(Luận văn thạc sĩ) HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠNG ĐẶC BIỆT NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THỊ KIM TUYẾT

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ HẠNG ĐẶC BIỆT: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THỊ KIM TUYẾT

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ HẠNG ĐẶC BIỆT: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM

Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ TRƯỜNG SƠN

về năng lực và sự hiểu biết của bản thân cũng như thời gian nghiên cứu có hạn nên
luận văn không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết, tác giả rất mong nhận
được những góp ý của các nhà khoa học, các giảng viên và các đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN HOÀN THIỆN CƠ CHẾ
QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KH&CN ......................................................... 6
1.1 Cơ chế quản lý KH&CN ....................................................................... 6
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý ....................................... 15
1.3 Một số kinh nghiệm về cơ chế quản lý của các tổ chức KH&CN ...... 17
Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ CỦA TỔ CHỨC
KH&CN HẠNG ĐẶC BIỆT (VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ
VIỆT NAM) ................................................................................................... 22
2.1. Khái quát về Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam ........................ 22
2.2 Thực trạng công tác quản lý các tổ chức KH&CN trực thuộc tại
Viện NLNTVN ......................................................................................... 28
2.3 Hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý của Viện
NLNTVN .................................................................................................. 47
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN
LÝ CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN
TỬ VIỆT NAM .............................................................................................. 50
3.1 Phương hướng phát triển của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam .... 50
3.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý ................................................... 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 65


5.

KT-XH

Kinh tế - xã hội

Công nghiệp hóa hiện đại hóa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đổi mới cơ chế quản lý tổ chức khoa học công nghệ là một chính sách
lớn, mang ý nghĩa quan trọng, giúp cho tổ chức ổn định và phát triển được
bền vững.
Qua hơn hai mươi năm thực hiện đổi mới cơ chế quản lý, đặc biệt là từ
khi có Nghị định của Chính phủ Số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 thánh 9 năm
2005 về quy định cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và
công nghệ công lập. Các tổ chức khoa học và công nghệ đã đạt được những
kết quả quan trọng, đội ngũ phát triển, cơ sở vật chất được tăng cường.
Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện cơ chế quản lý tổ chức khoa học và
công nghệ còn bộc lộ nhiều hạn chế. Mặc dù các tổ chức Khoa học và Công
nghệ đã được tự chủ, nhưng quyền tự chủ còn bị hạn chế chưa phát huy được
tiềm năng to lớn của đội ngũ chi thức hiện có và cơ sở vật chất đã được đầu tư.
Đặc biệt, vấn đề tự chủ của các tổ chức Khoa học công nghệ trực thuộc
một số tổ chức Khoa học công nghệ chưa xác định rõ, Quan hệ quản lý của tổ
chức Khoa học công nghệ chủ quản với các tổ chức KHCN trực thuộc còn
nhiều lúng túng.
Những quan hệ này đã làm kìm hãm sự phát triển của các tổ chức
KHCN và sự lớn mạnh của nền KHCN nước nhà
Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu những khó khăn vướng mắc trong cơ chế

Ở Việt Nam hiện nay tổ chức KHCN hạng đặc biệt có 3 Viện lớn là:
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Viện Khoa học Thủy Lợi và Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề tự chủ của các tổ chức
KHCN trực thuộc các tổ chức này chưa được xác định rõ. Mối quan hệ giữa
tổ chức quản lý và các tổ chức KHCN trực thuộc còn nhiều bất cập khó khăn
lúng túng. Ví dụ tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thể hiện trong đề
án tự chủ của các đơn vị, nhiều đơn vị thực chất chỉ mang tính chất liệt kê ( về
tài sản, về số lượng cán bộ, về doanh thu hàng năm, về tài sản...) Chưa đưa ra
được những bất cập, khó khăn, giải pháp để tổ chức chuyển đổi sang cơ chế tự

2


chủ được thành công theo đúng nghĩa. Chưa đưa ra được cái đặc biệt của các
tổ chức KH&CN như (Tại sao các tổ chức KH&CN trực thuộc Viện Năng
lượng nguyên tử Việt Nam nó lại là đặc biệt, mà đặc biệt thì có những cơ chế
quản lý khác thế nào? Tại sao phải khác...) Luận văn này tác giả đi phân tích
những vấn đề trên để nhận dạng rõ cái đặc biệt của tổ chức KH&CN trực thuộc
tổ chức KH&CN hạng đặc biệt, đưa ra những cơ chế tháo gỡ khó khăn cho các
tổ chức KH&CN hiện nay đang thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm
Thực trạng hiện nay , vì sao cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nói
chung của các cơ quan nghiên cứu khoa học không được thực thi nỗ lực. Một
số nghiên cứu trên cho rằng quá trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của hệ thống cơ quan KH&CN là một quá trình tự điều chỉnh, tự
thích nghi của hệ thống, dựa trên nguyên tắc “tự sắp xếp” trong “một trật tự
pháp luật - sự điều tiết của nhà nước”, không lấy nguyên tắc giảm đầu mối để
sắp xếp mạng lưới các tổ chức KH&CN. Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ
dừng lại mức độ mô tả và phân loại các loại hình tổ chức KH&CN trong dạng
chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm. Các đánh giá về quá trình
chuyển đổi chỉ ở bên ngoài hệ thống chưa phân tích quá trình nhận dạng sang

thuộc tổ chức Khoa học công nghệ hạng đặc biệt.
Nhiệm vụ của luận văn:
Để thực hiện các mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định các
nhiệm vụ sau:
Đánh giá thực trạng của cơ chế quản lý trong các tổ chức khoa học
công nghệ trực thuộc. Nghiên cứu các hạn chế tồn tại trong cơ chế quản lý tìm
ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên.
Đưa ra những giải pháp khắc phục các hạn chế tồn tại trên để hoàn
thiện cơ chế quản lý đối với các tổ chức trực thuộc tổ chức Khoa học công
nghệ hạng đặc biệt
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế quản lý các tổ chức tổ chức khoa học và
công nghệ thuộc tổ chức khoa học công nghệ hạng đặc biệt

4


Phạm vi nghiên cứu: Các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực NLNT thuộc
Viện NLNTVN
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu quy chế quản lý để tìm hiểu các nội
dung liên quan đến luận văn và trên cơ sở các thông tin thu được tiến hành
phân tích, đánh giá rút ra bài học kinh nghiệm;
- Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập nghiên cứu tài liệu, trao đổi
với đồng nghiệp những vấn đề liên quan đến luận văn này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn sẽ góp phần thay đổi nhận thức về cơ chế quản lý các đơn vị
trực thuộc Viện NLNTVN trong giai đoạn hiện nay, khẳng định cơ chế tư
chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị, sẽ mang đến hiệu quả thiết thực trong
việc quản lý hiện nay.

giống quản lý nghiên cứu khoa học, là quản lý đối với công tác nghiên cứu khoa
học và những hoạt động phát triển công nghệ, nó thường bao gồm những hoạt động
quản lý như kế hoạch nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đề tài, phát triển công
nghệ,v.v. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN bao gồm một phạm trù tương
đối rộng lớn, như quy hoạch, sắp xếp các cơ quan sự nghiệp khoa học, hoạch định
chính sách phát triển KH&CN, chiến lược KH&CN, đổi mới thể chế hoạt động
KH&CN, kế hoạch thực hiện chương trình các đề tài, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào
sản xuất đời sống, chuyển giao kỹ thuật, đổi mới công nghệ. .v.v. Trên cơ sở những
nhận thức này, xuất phát từ đặc điểm của đối tượng quản lý là hoạt động khoa học

6


và công nghệ, quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ theo các nguyên tắc, mỗi
nguyên tắc trên thực tế không vận dụng riêng rẽ mà phối hợp nhuần nhuyễn với các
nguyên tắc khác để có thể phát huy tác dụng trong thực tế cụ thể:
Nguyên tắc về sự thống nhất giữa khoa học và kinh tế: Nguyên tắc này bao
trùm, người làm quản lý phải luôn tạo điều kiện để gắn hoạt động khoa học và công
nghệ với các hoạt động kinh tế. Sự thống nhất này phải thể hiện trên tất cả các mặt
kế hoạch, đầu tư, tổ chức chỉ đạo thực hiện.
Nguyên tắc kết hợp với cơ chế tác động thị trường
Nguyên tắc kết hợp tập trung dân chủ
Nguyên tắc phân công phân cấp
Nguyên tắc tham gia cộng đồng
Nguyên tắc kế thừa phát triển

Chính sách quản lý KH&CN là một tập hợp các văn bản quy phạm
pháp luật định rõ các phương châm, nguyên tắc, quy định, thể lệ của Nhà
nước đối với hoạt động KH&CN. Có chính sách quốc gia, cũng có chính
sách của một vùng, một đơn vị hành chính hoặc một tổ chức, hay một ngành

các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người
khác, nhằm thu được hiệu quả mà nếu một người hoạt động đơn độc thì
không thể thu được. Như vậy, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động
của môi trường. Quản lý bao gồm các yêu tố sau: phải hướng tới mục tiêu;
thông qua con người; với kỹ thuật, thông qua con người; với kỹ thuật, công
nghệ; hoạt động bên trong của một tổ chức. Nói một cách cụ thể, quản lý là
những hoạt động vận dụng các chức năng cơ bản của kế hoạch, tổ chức, chỉ
huy điều hòa, phối hợp thanh tra điều tra ... sử dụng hữu hiệu các yếu tố cơ
bản như nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực, để thực hiện được các mục tiêu
trong một thời gian nhất định.
Với cách tiếp cận về quản lý nêu trên, quản lý nhà nước với chức năng
thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, là sự tác động có tổ chức đối với các
quá trình và hành vi hoạt động của con người.

8


Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN thường được hiểu giống
quản lý nghiên cứu khoa học, là quản lý đối với công tác nghiên cứu khoa học
và những hoạt động phát triển công nghệ, nó thường bao gồm những hoạt
động quản lý như kế hoạt nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đề tài, phát triển
công nghệ,.,,. Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN bao gồm một phạm
trù tương đối rộng lớn, như quy hoạch, sắp xếp các cơ quan sự nghiệp khoa
học, hoạch định chính sách phát triển KH&CN, chiến lược KH&CN, đổi mới
cơ chế hoạt động KH&CN, kế hoạch thực hiện các chương trình đề tài, áp
dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đời sống, chuyển giao kỹ thuật, đổi mới
công nghệ, năng lượng nguyên tử.
Trên cơ sở những nhận thức trên đây, xuất phát từ đặc điểm của đối
tượng quản lý là hoạt động khoa học và công nghệ, quản lý nhà nước về khoa

quyết các bài toán kỹ thuật, công nghệ thì đòi hỏi sang tạo, linh hoạt cao độ.
Phát huy sáng tạo của mọi thành viên, đa dạng hóa các phương án, biện pháp
sẽ tạo điều kiện có được những biện pháp hữu hiệu nhất có thể. Người làm
quản lý KH&CN cần nắm những nguyên tắc này.
Nguyên tắc phân công phân, phân cấp
Công việc phát triển và ứng dụng KH&CN muốn làm có hiểu quả phải
có sự phân công, phân cấp rành mạch. Như thế, mỗi cấp tập trung vào một
loại việc, trên cơ sở đó phối hợp với nhau phát huy sức mạnh tổng hợp của
toàn bộ hệ thống. Trung ương không làm thay công việc của địa phương. Địa
phương không dập khuôn máy móc theo cách tổ chức ở trung ương.
Nguyên tắc tham gia cộng đồng
Tiến bộ KH&CN về bản chất, là một quá tình xã hội. Mỗi thành viên
của cộng đồng dân cư đều có vai trò nhất định trong quá trình đó theo cơ chế
hút đẩy nói trên. Các quyết định trong quản lý nên cho dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra. Hiệu quả sẽ được nâng cao vì cơ chế đó có tác dụng kiểm
soát xã hội, phát huy sáng kiến cộng đồng cho các hoatjd động KH&CN.
Nguyên tắc đấu thầu trong nghiên cứu, ứng dụng KH&CN là một trong

10


những cơ chế để thực hiện dân chủ trong khoa học. Ai cũng có quyền tham
gia, từ đó chọn người giỏi nhất, hiệu quả nhất. Trên tầm vĩ mô, công việc
quản lý KH&CN không thể khoán trắng cho một bộ, một ngành chịu trách
nhiệm mà phải được các bộ các ngành tham gia, đề xuất, thực hiện. Mỗi đề án
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đều phải quan tâm đến nội dung khoa học
trong đó, phải nghiên cứu nếu cần thiết, phải đầu tư cho công tác khoa học để
phục vụ lại chính mình. Nguyên tắc xã hội hóa trong quản lý KH&CN đang
có ý nghĩa thời sự lớn đối với sự phts triển, đầu tư cho khoa học và công nghệ
nước ta.

Lao động KH&CN là quá trình lao động xã hội đặc thù, là hoạt động
của những người có tri thức chuyên môn đặc biệt, tiến hành thu thập, xử lý,
gia công thông tin về các sự vật trong giới tự nhiên hoặc nhân tạo để có được
tri thức lý luận, phương pháp tác động, đường lối nhận biết thế giới và cải tạo
thế giới. Do đó, lao động KHCN có tính quy luật đặc thù của nó.
Tổ chức khoa học công nghệ hạng đặc biệt là một tổ chức KH&CN trong đó
có những đặc điểm nghiên cứu đặc thù ngành
Một trong những đặc thù của lao động KH&CN đặc biệt là:
Thứ nhất, tính sáng tạo; đây là công tác nghiên cứu khoa học là một
loại lao động trí óc mang tính sáng tạo, đặc điểm nổi bật là tính sáng tạo, nó là
linh hồn của công tác nghiên cứu là điểm cơ bản phân biệt với lao động sản
xuất lặp đi lặp lại. Ví dụ nghiên cứu cơ bản là để phát hiện và nhận thức về
những quy luật mà trước nó đó con người chưa hề nhận thức được; nghiên
cứu công nghệ là để sáng tạo ra phương pháp công nghệ mà trước đó chừa có
nhằm sáng tạo ra những thiết bị hoặc sản phẩm mà trước đó không tồn tại.
Nghiên cứu khoa học và sáng tạo có mối quan hệ mật thiết với nhau quá trình
của công tác nghiên cứu khoa học là quá trình tạo ra cái mới. Do đó đánh giá
trình độ cao hay thấp của một thành quả nghiên cứ khoa học chủ yếu là xem
mức độ yếu tố sáng tạo trong đó.

12


Thứ hai, tính rủi ro; Vì lao động sáng tạo, đi tìm cái chưa biết nên cũng
có thể thành công và cũng có thể thất bại, thông thường đi sâu vào bản chất
nghiên cứu cơ bản thì độ rủi ro cao, khả năng thất bại lớn. Một trong những
cái được của thất bại trong nghiên cứu lại là một loại thu hoạch bởi nó có thể
cảnh tỉnh người sau, hay nó là kinh nghiệm và bài học cho người đi sau
Thứ ba, đặc tính kế thừa của lao động KH&CN; Thông thường những
cái đi sau là kế thừa của cái đi trước, những tri thức mới mà họ tạo ra cũng tất

Công nghệ có tư cách pháp nhân riêng, có con dấu riêng, có tài khoản riêng, có tài
vụ cấp 3, có chức năng nhiệm vụ khác nhau, có đơn vị đào tạo, có đơn vị nghiên
cứu và có các tổ chức dịch vụ. Giúp việc cho đơn vị cấp trên là có đơn vị giúp việc
chuyên trách, cán bộ tương đối độc lập

1.1.3 Cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm
Thông thường, tự chủ sẽ đi trước và trách nhiệm sẽ xuất hiện sau Nếu
một tổ chức có được tính tự chủ cao thì sẽ có những quyết định có tính trách
nhiệm cao hơn và đạt được kết quả tốt hơn trong những hoạt động của mình.
Ngược lại lại khi tính trách nhiệm của một tổ chức không xứng đáng với tầm
của tính tự chủ thì các cơ quan có thẩm quyền sẽ giảm bớt hoặc thu hồi các
quyền hạn của tổ chức đó và như vậy năng lực làm chủ các hoạt động của tổ
chcs này sẽ bị thu hẹp tương ứng với mức độ trách nhiệm.
Theo cách hiểu chung nhất, cơ chế quản lý là quá trình chuyển động dây
chuyền của các bộ phận cấu thành hệ thống, trong đó có bộ phận khởi động, bộ
phận chuyền dẫn và bộ phận chuyển động cuối cùng. Có nhiều loại cơ chê quản
lý: cơ chế dân chủ, cơ chế tập trung, cơ chế phân cấp, cơ chế thị trường.
Nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức
KHCN nhằm mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả
năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ vớ chất lượng cao cho xã hội và tăng
nguồn thu nhập cho tổ chức. Việc giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ
chức KH&CN để thích ứng với tình hình mới, giải quyết có hiệu quả mà các
vấn đề về KH&CN nảy sinh mà khu vực tư nhân không thể giải quyết được
trong xu thế hội nhập quốc tế, đồng thời nhanh chóng khắc phục sự bất cập
của hệ thống tổ chức KH&CN, làm minh bạch hóa hoạt động tài chính của

14


các tổ chức KH&CN. Nội dung trọng tâm của tự chủ tự chịu trách nhiệm của



thúc đẩy sự phát triển KH&CN; (2) Chính sách phát triển nguồn nhân lực giữ
vai trò quyết định đến chất lượng và tiến độ thực hiện các nhiệm vụ KH&CN,
chất lượng các công trình KH&CN, nâng cao chất lượng, nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội của sản xuất
và đời sống. (3) Chính sách đổi mới công nghê sản xuất nhằm nâng cao trình
độ công nghệ sản xuất mới, tạo được nhiều hàng hóa có tính cạnh tranh. (4)
Chính sách xã hội hóa KH&CN, thực chất là tổ chức huy động được mọi
nguồn lực của xã hội đầu tư cho hoạt động KH&CN, hỗ trợ cho nguồn vốn
ngân sách nhà nước cấp cho KH&CN, mà hiện nay không thể đáp ứng được
yêu cầu tăng cường các hoạt độngKH&CN phục vụ sản xuất và đời sống.
Hiện nay việc nhận thức của các cơ quan hoạch định, ban hành việc kiểm
tra, giám sát việc xây dựng cơ chế quản lý cho các tổ chức KH&CN cần phải
khách quan và khoa học. Ở đây ta thường đưa ra hướng dễ thực hiện, thuận lợi
cho cơ quan nhà nước thực thi cơ chế, làm trở ngại cho hoặc có thể làm tổn hại
đến quyền lợi của đối tượng của cơ chế (tổ chức KH&CN, các nhà khoa học)
1.2.2 Nhận thức
Nhận thức của các tổ chức KH&CN nơi tổ chức thực thi cơ chế cần
phải bắt kịp xu thế xóa dần bao cấp nhà nước, giảm dần sự can thiệp nhà
nước, giảm dần sự can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính, đồng thời
phát huy vai trò chủ động sáng tạo, tăng tính chủ động tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của các tổ chức KH&CN trong việc triển khai các hoạt động KH&CN
theo quy luật của kinh tế thị trường. Tuy vậy, nhìn chung các tổ chức
KH&CN vẫn còn mang nặng tư duy bao cấp, chậm đổi mới, chưa kịp thích
nghi với cơ chế kinh tế thị trường..
Tiếp theo là nhận thức của xã hội, nơi tiếp nhận kết quả của hoạt động
KH&CN cần có nhận thức chung về vai trò của KH&CN trong việc phát
triển đất nước, kinh tế xã hội. Thay đổi tư duy bao cấp trông chờ vào nhà
nước, cho rằng Nhà nước phải có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ KH&CN

* Trung Quốc: ở thời điểm 1992 số lượng t ổ chức KHCN là 5116
Các viện KH&CN thuộc Nhà nước ở Trung Quốc đầu tiên được hình thành
cơ bản thông qua việc chuyển giao từ Liên Xô, cùng với việc nhập ồ ạt
công nghệ công nghiệp trong những năm 50. Sau đó hệ thống này được
củng cố thêm bởi cơ chế kế hoạch tập trung ở Trung Quốc. Quy mô của
Viện nghiên cứu trong một số năm như sau:
- Năm 1985 có 7957 Viện gồm; 122 viện thuộc viện Hàn lâm khoa học với
32,2 nghìn cán bộ; 622 viện thuộc Bộ và ủy ban của chính phủ Trung ương
với 93 nghìn cán bộ; 3946 viện thuộc chính quyền địa phương cao hơn cấp
huyện với 105,8 nghìn cán bộ, 3267 viện cấp huyện.
- Năm 1986 có 8631 viện; bao gồm 122 viện thuộc Viện Hàn lầm với 34,5
nghìn cán bộ, 922 viện thuộc Bộ và ủy ban của Chính phủ Trung ương với
175,1 nghìn cán bộ, 4227 viện thuộc chính quyền địa phương cao hơn cấp
huyện với 114,7 nghìn cán bộ và 3360 viện thuộc cấp huyện

Tuy nhiên loại hình tổ chức này đã và đang bộc lộ nhiều nhược điểm rõ
như hoạt động không có hiệu quả, ít gắn với cuộc sống và tiêu tốn khoản lớn
kinh phí trở thành gánh nặng tài chính cho ngân sách Nhà nước. Các nhà quản
lý và các nhà nghiên cứu đã bỏ nhiều công sức tìm hiểu bản chất của hiện

18


tượng tiêu cực trong các tổ chức KH&CN và đã đưa ra giải pháp giao quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
1.3.2 Điều kiện để thực hiện cơ chế quản lý
Vấn đề giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức
KH&CN là một xu thế. Tuy nhiên, để tự chủ các tổ chức phải phát huy tác
dụng, đòi hỏi cần một số điều kiện.
Phát triển các quan hệ thị trường khoa học và công nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status