ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ THƠM
ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC THU ĐƯỢC TỪ TÀI CHÍNH
ĐẤT ĐAI TRONG NỀN KINH TẾ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2007 – 2011
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học : PGS. TS. Đỗ Thị Lan
Thái Nguyên, năm 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự
giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu trình
bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc tham khảo.
Tác giả
Vũ Thị Thơm
ii
đai ....................................................................................................................... 3
1.1.1. Định nghĩa ............................................................................................. 3
1.1.2. Bản chất của nguồn lực tài chính từ đất đai .......................................... 4
1.1.3. Đặc điểm của nguồn lực tài chính từ đất đai......................................... 5
1.1.4. Các hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai ........................ 6
1.2. Vai trò của nguồn lực tài chính từ đất đai trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ........................................................................... 14
1.3. Cơ sở thực tiến .......................................................................................... 19
1.4. Bài học kinh nghiệm cho việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai
ở nước ta hiện nay ............................................................................................ 24
1.5. Những chính sách của nhà nước về khai thác nguồn lực tài chính từ
đất đai ở nước ta............................................................................................... 26
1.5.1. Giai đoạn trước Luật Đất đai năm 2003 ............................................. 26
1.5.2. Chính sách thu tiền sử dụng đất .......................................................... 27
1.5.3. Chính sách thu tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển ............................... 28
1.5.4. Chính sách tài chính về đất đai trong quá trình sử dụng đất ............... 29
1.5.5. Chính sách về đền bù, hỗ trợ và tái định cư ........................................ 31
1.5.6. Chính sách về giá đất .......................................................................... 32
1.5.7. Tình hình thực hiện chính sách về khai thác nguồn lực thu được từ
tài chính đất đai ở thành phố Thái Nguyên ................................................... 40
1.6. Các chính sách tài chính trong việc giao đất, chuyển mục đích sử dụng
đất và cho thuê đất ........................................................................................... 41
1.6.1. Chính sách thu tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất, cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất ........................................................................ 41
1.6.2. Chính sách thu tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất ..................... 43
1.6.3. Chính sách tài chính trong việc bán (chuyển nhượng) quyền sử
dụng đất ......................................................................................................... 45
iv
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................................................. 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 88
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐS
:
Bất động sản
KTTT
:
Kinh tế thị trường
NN
:
Nông nghiệp
NSNN
:
Ngân sách nhà nước
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Biểu thuế sử dụng đất nông nghiệp ...................................................... 29
Bảng 1.2: Biểu thuế lũy tiến từng phần ................................................................ 39
Bảng 1.3. Kết quả thu thuế nhà đất ....................................................................... 50
Bảng 3.1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của thành phố
Thái Nguyên năm 2011 ......................................................................... 58
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng đất qua các năm giai đoạn 2007 - 2011.................. 60
Bảng 3.3. Tình hình cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 2011 ............................ 62
Bảng 3.4:Tổng hợp tình hình sử dụng đất năm 2011............................................ 64
Bảng 3.5: Số thu NSNN từ đất đai ....................................................................... 65
Bảng 3.7. Tổng số tiền thu được từ thuê đất giai đoạn 2007-2011....................... 68
Bảng 3.8.Nguồn ngân sách thu được từ thuế đất giai đoạn 2007 -2011 ............... 69
Bảng 3.9. Nguồn ngân sách thu được từ phạt vi phạm hành chính đất
đai .......................................................................................................... 71
Bảng 3.10. Nguồn thu ngân sách từ phí và lệ phí ................................................. 71
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
bất cập trên dẫn đến tình trạng thắc mắc khiếu kiện của nhân dân trong việc chấp
hành chính sách pháp luật về đất đai và khó khăn cho các cấp chính quyền trong việc
thực thi các chính sách, pháp luật về đất đai tại địa phương. Tuy nhiên, sự phát triển
nhanh chóng về kinh tế - xã hội, với việc hội nhập kinh tế quốc tế , pháp luật đất đai
theo Luật năm 1993 đã bộc lộ một số hạn chế lớn như: chưa xác định rõ các hình thức
thực hiện lợi ích kinh tế của sở hữu toàn dân về đất đai trong nền kinh tế thị trường,
từ đó gây ra khó khăn cho việc Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo Luật; Việc
quản lý sử dụng đất đai vẫn còn mang tính chất bao cấp, thiếu hụt các chế định cần
thiết về giá đất, về điều tiết địa tô chênh lệch, về điều tiết lợi nhuận qua chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, về bồi thường thu hồi đất, về đấu thầu đấu giá QSD
đất....dẫn tới tình trạng sử dụng đất đai lãng phí không hiệu quả, sự yếu kém quản lý
thị trường bất động sản , cơ chế xin cho, tiêu cực trong quản lý đất đai không những
gây thất thu cho ngân sách nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư.
