VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ THỊ THU HƯƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC
ĐỐI VỚI HỌC SINH LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ THỊ THU HƯƠNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC
ĐỐI VỚI HỌC SINH LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VÕ CÔNG NGUYỆN
Hà Nội - 2019
THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN SƠN ..................................... 52
3.1. Căn cứ lí luận và thực tiễn của việc đề xuất biện pháp tổ chức thực
hiện chính sách giáo dục đối với học sinh là người dân tộc thiểu số trên
địa bàn huyện Tân Sơn ................................................................................ 52
3.2. Biện pháp tổ chức thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh là
người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân Sơn .................................... 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 72
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Từ và cụm từ được viết tắt
BC
Biên chế
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
HĐ
Hợp đồng
Tiếng Việt 1- CGD
Tiếng Việt 1 theo tài liệu công nghệ
trọng.
Bác Hồ đã từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” bởi một dân
tộc dốt thì có trình độ tri thức kém, kém hiểu biết thì khó có thể tiếp thu và
phát huy tinh hoa và văn hóa khoa học và công nghệ của nhân loại. ( Trần
Duy, Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển, http://nxbhanoi.com.vn,
30/11/2015).
Giáo dục góp phần nâng cao dân trí ở mọi quốc gia, dân tộc. Ngày nay,
giáo dục và đào tạo còn góp phần tạo ra hệ thống giá trị xã hội mới. Hiện nay
tri thức là sản phẩm của giáo dục và đào tạo, cũng là tài sản quý giá nhất của
con người và xã hội. Sở hữu tri thức trở thành sở hữu quan trọng nhất được
các nước thừa nhận và bảo hộ.
Giáo dục góp phần bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc bởi
giáo dục góp phần xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao làm giàu của cải
vật chất cho xã hội đồng thời có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ sức đề
kháng chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” trong chính quá trình hội nhập
quốc tế và toàn cầu.
Giáo dục cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia. Giáo dục bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động
có trình độ chuyên môn, tay nghề cao.
Giáo dục luôn là động lực rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển xã
hội. Trong nhiều năm qua, giáo dục đã có những bước phát triển mới, đạt
được nhiều thành tựu to lớn. Những thành tựu đó đã khích lệ, thúc đẩy việc
1
mở rộng quy mô tăng cơ hội tiếp cận giáo dục cho người dân và chuẩn bị
nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tân Sơn là một huyện miền núi được thành lập theo Nghị định số
61/2007/ NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ Việt Nam được
57/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 05 năm 2017 về Chính sách ưu tiên cho học sinh
dân tộc thiểu số, Quyết định-775-QD-TTg 2018 ngày 27 tháng 06 năm 2918 về
Chương trình mục tiêu giáo dục vùng núi dân tộc thiểu số, Nghị định
86/2015/NĐ-CP ngày 02 tháng 10 năm 2015 của chính phủ quy định cơ chế thu,
quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và
chính sách miễn giảm, học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015-2016 đến
2020-2021... Sau khi chính sách giáo dục được ban hành, thì việc thực hiện là
khâu quyết định sự thành công của chính sách giáo dục đó.
Đã có nhiều hội thảo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết
về thực hiện chính sách giáo dục, ví dụ như: Phạm Tất Dong (1993), Giáo dục
- đào tạo - nền tảng của chiến lược con người, Tạp chí Cộng sản (3). Phạm
Văn Đồng (1999), Về giáo dục - đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trung tâm thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Toàn cảnh giáo dục
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Đình Hoà (2001), Mối
quan hệ giữa giáo dục, đào tạo và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tạp chí
Triết học (9). Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa
thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Lê Văn Giạng (2003), Lịch sử
giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội. Nguyễn Hữu Châu (2007), Về Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ
XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Ở góc độ tiếp cận về lý thuyết chính sách công như:
Tác giả Nguyễn Đăng Thành (Chủ nhiệm đề tài, 2004), Chính sách
công: Cơ sở lý luận, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội. Ở đề tài nghiên cứu về những vấn đề lý luận chính sách công:
3
Lý thuyết chính sách công; các công cụ nghiên cứu chính sách công; các cách
tiếp cận khi nghiên cứu chính sách công.
