ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HỒ THỊ HOÀNG MAI
ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC THU ĐƯỢC
TỪ TÀI CHÍNH ĐẤT ĐAI TRONG GIAI ĐOẠN
2016 - 2018 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HỒ THỊ HOÀNG MAI
ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC THU ĐƯỢC
TỪ TÀI CHÍNH ĐẤT ĐAI TRONG GIAI ĐOẠN
2016 - 2018 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn,tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ, động
viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc PGS.TS. Đỗ Thị Lan đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công
sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện
đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng đào tạo,
Khoa Quản lý tài nguyên - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện
Bình Chánh, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Chánh,Văn phòng
đăng ký đất đai chi nhánh huyện Bình Chánh, Chi cục thuế huyện Bình Chánh đã
giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi
hoàn thành luận văn./.
Thái Nguyên,ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Hồ Thị Hoàng Mai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
iv
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU .............................................................................................. 24
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................... 24
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu.................................................................... 24
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 24
2.2. Nội dung nghiên cứu ........................................................................ 24
2.3. Phương pháp nghiên cứu .................................................................. 24
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu cụ thể .................................................... 24
2.3.2. Phương pháp xử lý số liệu............................................................. 26
2.3.3. Phương pháp phân tích .................................................................. 26
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................ 27
3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bình Chánh ... 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên ................................... 27
3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội .............................................. 35
3.1.3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế-xã hội và áp lực đối
với đất đai ................................................................................................ 40
3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Bình
Chánh ...................................................................................................... 42
3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 ................................................. 42
3.2.2. Đánh giá hiệu quả KT, XH, môi trường của việc sử dụng đất ..... 44
3.3. Đánh giá kết quả các ngồn thu tài chính về đất đai trên địa bàn huyện
Bình Chánh giai đoạn 2016-2018 ........................................................... 46
3.3.1. Tiền sử dụng đất ............................................................................ 46
3.3.2. Tiền thuê đất .................................................................................. 49
3.3.3. Thuế sử dụng đất ........................................................................... 51
vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nghĩa tiếng Việt
BĐS
Bất động sản
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
HTX
Hợp tác xã
HTXSXNN
Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
KTTT
Kinh tế thị trường
KTXH
Kinh tế xã hội
Sản xuất kinh doanh
TP
Thành Phố
TSDĐ
Tiền sử dụng đất
TTĐ
Tiền thuê đất
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Kết quả thu thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyềnsử
dụng đất tại huyện Bình Chánh giai đoạn 2016 - 2018 .............. 55
Bảng 3.9.
Kết quả thu phí và lệ phí trong quản lý sử dụng đất đai tại huyện
Bình Chánh giai đoạn 2016 - 2018............................................. 60
Bảng 3.10.
Kết quả thu ngân sách từ đất đai tại huyện Bình Chánh giai đoạn
2011 - 2015 ................................................................................. 62
Bảng 3.11.
Đánh giá của người dân về thủ tục hành chính khi thực hiện giao
dịch tài chính về đất đai .............................................................. 64
Bảng 3.12.
Đánh giá của người dân về khoản tiền nộp vào ngân sách khi thực
hiện giao dịch tài chính về đất đai .............................................. 65
Bảng 3.13.
Đánh giá của người dân về khó khăn, vướng mắc về thủ tục hành
chính về tài chính đất đai ............................................................ 67
Bảng 3.14.
tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của đất nước ta hơn một thập kỷ qua. Tuy
nhiên, sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội những năm gần đây, với
yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật đất đai theo Luật 2003 đã bộc lộ
một số hạn chế lớn như: chưa xác định rõ các hình thức thực hiện lợi ích kinh
tế của sở hữu toàn dân về đất đai trong nền kinh tế thị trường, từ đó gây ra khó
khăn cho việc Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo Luật; việc quản lý, sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
2
dụng đất đai vẫn còn mang nặng tính bao cấp; sự thiếu hụt các chế định cần
thiết về giá đất, về điều tiết địa tô chênh lệch, về điều tiết lợi nhuận qua chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, về bồi thường thu hồi đất, về đấu thầu, đấu giá
quyền sử dụng đất;... dẫn tới tình trạng sử dụng đất đai lãng phí, không hiệu
quả; sự yếu kém trong quản lý thị trường bất động sản; cơ chế xin cho, tiêu cực
trong quản lý đất đai không những gây thất thu cho ngân sách nhà nước mà còn
ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư.