2
Để khắc phục những thiếu sót trên, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX xác định: "Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật
về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Ngày
26/11/2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI đã
thông qua Luật Đất đai năm 2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004. Luật
Đất đai năm 2003 là cơ sở pháp lý mới để giải quyết các quan hệ về đất đai; vấn đề
nguồn lực tài chính từ đất đai trong Luật đã được đề cập rõ hơn.
Tuy vậy, đến nay việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai với tư cách là
hình thức, cơ chế thực hiện lợi ích kinh tế của sở hữu toàn dân về đất đai, đồng thời đóng
vai trò là công cụ điều tiết quản lý đất đai trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa vẫn chưa thực sự được làm sáng tỏ, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu bổ
sung. Vì vậy: "Đánh giá nguồn lực thu được từ tài chính đất đai trong nền kinh tế
Thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2007 - 2011" được chọn làm đề tài nghiên cứu của
luận văn này.
xã hội, các nguồn lực được khai thác nhằm phục vụ cho nhu cầu của con người rất
khác nhau. Do đó, vị trí, vai trò của các nguồn lực là rất khác nhau. Thậm chí, đối
với các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau, các nguồn lực cũng phát huy tác
dụng không giống nhau.
Nguồn lực phát triển kinh tế có thể phân theo ngành, theo lĩnh vực,... Theo
nhận thức phổ biến hiện nay, các nguồn lực bao gồm: nguồn lực con người, nguồn
lực đất đai, nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học công nghệ,... hay cách hiểu
tương tự là vốn, lao động, đất đai, tri thức,...
Trong hệ thống các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội kể trên, nguồn lực đất
đai luôn có vị trí rất quan trọng. Vai trò đó cũng càng quan trọng hơn đối với các
quốc gia có trình độ phát triển thấp, đặc biệt đối với nền kinh tế còn mang nặng đặc
trưng nông nghiệp.
* Nguồn lực tài chính là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ được hình thành
trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ kinh tế xã hội trong phân phối nhằm đáp ứng các yêu cầu chi tiêu bằng tiền để thực hiện quá
trình tái sản xuất các mặt hoạt động của các chủ thể trong xã hội.
Như vậy, bản chất của nguồn lực tài chính là phạm trù phân phối; đó là sự phân
phối bằng giá trị chứ không phải bằng hiện vật và thông qua hiện vật.
Nguồn lực tài chính được biểu hiện rất khác nhau, tùy theo nguồn gốc hình
thành mà chủ thể có thể thực hiện để có được các quỹ tiền tệ. Thông qua các nguồn
lực tài chính mà những chủ thể trong xã hội có được hệ thống các quỹ tiền tệ tập
trung và không tập trung vận động độc lập với các chức năng cất trữ hay phương
tiện thanh toán. Nguồn lực tài chính là sự vận động của tiền tệ.
4
Với cách hiểu như vậy, để hình thành nguồn tài chính hay các quỹ tiền tệ vận
động tập trung, các chủ thể trong xã hội có thể khai thác từ nhiều nguồn lực khác
nhau trong đó có nguồn lực từ đất đai.
Nguồn lực tài chính từ đất đai là nguồn lực tài chính được hình thành từ nguồn
lực đất đai thông qua quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong một xã hội nhất định và
thực hiện được nguồn thu nhập dưới dạng hình thái tiền, các nguồn tiền tệ để hình
thành các quỹ tiền tệ đó là những nguồn lực tài chính từ đất đai.