Phú Thọ.
- Đề xuất một số biện pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển giáo
dục đối với học sinh là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân Sơn,
tỉnh Phú Thọ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Chính sách giáo dục đối với học sinh là người dân tộc thiểu số trên địa
bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Học sinh là người dân tộc thiểu số huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ năm 2015 đến 2019
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cách tiếp cận nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và thực hiện
chính sách về giáo dục.
5.2. Câu hỏi nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách giáo dục đối
với học sinh người là người dân tộc thiểu số ở nước ta là gì ?
- Thực trạng thực hiện chính sách phát triển giáo dục đối với học sinh
là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân Sơn như thế nào?
- Những bất cập trong việc thực hiện chính sách giáo dục đối với học
sinh là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân Sơn là gì?
- Giải pháp đổi mới trong tổ chức thực hiện chính sách giáo dục đối với
học sinh là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ ?
5
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm
đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Trong luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục và tài liệu tham
khảo, phụ lục, luận văn bao gồm có 3 chương.
Chương 1 : Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giáo dục đối với học
sinh là người dân tộc thiểu số.
Chương 2 : Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách giáo dục đối với
học sinh là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân sơn, tỉnh Phú Thọ.
Chương 3 : Một số biện pháp trong tổ chức thực hiện chính sách giáo
dục đối với học sinh là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân sơn,
tỉnh Phú Thọ.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC
ĐỐI VỚI HỌC SINH LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Một số vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách công
* Khái niệm về chính sách công
Khoa học về chính sách công đã được nghiên cứu ở phương Tây từ thế
kỷ XX trong những năm 1940. Nhưng đến những năm 1980, chính sách công
mới được phát triển nhanh chóng và đồng thời được coi như một lĩnh vực
nghiên cứu riêng biệt với các cách tiếp cận, các lý thuyết của mình.
Ở Việt Nam, chính sách công được nghiên cứu vào đầu thế kỷ XXI
những năm cuối thập niên 1990.
Định nghĩa về chính sách công là một trong những vấn đề gây nhiều
định chính sách bao gồm sáu giai đoạn: khởi xướng, tranh luận, lựa chọn,
thực thi, đánh giá và kết thúc.
Cuối cùng, Deborah Stone lại đưa ra một định nghĩa có tính chất phê
phán đối với tất cả các định nghĩa trên: “ Các định nghĩa về chính sách công
không bao hàm được cái mà tôi cho là bản thân của quá trình hoạch định
chính sách trong các môi trường chính trị: đó chính là các cuộc đấu tranh tư
tưởng...” [48, tr.11-13] .
Mặc dù có sự khác biệt đáng kể, nhưng các định nghĩa trên đều có một
xu hướng chung là muốn thâu tóm khái niệm chính sách công trong tính tổng
thể của nó - tức là tổng thể của các mối quan hệ nhân quả chồng chéo vượt ra
ngoài mọi sự phân tích từng chủ thể cá nhân.
H.K.Colebatch, tác giả cuốn “Chính sách” (Policy) cho rằng, chính sách
thường có ba đặc trưng: sự chặt chẽ, tính thứ bậc và tính công cụ.
Sự chặt chẽ: là sự giả định rằng tất cả các phần nhỏ của hành động phù
hợp với nhau, chúng tạo thành bộ phận của một chỉnh thể có tổ chức, vượt hệ
9
thống duy nhất và chính sách liên quan đến hệ thống này được điều hành như
thế nào.
Tính thứ bậc: Tiến trình chính sách là những người ở trên cùng đưa ra
các hướng dẫn. Chính sách được xem là quyết định có tính cưỡng chế về
những gì sẽ được làm trong lĩnh vực cụ thể nào đó.
