CƠ sở lý LUẬN về GIÁO dục bản sắc văn hóa dân tộc dựa vào CỘNG ĐỒNG CHO học SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG dân tộc nội TRÚ - Pdf 60

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC DỰA VÀO CỘNG
ĐỒNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ
THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ


- Tông quan nghiên cứu vấn đề
-. Nghiên cứu về giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc ở nước
ngoài
Giữ gìn bản sắc văn hóa của mõi dân tộc là nội dung
quan trọng nên các nước, các dân tộc trên thế giới đều quan
tâm đến vấn đề này. Chương trình giáo dục phổ thông các
nước đều có các nội dung giáo dục các thành phần của bản
sắc văn hóa như ngôn ngữ, các truyền thống, các giá trị văn
hóa.
Các nước châu Âu đều coi trọng môn Lịch sử mà trong
đó có các nội dung về bản sắc văn hóa dân tộc và đưa môn
Lịch sử vào hệ thống các môn bắt buộc như Nga, Đức và một
số nước châu Âu khác.
Ở Singapore, mặc dù tiếng Anh trở thành Quốc ngữ
nhưng trong chương trình giáo dục phổ thông ở các cấp học
đều có thời lượng nhất định cho học sinh học tiếng Mẹ đẻ.
Các công trình nghiên cứu về dân tộc học thì đã có rất
nhiều, nhưng các công trình nghiên cứu về giáo dục bản sắc
văn hóa dân tộc được dịch sang tiếng Việt thì còn hạn chế nên


nghiên cứu về vấn đề này chưa được kế thừa nhiều từ các tác
giả nước ngoài. Chủ yếu vẫn là các công trình nghiên cứu
trong nước.
-Nghiên cứu về giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt

Quang: “Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư
phạm”[27]. Trong đó, tác giả đã phân tích khá đầy đủ về các
khái niệm Văn hóa, bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc
và lý giải tại sao phải giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho
sinh viên sư phạm. Đồng thời tác giả cũng nêu rõ được các
nội dung, biện pháp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh
viên sư phạm- những thày cô giáo tương lai. Những người sau
này sẽ có nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho học
sinh của mình ở trường phổ thông để thực hiện chiến lược
phát triển một nền giáo dục tiên tiên, đậm đà bản sắc dân tộc.


Cùng với các công trình nghiên cứu của tác giả Phạm
Hồng Quang về Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh
viên sư phạm, cũng có thể kể đến luận án tiến sĩ của tác giả
Trần Thị Minh Huế về đề tài: “Giáo dục bản sắc văn hóa dân
tộc cho sinh viên sư phạm miền núi Đông Bắc Việt Nam thông
qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”.[15].
Trong đó, tác giả nêu rất rõ về khái niệm bản sắc văn hóa dân
tộc, tại sao cần giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên
sư phạm. Với yêu cầu của một luận án án tiến sĩ, tác giả đã
nêu rõ thực trạng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh
viên sư phạm hiện nay. Trên cơ sở đó xác định rõ mục đích,
yêu cầu nội dung giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh
viên sư phạm. Đồng thời chỉ ra các biện pháp giáo dục nội
dung này qua con đường tổ chức hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp cho sinh viên.
Hai công trình nêu trên đã làm rõ được khái niệm bản
sắc văn hóa dân tộc, các thành tố của bản sắc văn hóa dân tộc,
các nội dung, con đường và biện pháp giáo dục bản sắc văn

liệu cho các nghiên cứu về dân tộc Thái rất đáng quan tâm.
Tuy nhiên, nghiên cứu về giáo dục bản sắc văn hóa một
dân tộc cụ thể cho học sinh thì còn chưa được quán tâm thỏa
đáng. Đặc biệt, nghiên cứu giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc
Thái dựa vào cộng đồng dưới góc độ Giáo dục cộng đồng thì
còn chưa được quan tâm
- Bản sắc văn hóa và giáo dục bản sắc văn hóa
- Văn hóa và bản sắc văn hóa
- Văn hóa
Văn hóalà khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời
sống xã hội, thuật ngữ này không những có nhiều nghĩa trong
ngôn ngữ hàng ngày mà cả trong các lĩnh vực khoa học khác
nhau. Tuy nhiên, việc xác định nội hàm của khái niệm văn
hóa cũng còn nhiều ý kiến. Vì thế, hiện nay có hàng trăm khái
niệm khác nhau về văn hóa. Song, về cơ bản các quan niệm
đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con người sáng tạo
để hình thành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá


trình lao động, hoạt động thực tiễn. Các giá trị chuẩn mực đó
tác động, chi phối, điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo
đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực của con người. Chủ
tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những
công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương
thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt
cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm

của con người. Từ đó, văn hóa được chia làm hai lĩnh vực cơ
bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Tuy nhiên, sự
phân chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn


hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là sự “vật chất hóa” các
giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần không phải
bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường
được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất.
Ở Việt Nam, khi luận bàn về văn hóa của dân tộc thường
được hiểu theo hai nghĩa, hai cấp độ khác nhau: Ở phạm vi
hẹp, văn hóa dân tộc đồng nghĩa với văn hóa của một tộc
người, văn hóa dân tộc hoặc văn hóa tộc người + tộc danh, là
một chi tiết của văn hóa nói chung.
Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và
tinh thần, cũng như những quan hệ xã hội được sáng tạo trong
điều kiện môi trường sinh tụ của một tộc người, phản ánh
những nhận thức, tâm lýý, tình cảm, tập quán riêng biệt được
hình thành trong lịch sử của tộc người đó. Ở các quốc gia đa
dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, hấp thụ lẫn nhau
tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân
tộc, và mỗi nền văn hóa đều có những giá trị riêng của nó.
Giá trị văn hóa: “là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem
xét, đánh giá, so sánh nền văn hóa của dân tộc này với nền
văn hóa của dân tộc khác, là cái để xác định bản sắc văn hóa


của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống, phong
tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá
trị chân, thiện, ích, mỹ” [42, tr.19]

với sự tồn vong của mỗi dân tộc.
Vì vậy giáo dục văn hoá, giáo dục bản sắc văn hoá cho
học sinh là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, được xem là mũi
nhọn của chiến lược giáo dục. Học sinh là thế hệ trẻvới chức
năng truyền bá phát triển, sáng tạo các giá trị văn hoá dân tộc,
đồng thời có nhiệm vụ lưu giữ các giá trị, hoàn thiện và phát
triển chúng qua các thời đại. Chính họ sẽ đảm nhận trọng
trách nặng nề trước nhân dân về việc duy trì và phát triển các
giá trị văn hoá dân tộc. Chức năng quan trọng này đã đặt ra
các nhiệm vụ mới cho các trường học phải xem đây là một
khâu đột phá, then chốt trong công tác giáo dục học sinh.


- Bản sắc văn hoá dân tộc
Theo từ điển Tiếng Việt, bản sắc chỉ tính chất, mầu sắc
riêng, tạo thành phẩm cách đặc biệt của một vật.
Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản
chất của một nền văn hóa cụ thể nào đó, là những nét văn hóa
riêng có của nền văn hóa một dân tộc. Những nét riêng ấy
thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất và tinh
thần, vật thể và phi vật thể. Các giá trị văn hóa này ra đời gắn
với chính điều kiện môi sinh mà dân tộc ấy thích nghi và phát
triển qua các giai đoạn phát triển khác nhau của một dân tộc.
Những giá trị văn hóa ấy, cho dù có trải qua những thăng
trầm, biến cố của lịch sử nó không những không mất đi, mà
cùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp,
cái phù hợp của văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc
sắc hơn cho văn hóa dân tộc mình, làm cho nó là nó chứ
không phải là cái khác. Khi nói đến một trong những nét đặc
trưng văn hóa ấy, người ta có thể dễ dàng nhận ra đó là dân

được xếp vào bản sắc. Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa
nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng
đồng văn hóa khác là bản sắc” [42, tr.13].
“Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh
hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn
được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện
kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng…
trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [27, tr
37].
Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có
nghĩa là nói tới bản sắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách
khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi của bản sắc dân tộc. Bởi
bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ và rõ
nét hơn ở văn hóa. Sức sống trường tồn của một nền văn hóa
khẳng định sự tồn tại của một dân tộc, khẳng định bản sắc và
bản lĩnh của dân tộc ấy.


Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị. Giá trị tinh
thần bên trong và biểu hiện bên ngoài của bản sắc dân tộc có
mối quan hệ khăng khít củng cố thúc đẩy nhau phát triển. Văn
hóa không được rèn đúc trong lòng dân tộc để có bản lĩnh, trở
thành sức mạnh tiềm tàng bền vững thì bản sắc dân tộc của
văn hóa sẽ mờ phai. Ngược lại, nếu văn hóa tự mình làm mất
đi những màu sắc riêng biệt, độc đáo của mình, sẽ làm vơi
chất keo gắn kết tạo thành sức mạnh bản lĩnh của văn hóa.
Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc có thể do
nhiều yếu tố như: hoàn cảnh địa lý, nguồn gốc chủng tộc, đặc
trưng tâm lý, phương thức hoạt động kinh tế. Nhưng bản sắc
văn hóa dân tộc, không thể không xuất phát từ những yếu tố

nó, biến nó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc.


Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gồm nhiều
loại hình, nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều sắc màu, nhiều mức độ
và quy mô khác nhau, tạo nên giá trị to lớn là nền tảng bền
vững của bản sắc dân tộc. Nguồn nuôi dưỡng vô tận tâm hồn
và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc. Đây là kho
của cải vô giá, di sản vô cùng quý báu của văn hóa Việt Nam.
Việc nhận diện đúng về bản sắc văn hóa mỗi dân tộc và các
dân tộc thành viên là việc làm hết sức có ý nghĩa.
Từ việc nghiên cứu hệ thống hoá các quan niệm của các
tác giả đi trước, có thể quan niệm: “Bản sắc văn hoá” là
những đặc điểm riêng biệt, có giá trị cao, gồm những giá trị
vật chất và tinh thần được tích luỹ và phát triển trong tiến
trình đi lên của một dân tộc, nó quy định vị trí riêng biệt về
mặt xã hội của một dân tộc. Những giá trị đó có thể có ở mọi
dân tộc, song ở dân tộc có bản sắc văn hoá được biểu hiện
đậm nét, sâu sắc và đặc biệt hơn.
Bản sắc văn hoá dân tộc là hệ thống giá trị bền vững
mang tính truyền thống và hiện đại, gồm các giá trị tinh hoa
của dân tộc được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh
dựng nước và giữ nước; là quá trình tiếp nhận, bổ sung, hoàn
thiện những giá trị mới, đồng thời là gạt bỏ những giá trị lạc


hậu, lỗi thời, để những giá trị bền vững luôn sống động với
thực tiễn xã hội.
Bản sắc văn hoá trong quan hệ với lịch sử dân tộc với
truyền thống là sự kế thừa chắt lọc, trong quá trình này phải

quan điểm cho rằng: Một dân tộc muốn phát triển (đặc biệt
trong bối cảnh hội nhập hiện nay) một mặt là phải biết tự bảo
vệ mình bằng các khả năng tự đề kháng và mặt khác, quan
trọng hơn là biết thích nghi với hoàn cảnh.
Một nền văn hoá dân tộc muốn có thế đứng vững phải kế
thừa và phát triển tinh hoa dân tộc mình, đồng thời tiếp thu
cái hay cái đẹp của dân tộc khác. Chính sự thích nghi này sẽ
tạo ra sức mạnh, tạo ra bản sắc dân tộc luôn mang đậm nét


hiện đại, phát triển, nhưChủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Tây
Phương và Đông Phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra
một nền văn hoá Việt Nam...”
Với ý tưởng trên, nghiên cứu bản sắc văn hoá dân tộc
trên đối tượng học sinh trong nhà trường hiện nay, bên cạnh
việc tìm hiểu các nét, các đặc điểm tốt đẹp của các dân tộc
còn lưu giữ ở học sinh, còn cần phải xem xét khả năng thích
nghi với hoàn cảnh, tính linh hoạt biểu hiện trong lối sống có
văn hoá của học sinh. Do đó giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc
cho học sinh là hình thành cho học sinh khả năng lựa chọn,
sàng lọc, tiếp thu, có phê phán đối với quá trình ảnh hưởng
của nhiều cách sống, nhiều kiểu sống, lối sống khác nhau, để
lựa chọn các yếu tố tiến bộ hơn, văn minh hơn là một điều
kiện quan trọng trong giáo dục lối sống học sinh.
Ở một khía cạnh khác, việc giáo dục bản sắc văn hóa
cho sinh viên còn là quá trình giúp họ vượt qua các "rào cản"
của của hủ tục, phong tục lạc hậu, các quan niệm cũ đang kìm
hãm, để tìm đến các trào lưu tiến bộ, văn minh, văn hoá hơn.



triển vùng dân tộc và miền núi của Đảng, chúng ta cần phải
bảo lưu, khai thác cả cái cũ và mới trong những vùng dân cư
mới để biến Tây Bắc thành vùng giàu mạnh của đất nước với
một bản sắc văn hóa đa dạng và độc đáo trong sự thống nhất
của nền văn hóa Việt Nam.
Dân tộc Thái có dân số khá đông đảo, theo con số thống
kê năm 1999, dân số của người Thái có khoảng 1.328.725
người sống trải khắp vùng miền Tây, Tây Bắc và Nam Trung
bộ Việt Nam.


Trải qua hàng ngàn năm sinh sống trên các địa bàn trên
lãnh thổ Việt Nam, dân tộc Thái đã cùng các dân tộc anh em
khác, tham gia dựng nước và giữ nước. Đây cũng chính là quá
trình hình thành tộc người để phát triển đến ngày nay. Hiện
nay, chưa có cách nào khác để tìm ra cội nguồn của văn hoá
lịch sử tộc người Thái, ngoài việc rút ra và đúc kết những hiểu
biết mới về đời sống tâm linh của họ. Từ đó, đưa ra những kết
luận về nguồn gốc hình thành của dân tộc này.
Người Thái ở Việt Nam không theo một tôn giáo chính
thống nào trên thế giới mà theo một trong những tập tục có
nghi thức thờ Nước (nặm) và Đất gọi là Cạn (bốc). Nước có
biểu tượng Thần chủ là con Rồng (Tô Luông) mang tên chủ
nước (chảu nặm). Và đất có biểu tượng thần chủ là loài Chim
ở núi mang tên chủ đất (chảu đin). Hai biểu tượng thần chủ
Rồng, Chim cũng là Mẹ, Cha của Mường và tục thờ này nằm
trong toàn bộ nghi lễ cúng Mường (xên Mương).
Theo truyền thống, Thái Đen và Thái Trắng có tục thờ
Mẹ- Cha gắn với biểu tượng thần linh Rồng- nước và Chimcạn trong cúng Mường chéo ngược như sau: Mường Thái Đen
thờ: Mẹ - Rồng - nước >< Cha - Chim - Cạn; Mường Thái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status