Về bản chất, nguồn lực tài chính từ đất đai phản ánh quan hệ phân phối giá trị để
hình thành các quỹ tiền tệ thông qua quan hệ giữa các chủ thể về đất đai.
Đó là quan hệ phái sinh được hình thành trên cơ sở thực hiện lợi ích kinh tế từ
quyền sở hữu đất đai, mà việc thực hiện lợi ích từ quyền sở hữu đất như mỏc đó
phân tích thể hiện trước mắt thông qua các hình thức địa tô, nhưng với tư cách là
hình thái biểu hiện của quan hệ tài chính thì địa tô đó phải là địa tô dưới hình thái
tiền, không phải là tô hiện vật hay tô lao dịch.
Vì phản ánh mặt quan hệ phân phối nên nguồn lực tài chính mang tính lịch sử,
nghĩa là xét về mặt hình thức, cơ chế thực hiện lợi ích kinh tế từ quan hệ đất đai sẽ
do quan hệ sở hữu của chế độ xã hội đó quyết định. Trong mỗi chế độ xã hội với
kiến trúc thượng tầng khác nhau sẽ quy định chế độ sở hữu đặc trưng của xã hội đó.
Nếu đất đai thuộc quyền sở hữu của nhân dân và nhà nước của dân, do dân
đứng ra làm đại diện chủ sở hữu thì nguồn lực tài chính từ đất đai sẽ hình thành và
thực hiện trên cơ sở chế độ sở hữu tương ứng. Từ đó, quy định cách thức sử dụng
các quỹ tiền tệ tập trung hình thành từ nguồn lực đất đai, trái lại, nếu đất đai thuộc
về sở hữu tư nhân thì mục đích sử dụng nguồn lực tài chính từ đất đai chắc chắn
không phải phục vụ cho số đông mà là chỉ là một bộ phận trong xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nguồn lực tài chính từ
đất đai phản ánh tính chất quá độ của quan hệ sản xuất của nước ta.
Quan hệ đất đai tập trung nhất trong quan hệ sở hữu và những quan hệ tổ chức
quản lý, phân phối phát sinh từ quyền sở hữu đó.
Tùy thuộc vào từng nước, đất đai có thể thuộc sở hữu riêng của từng thành
viên hoặc từng nhóm thành viên và có thể là sở hữu chung của tất cả các thành viên
trong cộng đồng quốc gia hoặc hỗn hợp cả hai loại hình sở hữu trên. Ở hầu hết các
nước tư bản, đất đai thuộc sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước. Ở Việt Nam đất đai
thuộc sở hữu toàn dân.
1.1.3. Đặc điểm của nguồn lực tài chính từ đất đai
Không giống với các nguồn lực tài chính khác, nguồn lực tài chính từ đất đai
thể trong xã hội.
1.1.4. Các hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai
Về mặt lý thuyết, có nhiều hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai,
trong đó phổ biến nhất là thông qua khai thác địa tô. Từ mức địa tô, người ta có thể
xác định được giá cả ruộng đất. Từ địa tô và giá cả ruộng đất các chủ thể sẽ thực
hiện được những quỹ tiền tệ hay các nguồn lực tài chính phục vụ cho các nhu cầu
chi tiêu của mình.
7
Trong lý luận của Mac, có các hình thức địa tô cơ bản như: địa tô chênh lệch
(biểu hiện bao gồm chênh lệch I và chênh lệch II), địa tô tuyệt đối, các hình thức địa
tô khác như: địa tô hầm mỏ, địa tô đất xây dựng,.. Cơ sở để các chủ thể thực hiện
được địa tô là quyền sở hữu về đất đai. Trong chủ nghĩa tư bản, độc quyền sở hữu
tư nhân về đất đai là điều kiện để chủ thể sở hữu thu được địa tô tuyệt đối.
Xác định giá cả ruộng đất thông thường được căn cứ vào mức địa tô và tỷ suất lợi
tức nhận gửi của ngân hàng, mối quan hệ đó được thể hiện qua công thức sau đây:
Mức địa tô
Giá cả ruộng đất =
Tỷ suất lợi tức nhận gửi của ngân hàng
Trong đó, giá cả ruộng đất được xem như là giá bán đất (trong các nước tư
bản), còn mức địa tô tương đương với giá thuê đất.
Tùy theo đặc điểm chế độ sở hữu khác nhau, điều kiện kinh tế - xã hội khác
nhau mà cú các hình thức khai thác các nguồn lực tài chính khác nhau. Đối với Việt
Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện, cho nên việc thực
hiện khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai trên thực tế là quan hệ giữa một bên là
Nhà nước còn lại là các chủ thể khác trong xã hội.
Cơ sở lý luận của việc thực hiện các hình thức khai thác nguồn lực tài chính từ đất
phần lớn cho sự hoạt động và phát triển của nền kinh tế quốc dân (không kể nông
lâm nghiệp), có ý nghĩa nhiều mặt, trong đó vai trò là tư liệu sản xuất đặc biệt để
phát triển nền kinh tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế là quan trọng nhất. Bên cạnh
đó, với quĩ đất chưa sử dụng là nguồn tiềm năng đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân; đất chưa sử dụng không chỉ có ở vùng núi, vùng cao,
biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa,... mà còn nằm ngay ở các đô thị, vùng đồng
bằng là những nơi có thể khai thác với hiệu quả cao - nguồn tiềm năng này sẵn sàng
biến thành hiện thực.
Trong lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Mác và
Ăngghen thấy rằng, cần phải bỏ hình thức sở hữu tư nhân về đất đai, biến nó thành
sở hữu toàn dân bằng cách thực hiện quốc hữu hóa đất đai. Mác nhận xét đại ý như
sau: sự phát triển kinh tế - xã hội, mức độ phát triển và tập trung dân cư, sự xuất
hiện máy móc nông nghiệp và phát minh sáng chế khác làm cho việc quốc hữu hóa
đất đai trở thành quy luật khách quan tất yếu. Tất cả mọi lý luận về sở hữu đều bất
lực trước biện pháp tất yếu này.
Phát triển học thuyết của Mác và Ăngghen về quốc hữu hóa đất đai, V.I. Lênin
đó xây dựng học thuyết "về vô sản quốc hữu hóa đất đai". Người viết: "Quốc hữu hóa
đất đai là chuyển tất cả đất đai vào sở hữu nhà nước. Quyền sở hữu đất đai của Nhà
nước được thể hiện bằng quyền thu địa tô, quyền quy định các luật lệ về việc chiếm hữu,
phân phối, quản lý và sử dụng đất đai" [27, tr. 57].
Mục đích lý luận của các nhà kinh điển nhằm giúp cho giai cấp vô sản thực
hiện được nguồn lực tài chính từ đất đai nhờ vào cơ sở chuyển hóa việc thực hiện
9
lợi ích từ đất bởi số ít thành của toàn thể nhân dân lao động. Từ đó mà làm tăng tính
hiệu quả của việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai. Việc khai thác nguồn lực
tài chính từ đất đai thực chất là sử dụng quyền sở hữu đất đai một cách hiệu quả.
Việc thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là cơ sở hình thành các hình
thức chủ yếu để khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai tại nước ta hiện nay. Các
- Thu từ cho thuê đất: Nhà nước có thể cho các tổ chức, cá nhân thuê đất để sử
dụng; đồng thời các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng đất (QSDĐ)
có quyền cho các tổ chức, cá nhân khác thường, thuê lại QSDĐ. Người đi thuê đất chỉ
được sử dụng đất trong thời gian thuê đất và chỉ có một số quyền hạn nhất định đối với
đất thuê; người đi thuê đất phải trả tiền thuê đất cho chủ sở hữu đất (Nhà nước hoặc tổ
chức, cá nhân) theo đơn giá thuê và diện tích đất thuê. Nhà nước thu được tiền thuê đất
đối với đất của nhà nước cho tổ chức, cá nhân thuê sử dụng; thu được thuế thu nhập
doanh nghiệp, thu nhập cá nhân đối với tổ chức và cá nhân cho thuê đất. Căn cứ chủ
yếu của thu từ cho thuê đất là địa tô chênh lệch I.
Tiền thuê đất là khoản thu ổn định, thường xuyên hàng năm và có xu hướng
dần tăng lên theo sự phát triển của nền kinh tế.
1.1.4.2. Thu từ góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất
Nhà nước cho phép các tổ chức, cá nhân có QSDĐ được dùng giá trị QSDĐ
để góp vốn liên doanh với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đây là một
chính sách tài chính đối với đất đai hết sức quan trọng, cần thiết trong quá trình hội
nhập, nhất là trong giai đoạn hiện nay năng lực tài chính của các doanh nghiệp Việt
Nam còn thấp; Nhà nước sẽ thu được lợi nhuận khi cho doanh nghiệp sử dụng đất
của Nhà nước để góp vốn liên doanh và điều tiết qua thuế, phí, phúc lợi chung cho
xã hội đối với trường hợp các tổ chức, cá nhân sử dụng đất của mình góp vốn liên
doanh; căn cứ để tính giá trị QSDĐ là giá cả ruộng đất. Hiện tại, Nhà nước đã tạo
hành lang pháp lý để khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước liên
doanh đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh, cụ thể như sau:
- Trường hợp liên doanh với tổ chức, cá nhân trong nước: tùy từng trường
hợp, giá trị vốn góp liên doanh được xác định tối thiểu bằng giá đất (đối với trường
hợp được Nhà nước giao đất) hoặc bằng tiền thuê đất tính trong thời hạn liên doanh
(trường hợp được Nhà nước cho thuê đất);
- Trường hợp liên doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài: Tổ chức được Nhà
nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng hợp pháp QSDĐ mà
tiền đó không có nguồn gốc ngân sách nhà nước (NSNN) thì chỉ nộp thuế sử dụng đất,
không phải xác định thành vốn ngân sách để nộp tiền sử dụng vốn NSNN. Tổ chức được
cầu, mục tiêu quản lý, mục đích điều tiết trong từng thời kỳ. Ở nước ta hiện tại có
ba khoản thuế đối với đất đai và lệ phí trước bạ nhà đất; cụ thể là:
- Thuế nhà đất: Là loại thuế thu ổn định hàng năm, thu trên tổng giá trị đất
nhân với thuế suất.
Cơ sở khoa học của xác định việc phải thu thuế đối với nhà đất là xuất phát từ
bản chất của thuế là công cụ để điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội. Việc
đó một mặt tạo ra sự bình đẳng hơn trong xã hội, mặt khác nguồn lực thu được từ
thuế sẽ góp phần trang trải cho các hoạt động của Nhà nước trong quá trình cung
12
cấp các dịch vụ cho quá trình xác định QSDĐ cho nhân dân hoặc các dịch vụ liên
quan đến quan hệ đất đai,...
Người được Nhà nước giao đất sử dụng ổn định, lâu dài có trách nhiệm nộp
thuế đất như một loại thuế đánh vào tài sản. Mục đích thu thuế giá trị đất là nhằm
tận dụng và thúc đẩy sử dụng đất có hiệu quả, trong trường hợp không sử dụng và
bỏ hoang hóa thì cũng cần thu thuế để thúc đẩy việc sử dụng đất tiết kiệm, chống
lãng phí; mục đích tiếp theo là ngăn ngừa lũng đoạn, đầu cơ đất đai.
Thuế nhà đất thu trên tổng giá trị đất, đất đai càng nhiều thì tổng số thuế phải
nộp càng cao, nếu thuế suất lũy tiến thì thuế phải nộp càng lớn. Chủ đất sử dụng đất
không hiệu quả, thì phải chuyển nhượng cho người khác, qua đó thúc đẩy việc sử
dụng đất đai một cách hợp lý, phòng ngừa đầu cơ đất đai vào các chủ lớn, đồng thời
điều tiết cung về đất đai. Nhưng thực tế hiện nay ở nước ta thuế này chưa có tác
dụng nhiều trong việc sử dụng đất đai có hiệu quả do mức thu rất thấp.
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp: Thuế này sử dụng để thực hiện điều tiết đối
với đất dùng vào sản xuất nông nghiệp, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản, đất
trồng rừng. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp chấp hành Trung
ương khóa VII ngày 10/6/1993, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế sử dụng đất nông
nghiệp, thay thuế nông nghiệp bằng thuế sử dụng đất nông nghiệp, nội dung cơ bản
như sau:
dung cơ bản là:
+ Căn cứ tính thuế là diện tích đất, giá đất tính thuế và thuế suất.
+ Giá đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất do UBND cấp tỉnh ban hành
theo khung giá đất của Chính phủ phù hợp với thực tế ở địa phương.
+ Thuế suất thuế chuyển QSDĐ: đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi
trồng thủy sản, làm muối, thuế suất là 2%; đất ở, đất xây dựng công trình và các loại
đất khác, thuế suất là 4%.
- Lệ phí trước bạ nhà đất: lệ phí trước bạ nhà đất phát sinh khi có chuyển
nhượng QSDĐ từ tổ chức, cá nhân này sang tổ chức, cá nhân khác.
Thực chất việc thu lệ phí trước bạ nhà đất là nhằm thực hiện việc quản lý nhà
nước về quá trình sử dụng đất đai hay thực hiện lợi ích kinh tế - chính trị hơn là
phân phối thu nhập. Tuy nhiên, cách hiểu bản chất của việc thu lệ phí trước bạ nhà
đất của nước ta hiện nay như là việc điều tiết thu nhập là không đúng bản chất của
vấn đề lệ phí trước bạ.
Trước đây, khoản thu này bị thất thu nhiều do Nhà nước không quản lý được các
giao dịch về đất đai; đến nay, cùng với chủ trương của nhà nước là cấp quyền sử
dụng đất để quản lý theo các giao dịch về đất đai sẽ được quản lý chặt chẽ hơn, từ
đó khoản thu này cũng sẽ ổn định và hạn chế được thất thu.
14
Những nhân tố ảnh hưởng đến việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai:
Để có thể khai thác tốt nguồn lực tài chính từ đất đai, ngoài những nỗ lực chủ
quan của chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng ra còn có ảnh hưởng rất quan trọng
của các nhân tố khách quan.
Những nhân tố khách quan đó là:
- Quy mô đất đai;
- Đặc điểm và cấu tạo tự nhiên, thổ nhưỡng, môi trường đất đai;
- Vị trí không gian địa lý lãnh thổ;
- Trình độ phát triển của nền kinh tế.
nước ta là không thừa nhận đất đai thuộc sở hữu tư nhân cho nên lợi ích từ nguồn lực
tài chính từ đất đai mà chủ thể sở hữu khai thác được phải được phục vụ cho lợi ích
của nhân dân.
Hai là, nguồn lực tài chính từ đất đai góp phần làm tăng quy mô NSNN từ
đó tham gia tích cực vào việc đảm bảo nguồn tài chính cho việc Nhà nước thực
hiện vai trò kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN
Trong nền KTTT định hướng XHCN, vai trò kinh tế của Nhà nước có những
điểm đặc thù, song bên cạnh đó cũng có những điểm chung giống như vai trò kinh
tế của các nhà nước khác. Điểm chung đó là Nhà nước phải tích cực thực hiện chức
năng kinh tế của mình, chẳng hạn đầu tư phát triển, đầu tư kết cấu hạ tầng,... Để có
thể thực hiện tốt được vai trò kinh tế của mình trong nền KTTT định hướng XHCN,
Nhà nước trước hết cần phải có nguồn thu hay nguồn lực tài chính để có thể tài trợ
cho các khoản chi tiêu đó. Muốn vậy, cần phải huy động trong nội bộ nền kinh tế.
Tuy nhiên, không phải cứ gia tăng tỷ lệ huy động nguồn thu cho ngân sách là tốt,
trái lại, nhiều khi gia tăng sự nỗ lực tận dụng nguồn thu lại có thể gây ra hiện tượng
bóp nghẹt hay hạn chế sự năng động của các chủ thể trong nền kinh tế. Một sự kiện
mang tính quy luật đối với mọi nền kinh tế, nhất là đối với các nền kinh tế đang
phát triển là thâm hụt ngân sách, các chính phủ luôn gặp phải một mâu thuẫn kinh tế
là nguồn thu thì có hạn, trong khi nhu cầu chi tiêu luôn không ngừng gia tăng; Việt
Nam cũng không nằm ngoài đặc điểm vừa nêu. Mặt khác, công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của nước ta đang đòi hỏi những nguồn lực tài chính khổng lồ,
trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của NSNN.
Để có thể tháo gỡ được mâu thuẫn đó đồng thời vẫn thúc đẩy được các hoạt
động của những chủ thể trong nền kinh tế, đòi hỏi Nhà nước phải đa dạng được
các kênh huy động nguồn lực tài chính cho ngân sách. Một trong những nguồn lực
tài chính quan trọng hiện nay ở nước ta là nguồn lực tài chính từ đất đai. Với ý
nghĩa đó, nguồn lực tài chính từ đất đai là một thành tố quan trọng trong hệ thống
các nguồn lực tài chính có thể huy động vào ngân sách. Từ đó góp phần vào cung
ứng kinh phí cho Nhà nước thực hiện vai trò kinh tế ngày càng quan trọng trong
nền KTTT định hướng XHCN của mình.
bằng tiền thuê đất khoảng 2,5 tỷ USD và đã huy động nguồn vốn ĐTNN vào Việt
Nam gần 40 tỷ USD để xây dựng dự án với nhiều ngành nghề khác nhau (Nguồn:
Bộ Tài chính).
17
Ba là, nguồn lực tài chính từ đất đai góp phần vào việc nâng cao hiệu quả
sử dụng đất đai
Việc phát huy vai trò này của nguồn lực tài chính từ đất đai thể hiện ở khía
cạnh khi các chủ thể sử dụng đất phải có trách nhiệm thực thi nghĩa vụ tài chính đối
với chủ sở hữu. Khi đó, việc thực hiện nguồn lực tài chính từ đất đai của chủ sở hữu
sẽ có tác dụng đòn bẩy lợi ích kinh tế thúc đẩy kích thích các chủ thể sử dụng đất
hiệu quả hơn. Dù muốn hay không muốn, các chủ thể phải không ngừng nâng cao
hiệu quả sử dụng đất để một mặt thực hiện được lợi ích của mình từ việc sử dụng
đó, mặt khác phải có một nguồn lực đủ để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với chủ
thể sở hữu là Nhà nước.
Trong lý luận về địa tô, Mác phân tích rất sâu sắc ý nghĩa của việc sử dụng
hiệu quả đất đai đi thuê của các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp. Khi đó, để có
thể thu được lợi ích của mình từ hoạt động kinh doanh nông nghiệp nhà tư bản ít
nhất cũng phải thu được lợi nhuận bình quân, phần giá trị thặng dư dôi ra ngoài lợi
nhuận bình quân là phần nộp cho địa chủ dưới dạng địa tô.
Vận dụng phân tích trên đây của Mác vào trong điều kiện nền kinh tế nước ta
có thể cho thấy, việc huy động nguồn lực tài chính từ các chủ thể sử dụng đất là cần
thiết, phù hợp với tính quy luật trong nền KTTT, rằng các nguồn lực phục vụ cho
sản xuất cần phải được thông qua thị trường. Không nên cấp không đất cho các chủ
thể mà không có sự kiểm soát về mặt tài chính. Việc kiểm soát người được quyền
sử dụng đất thông qua đòn bẩy tài chính là công cụ kiểm soát mang tính kinh tế và
phù hợp với điều kiện KTTT hơn cả. Mọi mệnh lệnh hành chính bất chấp quy luật
kinh tế tất yếu sẽ bị đào thải và thường không đem lại hiệu quả cả trong ngắn hạn và
dài hạn.