Để khắc phục những thiếu sót trên, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX xác định: "Tiếp tục đổi mới chính sách,
pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước". Ngày 29/11/2013, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa
XIII đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2014. Luật Đất đai năm 2013 là cơ sở pháp lý mới để giải quyết các quan
hệ về đất đai; vấn đề nguồn lực tài chính từ đất đai trong Luật đã được đề cập
rõ hơn. Tuy vậy, đến nay việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai với tư
cách là hình thức, cơ chế thực hiện lợi ích kinh tế của sở hữu toàn dân về đất
đai, đồng thời đóng vai trò là công cụ điều tiết quản lý đất đai trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN vẫn chưa thực sự được làm sáng tỏ, đòi hỏi
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận về đánh giá nguồn lực thu được từ tài chính đất đai
1.1.1. Bản chất và đặc điểm của nguồn lực tài chính từ đất đai
Đất đai là tài nguyên vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trong
nền KTTT, vai trò đặc biệt quan trọng của đất đai không những thể hiện với tư
cách là nguồn lực về hiện vật, mà còn trở thành nguồn lực tài chính to lớn có
thể khai thác để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế của từng chủ thể SXKD
có sử dụng đất đai và của toàn xã hội.
1.1.1.1. Khái niệm nguồn lực tài chính từ đất đai
* Nguồn lực là hệ thống những yếu tố tự nhiên, xã hội có ích đối với sự
phát triển của xã hội loài người, thông qua việc khai thác, sử dụng chúng mà
con người có thể tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình.
Tùy theo trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất và sự phân công lao
động xã hội, các nguồn lực được khai thác nhằm phục vụ cho nhu cầu của con
người rất khác nhau. Do đó, vị trí, vai trò của các nguồn lực là rất khác nhau.
Thậm chí, đối với các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau, các nguồn lực
cũng phát huy tác dụng không giống nhau.
Nguồn lực phát triển kinh tế có thể phân theo ngành, theo lĩnh vực,...
Theo nhận thức phổ biến hiện nay, các nguồn lực bao gồm: nguồn lực con
người, nguồn lực đất đai, nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học công nghệ,...
hay cách hiểu tương tự là vốn, lao động, đất đai, tri thức,...
Trong hệ thống các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội kể trên, nguồn
Tuy nhiên, biểu hiện rõ nhất của mặt phân phối và thực hiện giá trị từ các nguồn
lực là trong nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao hay KTTT. Vì KTTT
mới có khả năng biến mọi nguồn lực trở thành hàng hóa và biến các hàng hóa
đó trở thành những biểu hiện của giá trị, mặc dù có thể chúng không phải do
lao động làm ra.
Với ý nghĩa như vậy, nguồn lực tài chính từ đất đai chỉ có thể được hình
thành và phát triển trong nền KTTT, khi mà các quan hệ đất đai được thị trường
hóa. Tức là chúng có thể được mua bán và trao đổi trên thị trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
6
1.1.1.2. Bản chất của nguồn lực tài chính từ đất đai
Về mặt nguyên lý, những gì không phải là sản phẩm của sự hao phí lao
động trừu tượng của con người tạo ra thì chúng không có giá trị. Tuy nhiên,
chúng lại có thể là phương tiện để thực hiện lợi ích của các chủ thể sở hữu
chúng. Với tư cách là phương tiện để thực hiện lợi ích trong nền KTTT thì
chúng có vai trò trong việc hình thành các quỹ tiền tệ tập trung và vì thế chúng
góp phần hình thành các nguồn lực tài chính. Đất đai là một trong những yếu
tố có đặc trưng như vậy.
Bản thân đất đai không là sản phẩm của lao động, vì thế theo cách hiểu
thông thường chúng không có giá trị; tuy nhiên, đất đai lại là nguồn lực mang
tư cách là điều kiện quan trọng tham gia vào các quá trình tạo ra của cải cho xã
hội. Đất đai không là nguồn gốc tạo ra giá trị nhưng đất đai là điều kiện tạo ra
của cải; khi khoác áo là điều kiện cho quá trình tạo ra của cải thì người ta có
thể thực hiện được lợi ích từ chúng miễn là phải làm thế nào để sở hữu chúng
mà thôi. Từ việc sở hữu đất đai, các chủ thể có thể đem đất đai ra để trao đổi,
chuyển nhượng quyền sử dụng như những yếu tố sản xuất khác; thông qua sự
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nguồn lực tài
chính từ đất đai phản ánh tính chất quá độ của quan hệ sản xuất của nước ta.
Quan hệ đất đai tập trung nhất trong quan hệ sở hữu và những quan hệ
tổ chức quản lý, phân phối phát sinh từ quyền sở hữu đó.
Tùy thuộc vào từng nước, đất đai có thể thuộc sở hữu riêng của từng
thành viên hoặc từng nhóm thành viên và có thể là sở hữu chung của tất cả các
thành viên trong cộng đồng quốc gia hoặc hỗn hợp cả hai loại hình sở hữu trên.
Ở hầu hết các nước tư bản, đất đai thuộc sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước. Ở
Việt Nam đất đai thuộc sở hữu toàn dân.
1.1.1.3. Đặc điểm của nguồn lực tài chính từ đất đai
Không giống với các nguồn lực tài chính khác, nguồn lực tài chính từ đất
đai có những đặc điểm riêng.
Thứ nhất, nguồn lực tài chính từ đất đai luôn gắn với quan hệ sở hữu đất
đai.
Như trên đã chỉ ra, muốn đất đai đem lại lợi ích dưới hình thái tiền tệ thì
trước hết các chủ thể phải nắm quyền sở hữu đất đai. Việc sở hữu đó sẽ là tiền
để sinh ra các quyền năng khác, giúp cho chủ thể sở hữu thực hiện được lợi ích
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
8
của mình. Quyền sở hữu là điều kiện cần để thực hiện được lợi ích hay khai
thác nguồn lực tài chính từ đất đai.
Khi quan hệ sở hữu được xác lập đối với đối tượng là đất đai, các chủ
thể sở hữu mới có cơ sở để thực hiện lợi ích của mình, thông thường quan hệ
sở hữu đó phải được thể chế hóa thành chế độ sở hữu về đất đai.
Cơ sở thực hiện các nguồn lực tài chính từ đất đai là các hình thái địa tô.
Trong chủ nghĩa tư bản, địa tô là hình thức thực hiện lợi ích kinh tế của chế độ
hình thức địa tô khác như: địa tô hầm mỏ, địa tô đất xây dựng,.. Cơ sở để các
chủ thể thực hiện được địa tô là quyền sở hữu về đất đai. Trong chủ nghĩa tư
bản, độc quyền sở hữu tư nhân về đất đai là điều kiện để chủ thể sở hữu thu
được địa tô tuyệt đối.
Xác định giá cả ruộng đất thông thường được căn cứ vào mức địa tô và
tỷ suất lợi tức nhận gửi của ngân hàng, mối quan hệ đó được thể hiện qua công
thức sau đây:
Giá cả ruộng đất
=
Mức địa tô
Tỷ suất lợi tức nhận gửi của ngân hàng
Trong đó, giá cả ruộng đất được xem như là giá bán đất (trong các nước
tư bản), còn mức địa tô tương đương với giá thuê đất.
Tùy theo đặc điểm chế độ sở hữu khác nhau, điều kiện kinh tế - xã hội
khác nhau mà có các hình thức khai thác các nguồn lực tài chính khác nhau.
Đối với Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện, cho
nên việc thực hiện khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai trên thực tế là quan
hệ giữa một bên là Nhà nước còn lại là các chủ thể khác trong xã hội.
Cơ sở lý luận của việc thực hiện các hình thức khai thác nguồn lực tài
chính từ đất đai là chủ sở hữu phải thực hiện được lợi ích của mình từ đất
đai; thông qua quan hệ đất đai mà củng cố địa vị thống trị của giai cấp nắm
chính quyền.
Ở nước ta, từ Hiến pháp năm 1980 (Điều 19, Điều 20) và đặc biệt là đến
Hiến pháp năm 1992, tại Điều 17 đã khẳng định rõ về sở hữu đất đai ở nước ta:
"Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi
vùng biển thềm lục địa và vùng trời... đều thuộc sở hữu toàn dân". Từ đó, Nhà
nước thống nhất việc quản lý quy hoạch và sử dụng đất đai trên phạm vi cả
đoạn hội nhập quốc tế là quan trọng nhất. Bên cạnh đó, với quĩ đất chưa sử
dụng là nguồn tiềm năng đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân; đất chưa sử dụng không chỉ có ở vùng núi, vùng cao, biên giới, hải
đảo, vùng sâu vùng xa,... mà còn nằm ngay ở các đô thị, vùng đồng bằng là
những nơi có thể khai thác với hiệu quả cao - nguồn tiềm năng này sẵn sàng
biến thành hiện thực.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
11
Trong lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Mác và
Ăng ghen thấy rằng, cần phải bỏ hình thức sở hữu tư nhân về đất đai, biến nó
thành sở hữu toàn dân bằng cách thực hiện quốc hữu hóa đất đai. Mác nhận xét
đại ý như sau: sự phát triển kinh tế - xã hội, mức độ phát triển và tập trung dân
cư, sự xuất hiện máy móc nông nghiệp và phát minh sáng chế khác làm cho
việc quốc hữu hóa đất đai trở thành quy luật khách quan tất yếu. Tất cả mọi lý
luận về sở hữu đều bất lực trước biện pháp tất yếu này.
Phát triển học thuyết của Mác và Ăngghen về quốc hữu hóa đất đai, V.I.
Lênin đã xây dựng học thuyết "về vô sản quốc hữu hóa đất đai". Người viết: "Quốc
hữu hóa đất đai là chuyển tất cả đất đai vào sở hữu nhà nước. Quyền sở hữu đất
đai của Nhà nước được thể hiện bằng quyền thu địa tô, quyền quy định các luật
lệ về việc chiếm hữu, phân phối, quản lý và sử dụng đất đai" .
Mục đích lý luận của các nhà kinh điển nhằm giúp cho giai cấp vô sản
thực hiện được nguồn lực tài chính từ đất đai nhờ vào cơ sở chuyển hóa việc
thực hiện lợi ích từ đất bởi số ít thành của toàn thể nhân dân lao động. Từ đó
mà làm tăng tính hiệu quả của việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai.
Việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai thực chất là sử dụng quyền sở hữu
đất đai một cách hiệu quả.
- Thuế phi nông nghiệp: Là loại thuế thu ổn định hàng năm, thu trên tổng
giá trị đất nhân với thuế suất.
1.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc khai thác nguồn lực tài chính từ
đất đai
Để có thể khai thác tốt nguồn lực tài chính từ đất đai, ngoài những nỗ lực
chủ quan của chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng ra còn có ảnh hưởng rất
quan trọng của các nhân tố khách quan.
Những nhân tố khách quan đó là:
- Quy mô đất đai;
- Đặc điểm và cấu tạo tự nhiên, thổ nhưỡng, môi trường đất đai;
- Vị trí không gian địa lý lãnh thổ;
- Trình độ phát triển của nền kinh tế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
13
1.2. Vai trò nguồn lực tài chính từ đất đai trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN
- Nguồn lực tài chính từ đất đai phản ánh kết quả của việc thực hiện lợi
ích kinh tế của Nhà nước
- Nguồn lực tài chính từ đất đai góp phần làm tăng quy mô NSNN từ đó
tham gia tích cực vào việc đảm bảo nguồn tài chính cho việc Nhà nước thực
hiện vai trò kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN
- Nguồn lực tài chính từ đất đai góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sử
dụng đất đai
- Nguồn lực tài chính từ đất đai sẽ góp phần vào việc điều tiết thị trường
bất động sản (BĐS)
- Quyền sử dụng đất có thể giúp các chủ thể, nhất là các doanh nghiệp
doanh nghiệp 60% số tiền thu được.
- Nhà nước giao đất trong một thời hạn nhất định có thu tiền sử dụng đất
theo phương thức thỏa thuận giá, đấu thầu, đấu giá QSDĐ; việc này do chính
quyền nhân dân cấp tỉnh quy định. Các đối tượng được giao đất theo hình thức
này có quyền bán, cho thuê lại, thế chấp vay vốn, chuyển đổi, tặng cho và góp
vốn liên doanh bằng giá trị QSDĐ trong thời hạn giao đất, nhưng phải đầu tư ít
nhất 25% tổng vốn đầu tư của dự án trên đất và phải nộp thuế từ 30 - 60% phần
thu nhập do bán QSDĐ. (Bộ Tài nguyên và Môi trường,2012).
Đất do Nhà nước giao cho tập thể quản lý:
- Nhà nước cấp đất không thu tiền sử dụng đất đối với hộ nông dân đã có
đất ở từ trước và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở thuộc sở hữu tập thể.
Ruộng đất thuộc sở hữu tập thể thì được giao khoán để canh tác cho hộ nông
dân trong 30 năm.
- Nhà nước giao QSDĐ có thu tiền trong trường hợp đối tượng thuê đất
là hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài tập thể, các doanh nghiệp với thời hạn
giao QSDĐ là 30 năm, kể cả sử dụng đất vào mục đích phi nông nghiệp. Giá
giao đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp khác
nhau và do tập thể nông dân quyết định. Trong trường hợp chuyển đổi từ đất
nông nghiệp sang phi nông nghiệp thì phải được chính quyền cấp huyện chấp
thuận, người được giao đất thực hiện bồi thường đất nông nghiệp, nộp tiền sử
dụng đất và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thuộc sở hữu tập thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
15
Đất nhận khoán của hộ nông dân được quyền chuyển nhượng, cho thuê,
thừa kế, góp vốn bằng giá trị QSDĐ trong thời hạn được giao khoán. Đối với
đất nông nghiệp của tập thể cũng được chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp theo
16
+ Giai đoạn 2: Phát triển thị trường BĐS, trong đó chủ yếu là đất đai trở
thành một biện pháp chính để tạo vốn cho đầu tư phát triển, khôi phục và phát
triển kinh tế (một số địa phương như Thượng Hải, Thẩm Quyến phát triển mạnh
một phần cũng là nhờ việc sử dụng đất có hiệu quả).
+ Giai đoạn 3: xây dựng hệ thống KTTT XHCN, trong đó thị trường đất
đai là một bộ phận cấu thành trong hệ thống KTTT XHCN.
- Phân công, phân cấp quản lý đất đai: đất đai do cơ quan quản lý đất đai
nhà nước quản lý tại hai cấp Trung ương và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương. Nội dung quản lý chủ yếu là xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đai, xét
duyệt dự án chuyển từ đất nông nghiệp thành đất xây dựng, thu hồi đất, thanh
tra và giám sát việc quản lý, sử dụng đất đai. Cấp huyện chủ yếu thực hiện việc
đăng ký, chuyển nhượng, xử lý vi phạm đất đai. Ngoài ra, chính quyền các cấp
cũng tích cực tạo điều kiện để phát triển thị trường đất đai như thành lập và cấp
phép thành lập các tổ chức định giá, môi giới, tư vấn, giao dịch bất động sản
(trong thị trường đất đai thì cũng quy định rõ là đất nông nghiệp không được
tham gia vào thị trường).
+ Quản lý nghiêm việc sử dụng đất, đặc biệt là quản lý chặt chẽ việc
chuyển từ đất nông nghiệp thành đất xây dựng; khống chế diện tích sử dụng
đối với các loại đất. Nhà nước được quyền can thiệp vào thị trường đất đai bằng
cả hai biện pháp kinh tế và hành chính (trên thị trường Nhà nước có những đặc
quyền riêng mà các thể nhân khác không có).
+ Việc cung cấp đất xây dựng đô thị theo quy hoạch thống nhất, dưới sự
giám sát chặt chẽ của chính quyền.
+ Thực hiện giao dịch công khai về QSDĐ. Chuyển nhượng QSDĐ cho
các mục đích kinh doanh, du lịch, vui chơi giải trí,... phải thực hiện bằng hình
thức đấu giá hoặc treo biển nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng; với việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất do hai bên tự thỏa thuận, thì Trung Quốc
cũng yêu cầu người bán phải công khai với xã hội giá bán của mình; chính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN