BỔ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TAO
BÔ TƯPHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG MINH HÀ
MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ T H ựC TIẺN VỂ
VĂN BÁN QUI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYEN
ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ LỊCH sử NHÀ Nước VÀ PHÁP LUẬT
Mã số:
60 38 01
LUẬN VÃN THẠC SỸ LUẬT HỌC
•
•
•
.
Người h ư ớ n g d ẫ n k h o a h ọ c : GS.TS.HOÀNG VÃN HẢO
THƯ VIỆN
IRUÒNG ĐAI H O C tU Ầ ĩ HA NỖI
PHÒNG Đ Ộ C _ _ J L ứ b ậ j 3
HÀ NỘI-2004
Đối tượng điều chỉnh của văn bản qui phạm pháp luật
9
của chính quyền địa phương
1.1.1.
Văn bản qui phạm pháp luật của chính quyền địa
11
phương là sự cụ thể hoá các qui định của pháp luật và
văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên
1. 1.2 .
Văn bản qui phạm pháp luật của chính quyền địa
13
phương điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh ở địa
phương
1. 2 .
Phân loại văn bản qui phạm pháp luật của Hội đồng
18
nhân dân và Uỷ ban nhân dân
1.3.
1.5.1.
Hiệu lực văn bản qui phạm pháp luật của chính quyền
địa phương theo không gian
44
1.5.2
Hiệu lực ván bản qui phạm pháp luật của chính quyền
45
( 1-5. Ị
địa phương theo đối tượng áp dụng
1.5.3
Hiệu lực văn bản qui phạm pháp luật của chính quyền
47
địa phương theo thời gian
Chirơng 2
TI lực TIỄN BAN HÀNH VẮN BẢN QUI PHẠM
2.1.
PÍÍÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỂN ĐỊA PHƯƠNG
Những thành tựu trong hoạt động xây dựng và ban hành
.59
văn bản qui phạm pháp luật của chính quyền địa
phương
2.2.2.
' Những hạn chế trong hoạt động ban hành văn bản qui
- 64
phạm pháp luật của chính quyền địa phương
C hương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỒI MỚI HOẠT
73
ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUI PHẠM PHÁP
LUẬT CỦA CHÍNH QUYÊN ĐỊA PHƯƠNG HIỆN
NAY
3.1.
Phương hướng đổi mới
73
3.2.
Tổ chức thực hiện và kiểm tra, xử lý văn bản qui phạm
90
pháp luật của chính quyền địa phương
KÉT LUẬN
DANH m ụ c t à i l i ệ u t h a m k h ả o
97
100
MỞ ĐẦU
l.Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói, xây dựng pháp luật là một chương trình hoạt động quan
trọng hàng đầu của bất kỳ Nhà nước nào. Pháp luật, trước hết là kết quả của
việc thể chế hoá các chủ trương, chính sách, đường lối, định hướng phát triển
của một quốc gia và trở thành qui ước hành xử chung cho mọi người trong xã
hội. Là một trong những yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật có
vai trò đặc biệt trong việc bảo đảm sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia,
đồng thời là công cụ quản lý xã hội hữu hiệu nhất của mỗi nhà nước. Điều 12
Hiến pháp 1992 đã ghi nhận: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không
ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này cho thấy, trong
công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân với
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì
việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật được xác định là một đòi hỏi
cấp thiết. Mặt khác, tăng cường pháp chế XHCN là điều kiện tối cần thiết bảo
đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
đồng thời cũng là đòi hỏi khách quan của đời sống xã hội, là nguyên tắc hiến
^. / \ .1
'
. /\
r
4.IV 1
r
/\
y
r
1Ạ
A.
Ã
__
_
Ã4 ^ 1
^
A .A
quyền địa phương ban hành còn hết sức tuỳ tiện, chất lượng không cao, tính
khả thi thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương,
không đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân... Những hạn chế này đã làm
nảy sinh hàng loạt các vấn đề xã hội như: tính khả thi, tính minh bạch của văn
bản qui phạm pháp luật không được bảo đảm, quá trình kiểm tra thực hiện văn
bản qui phạm pháp luật không phát huy hiệu quả, hầu như không có sự tham
gia của nhân dân vào quá trình xây dựng văn bản qui phạm pháp luật.
Để giải quyết các vấn đề xã hội này đòi hỏi phải có một đạo luật qui
định về thẩm quyền, trình tự và thủ tục ban hành văn bản qui phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Nhưng cũng trên thực tế, cho
đến nay đạo luật cần thiết này vẫn đang trong thời kỳ “dự thảo”, thăm dò và
vẫn bị bỏ ngỏ mặc dù Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật năm 1996 đã
được sửa đổi, bổ sung và thông qua ngày 16/12/2002.
Xuất phát từ tư tưởng đề cao pháp quyền, xây dựng Nhà nước kiểu
mới, pháp luật kiểu mới, Nhà nước của dân, do dân, vì dân và để hạn chế tới
mức thấp nhất những tồn tại trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản
qui phạm pháp luật của chính quyền địa phương, trước mắt, cần hoàn thiện
các qui định pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành
văn bản qui phạm của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân. Đây là một đòi
hỏi của xã hội và cũng là yêu cầu bức xúc từ phía các cấp chính quyền địa
phương. Việc đặt ra vấn đề này trong thời điểm hiện nay không còn là điều
mới mẻ, đành rằng trong lý luận cũng như trong thực tiễn, việc xây dựng
những qui định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành văn bản qui phạm
pháp luật của chính quyền địa phương là vấn đề gặp không ít khó khăn và còn
nhiều ý kiến.Bởi vì, đây là một lĩnh vực hoạt động liên quan trực tiếp tới
nhiều vấn đề sống còn của địa phương.
Do vậy, chỉ có thể hiểu thấu đáo trạng thái của những bất cập trong
quản lý Nhà nước, quản lý xã hội ở địa phương nếu như chúng ta không bỏ
qua việc nghiên cứu để hoàn thiện qui trình xây dựng văn bản qui phạm pháp
bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật” sổ 7 năm 2002; Vụ pháp luật Hình
sự - Hành chính, Bộ Tư pháp: Chuyên đề hội thảo về “ Dự án luật sửa đổi, bổ
sung Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật năm 1996” Hà nội năm2002,
chuyên đề “Xây dựng và kiểm tra văn bản qui phạm pháp luật của bộ, ngành,
và địa phương” Hà nội năm 2003; Tiến sỹ Nguyễn Văn Động “Những vấn đề
cơ bản của môn học lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật” NXB Công an
1 /V
1A
r
rp •A
~
"V Ỵ
n*
A
T~\> 1
T
A
CL~\ t
Mục đích của luận văn là bước đầu nghiên cứu một cách có hệ ihống
những vẩn đề lý luận và thực tiễn về văn bản qui phạm pháp luật của chính
quyền địa phương; đề cập những bảo đảm cho hoạt động xây dựng và ban
hành văn bản qui phạm pháp luật của chính quyền địa phương về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục, từ đó tìm ra những phương hướng và biện pháp thích hợp
nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Đ Ì thực hiện mục đích nghiên
cứu, tác giả tập trung vào những nội dung cơ bản sau đây:
- Một số vấn đề lý luận cơ bản về văn bản qui phạm pháp luật của
chính quyền địa phương trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Thực tiễn xây dựng và ban hành văn bản qui phạm pháp luật của các
cấp chính quyền địa phương.
- Một số phương hướng đổi mới nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng
văn bản qui phạm phap luật của chính quyền địa phương.
- Một số đề xuất nhằm hoàn thiện những qui định pháp luật về thẩm
quyền, trình tự,thủ tục ban hành văn bản qui phạm pháp luật của chính quyền
địa phương.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm của
chủ nghĩa Mác Lênin và tư tướng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các
quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
của dân, do dân, vì dân; những đánh giá về việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật được trình bày trong các văn kiện đại hội, các Nghị quyết của
Đảng Cộng sản Việt nam; các văn bản pháp luật Nhà nước đã ban hành, các
báo cáo, tổng kết của chính quyền địa phương về hoạt động xây dựng pháp
luật nói chung và văn bản qui phạm pháp luật nói riêng.
Phương pháp luận nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp cụ thể được sử dụng để nghiên
cứu đề tài bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống. Bên cạnh
Nam, các cơ quan chính quyền địa phương có một vị trí hết sức quan trọng
trong việc thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng và quản lý
mọi mặt đời sống xã hội, kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng.Trên nhiều
■
phương diện của đời sống xã hội, các cơ quan chính quyền địa phương luôn
đóng vai trò trực tiếp nối liền Đảng, Nhà nước với nhân dân, trực tiếp đưa
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.
Trên tinh thần đổi mới của Đảng, Hiến pháp năm 1992 đã đặt nền tảng,
cơ sở pháp lý cho sự đổi mới về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà
nước ở địa phươne,. Theo đọ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được
hình thành trên nguyên tắc phân chia lãnh thổ tạo thành một hệ thống thống
nhất, hệ thống chính quyền địa phương. Trên thực tế, