc và bất bình đẳng giữa  
các dân tộc gắn với bảo đảm an ninh biên giới và ổn định chính trị.
Hai là, nhà nước ban hành các chính sách, pháp luật nhằm thúc đẩy sự 
phát triển kinh tế ­ xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số  đều tiến hành các 
chương trình đầu tư mang tính đồng bộ, dài hạn để giải quyết một cách cơ 
bản điều kiện cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là giao thông, năng lượng, các 
công trình thủy lợi, gắn sản phẩm nông nghiệp với thị  trường hàng hóa, 
cũng như đồng bộ  với chính sách phát triển, y tế  giáo dục, và bảo đảm an 
sinh xã hội.
Ba là, nhà nước phải xác định hướng  ưu tiên trong việc đầu tư  vào 
thực hiện các chương trình, dự  án trọng điểm tập trung vào ba lĩnh vực  
quan trọng đối với người dân tộc thiểu số  và vùng dân tộc thiểu số  đó là: 
Lĩnh vực phát triển kinh tế; lĩnh vực giáo dục và đào tạo cán bộ, có thể 
xuất bản giáo khoa song ngữ tiếng Việt và tiếng dân tộc (đối với những 

14


dân tộc có chữ  viết riêng) cũng như  có chiến lược đào tạo cao học riêng  
cho cán bộ  người dân tộc thiểu số. Đây là những vấn đề  cốt lõi liên quan  
trực tiếp đến việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
Qua việc tham chiếu thực hiện pháp luật về  quyền  ở  một số  nước  
trong khu vực, chúng ta nhận thấy chính sách, pháp luật của mỗi quốc gia 
cũng có những  ưu điểm và cả  những hạn chế, nhưng đây là bài học kinh 

các tỉnh miền  núi phía  Bắc  rất  cao(chiếm  trên  50% trong  tỷ  lệ  nghèo  

15


chung cả  nước). Tây Bắc có 958 xã ĐBKK  thuộc Chương trình 135 giai 
đoạn II, chiếm 58,3% tổng số xã ĐBKK của cả  nước . Cơ  sở  hạ tầng kỹ 
thuật còn yếu kém và chịu tác động  tiêu cực của quá trình phát triển công 
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đặc điểm văn hóa, xã hội: Mật độ  dân số  thấp 60 ­ 90 người/km2. 
Dân tộc thiểu số có 5.949.436 người, chiếm 61% dân số  vùng và 53% dân 
tộc thiểu số  cả nước; nhiều tỉnh người  dân tộc thiểu số  chiếm tỷ lệ cao  
như; Cao Bằng 94,1%; Bắc kạn 85%; Đây là vùng cư  trú  sinh sống của 
hơn 30  Dân tộc thiểu số  trong 54 dân tộc anh em, tập trung chủ  yếu  ở 
vùng đồi núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới. Các dân tộc thiểu số  nơi đây 
đều có ngôn ngữ riêng một số ít dân tộc thiểu số có chữ viết riêng,  sự tồn 
tại lâu đời của nhiều phong tục tập quán lạc hậu, bất lợi cho sức khoẻ và  
sự  tiến bộ  xã hội. Chất lượng chăm sóc y tế, giáo dục và đào tạo nguồn 
nhân lực còn hạn chế.  Đặc thù về  an ninh biên giới,  hoạt động kinh tế 
vùng biên diễn ra hết sức phức tạp như  tình trạng buôn lậu, ma túy, lao  
động qua biên giới ở vùng biên..v.v.
 Qua phân tích các yếu tố  đặc thù về điều kiện tự nhiên và kinh tế ­ 
xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, nơi cư trú của phần lớn 
đồng bào các DTTS nước ta, chúng ta nhận thấy các vấn đề nêu trên thực 
sự  là những khó khăn, thách thức đã và đang  ảnh hưởng không nhỏ  đến 
việc thực hiện pháp luật về quyền con người trong đó có các quyền kinh 
tế, xã hội và văn hóa đối với người dân  nơi đây.
3.2.THỰC   TRẠNG   PHÁP   LUẬT   VÀ   THỰC   HIỆN   PHÁP   LUẬT   VỀ 
QUYỀN KINH TẾ, XàHỘI VÀ VĂN HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU 
SỐ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

đặc biệt là đồng bào sinh sống ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành những chính sách đặc thù được thể 
hiện bằng hai quyết định của Thủ tướng Chính phủ là hai chương trình lớn 
tác động đến giảm nghèo  miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó 
khăn, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đó là Chương trình 
phát triển kinh tế, xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và 
miền núi  (QĐ 135/1998/QĐ­TTg, gọi tắt là Chương trình 135 và Chương  
trình 134).
­ Một số văn bản quy phạm pháp luật về quyền kinh tế 
­ Một số văn bản quy phạm pháp luật về quyền xã hội
­ Một số  văn bản quy phạm pháp luật về  quyền văn hóa như  giáo 
dục và đào tạo, dạy nghề, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số.
3.2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về  quyền kinh tế, xã hội 
và văn hoá đối với người dân tộc thiểu số   ở  các tỉnh miền núi phía  
Bắc
3.2.2.1. Những thành tựu, kết quả đạt được trong thực hiện pháp  
luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá đối với người dân tộc thiểu  
số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Thực hiện pháp luật nói chung và THPL về quyền kinh tế, xã hội và 
văn hóa  nói riêng với người DTTS  ở  các tỉnh miền núi phía Bắc đều có 
bốn hình thức cơ bản là: Tuân thủ  pháp luật; thi hành pháp luật; sử  dụng  
pháp luật và áp dụng pháp luật. Nhưng trong bốn hình thức  thực hiện 
pháp luật nêu trên, tuân thủ pháp luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 
đối với người dân tộc thiểu số  là các chủ  thể  pháp luật tự  kiềm chế  để 
không thực hiện hành vi, hoạt động mà pháp luật về  quyền   kinh tế, xã 

17


hội và văn hóa nghiêm cấm, không cho phép thực hiện. Qua số  liệu điều 

viên, thể  hiện trong Báo cáo quốc gia phổ quát định kỳ về việc thực hiện 
quyền con người  ở  Việt Nam:  "Chính phủ  Việt Nam cam kết  và xác định  
việc hoàn thiện khuôn khổ  pháp luật về quyền con người, quyền công dân  
là một trong những  ưu tiên quốc gia trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền  

18


con người trong thời gian tới " thể  hiện qua đã nội luật hóa các quy phạm  
điều ước vào hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia.
­ Hệ  thống pháp luật nói chung và pháp luật về  quyền kinh tế, xã  
hội và văn hóa nói riêng, cũng như những chính sách đặc thù về phát triển  
kinh tế ­ xã hội miền núi đã đạt được những tiến bộ  nhất định tạo ra cơ 
sở cho việc thực hiện và thúc đẩy các quyền kinh tế, xã hội đối với người  
dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào dân tộc  ở  các tỉnh miền núi phía 
Bắc nước ta.
­  Kinh tế  Việt Nam  trong những năm gần đây có bước phát triển  
mạnh đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát 
triển có mức thu nhập trung bình (thấp) từ  năm 2010 với mức thu nhập  
trung bình đầu người là 1.068 USD, năm 2013 là 1.960 USD Việt Nam hội  
nhập   sâu   rộng   vào   nền   kinh   tế   thế   giới   và   gia   nhập   nhiều   định   chế 
thương mại quốc tế vì vậy Việt Nam có nguồn lực để thúc đẩy thực hiện 
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân nói chung và đồng bào 
dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng.
Nguyên nhân chủ quan:
Thứ  nhất,  Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định đường lối  
đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc.
Thứ  hai,  Sự  lãnh đạo, chỉ  đạo quyết liệt, sâu sát   trong thực hiện 
pháp luật về quyền của các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp.
Thứ ba, Sự tham gia tâm huyết của đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ 

quyền lao động việc làm của người dân tộc thiểu số  khu vực miền núi phía  
Bắc còn nhiều hạn chế. Chương trình 134 về  cấp đất ở, nhà ở, nước sinh  
hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, là một chủ  trương đúng, nhưng 
khi triển khai áp dụng lại không phù hợp với điều kiện của các tỉnh, hiệu quả 
tác động chưa cao.
3.2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế  trong thực hiện pháp  
luật về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đối với người dân tộc thiểu  
số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
  Nguyên nhân khách quan:
­  Vị trí địa lý tự nhiên ở vùng núi cao độ  dốc lớn, địa hình hiểm trở,  
chia cắt phức tạp
­ Đặc điểm cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi 
phía Bắc sống phân tán, trên địa hình rộng lớn, đi lại khó khăn
­ Do yếu tố  lịch sử để  lại mà tình hình kinh tế ­ xã hội  ở  vùng dân 
tộc các tỉnh miền núi phía Bắc vẫn là nơi kém phát triển nhất của cả 
nước.
             Nguyên nhân chủ quan:
Một là, chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật về quyền kinh  
tế, xã hội và văn hóa được ban hành vẫn còn không ít những điểm bất cập 
giữa các quy định và thực tiễn đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số  ở 
các tỉnh miền núi phía Bắc.
Hai là, quản lý, chỉ đạo, tổ  chức của một số  các cán bộ, công chức 
ở các cấp  trong thực hiện pháp luật về quyền  kinh tế, xã hội và văn hóa 

20


đối với người dân tộc thiểu số còn hạn chế, bất cập và bộc lộ  nhiều yếu 
kém.
Ba là,  nhận thức của chủ  thể  thụ  hưởng quyền   là người dân tộc 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status