Tính công cụ: Chính sách được hiểu như là sự theo đuổi những mục
đích cụ thể (những mục tiêu chính sách).
Chính sách có ba thuộc tính: Thẩm quyền, kỹ năng và trật tự.Trước hết
chính sách dựa vào thẩm quyền: quyền hành làm cho chính sách trở nên hợp
pháp và các vấn đề chính sách xuất hiện và bắt nguồn từ các nhân vật nắm
quyền hành. Thứ hai, tính kỹ năng: chính sách được xem, như một tiến trình
Bước 2: Thực hiện xây dựng và đưa ra chính sách
Từ tất cả các thông tin trên, hệ thống hoạch định chính sách phải xác
định được vấn đề nào cần đặt vào chương trình nghị sự.
Trên cơ sở đó, cơ quan hoạch định chính sách tiến hành các bước sau:
+ Thu thập, phân tích thông tin.
+ Phát triển các phương án giải quyết vấn đề.
+ Xây dựng liên minh chính trị.
+ Đàm phán, thoả hiệp và thông qua chính sách.
+ Những vấn đề chính trị đặt ra trong quá trình ra chính sách.
Bước 3: Triển khai thực hiện chính sách.
Những chính sách khi đã được thông qua phải được tổ chức và triển
khai.
Điều kiện để triển khai hiệu quả chính sách đó là :
- Cơ quan được giao nhiệm vụ các nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực
và phải chịu trách nhiệm về hoạt động triển khai chính sách.
12
- Cơ quan này phải có đủ thẩm quyền kỹ thuật chuyên môn để biến các
mục tiêu thành các chương trình hành động cụ thể thích hợp.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả tập trung vào vấn đề triển khai thực
hiện chính sách, cụ thể là việc thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh
là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân Sơn giai đoạn 2015 - 2019.
Bước 4: Tổng kết đánh giá chính sách
Khâu quản lý chính sách có đạt được những mục tiêu đặt ra hay không
phải được thể hiện trong công đoạn tổng kết, đánh giá. Vì vậy, tổng kết để
đánh giá quá trình triển khai, hiệu quả triển khai và các tác động thực tế của
chính sách. Việc đánh giá chính sách được thực hiện trên một số khía cạnh
như: đánh giá chính trị, đánh giá kỹ thuật, đánh giá toàn diện, phân tích chi
của một người thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội. Khi
nào quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì
việc đào tạo sẽ có hiệu quả cao.
Đào tạo chính là một dạng đặc thù của giáo dục, nên trong quá trình đào
tạo cũng tuân theo những quy luật chung của giáo dục.
Ở Việt Nam, chính sách quốc gia (trong đó có chính sách về giáo dục )
trong giai đoạn hiện nay có thể được biểu diễn qua sơ đồ sau:
14
Sơ đồ 1.1: Bộ máy chính sách của Nhà nước Việt Nam
Chủ Tịch Nước
Chủ Tịch QH
BCH Trung ương
UBTVQH
Quốc Hội
Hội đồng nhân
dân tỉnh
Hội đồng
nhân dân
huyện
Hội đồng
nhân dân xã
Xã
Đảng ủy xã
Nguồn: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chính trị học, Tập
bài giảng Chính trị học, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Sơ đồ này chia theo hai trục: trục Nhà nước - Đảng, và trục Trung ương
- địa phương. Sơ đồ này chưa thể hiện được hết các đặc điểm của bộ máy
chính sách nước ta, tuy nhiên nó mô tả được hai đặc điểm quan trọng nhất của
bộ máy, đó là: cơ chế song trùng trực thuộc và sự phân định chức năng quản
15
lý - lãnh đạo. Sơ đồ này cũng thể hiện được nguyên tắc quan trọng hàng đầu
trong công cuộc đổi mới của nước ta đó là đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối
với toàn bộ hệ thống chính trị.
Đến nay, quan hệ giữa các cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) cũng như
giữa các cơ quan Đảng và Nhà nước vẫn rất phức tạp và chồng chéo. Vai trò
và sự phân công, phân quyền giữa các ngành lập pháp, tư pháp và hành pháp
vẫn chưa rõ ràng. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp vẫn chưa đủ năng
lực và cơ sở vật chất để hoàn thành trách nhiệm ngày càng cao. Các đổi mới
về chức năng như vậy đòi hỏi phải thay đổi tổ chức và thiết chế tương ứng
cũng như việc quản lý ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, thực tế nước ta cho thấy sự cần thiết phải xây dựng quá trình
ra chính sách một cách khoa học, huy động được trí tuệ tập thể, thoả mãn
được các nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, khắc phục sự phiến diện và áp đặt
tiềm ẩn của cơ quan ra chính sách hiện nay. Việc huy động và tham khảo ý kiến
của đông đảo cán bộ, nhân dân, việc tuyên truyền giải thích chính sách đóng vai
10.000 người: Cống, Mảng, Pu Péo, Si La, Cờ Lao, Bố Y, La Ha, Ngái, Chứt,
Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Lô Lô, Lự, Pà Thẻn, La Hủ (sau đây gọi là dân tộc
thiểu số rất ít người).
- Các cơ sở giáo dục, các tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thực
hiện chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học
sinh, sinh viên các dân tộc thiểu số rất ít người.
* Về chính sách hỗ trợ học tập:
a. Mức hỗ trợ:
- Trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số học tại các cơ sở giáo dục mầm non
được hưởng mức hỗ trợ học tập bằng 30% mức lương cơ sở/trẻ/tháng.
- Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường tiểu học,
trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông được hưởng mức hỗ trợ
học tập bằng 40% mức lương cơ sở/học sinh/tháng.
17
- Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường phổ thông
dân tộc bán trú hoặc là học sinh bán trú học tại trường phổ thông công lập có
học sinh bán trú được hưởng mức hỗ trợ học tập bằng 60% mức lương cơ
sở/học sinh/tháng.
- Học sinh dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường phổ thông
dân tộc nội trú được hưởng mức hỗ trợ học tập bằng 100% mức lương cơ
sở/học sinh/tháng.
- Học sinh sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người học tại các trường,
khoa dự bị đại học, các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp
được hưởng mức hỗ trợ học tập bằng 100% mức lương cơ sở/người/tháng.
b. Thời gian được hưởng hỗ trợ: 12 tháng/năm cho đối tượng có thời
gian học đủ 9 tháng/năm trở lên; trường hợp đối tượng học không đủ 9
tháng/năm thì được hưởng theo thời gian học thực tế.
trong gia đình, nên các em phải đi làm để phụ giúp gia đình. Một số phong tục, tập
quán của một số dân tộc thiểu số còn lạc hậu ảnh hưởng đến việc học tập của học
sinh.
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, câu hỏi: Học để làm gì đang là vấn
đề có liên quan trực tiếp đến quyết định của các gia đình có cho con đi học
hay không.
Chỉ khi nào đồng bào thấy lợi ích của việc học hành thì họ mới có quyết
tâm cho con em đi học. Do đó việc đào tạo nghề đối với học sinh tốt nghiệp
phổ thông trung học cơ sở và trung học phổ thông là vấn đề cốt lõi cho công
tác phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chính sách
ưu tiên đối với con em đồng bào các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát
triển giáo dục. Nhưng việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về chính
sách giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi, nhất là các văn bản hướng dẫn
còn chậm, một số văn bản không còn phù hợp với thực tiễn phát triển.
Ngoài ra, chính sách hỗ trợ giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi
còn phân tán, dàn trải, chưa có sự tích hợp, sự phối hợp giữa các bộ, ngành.
19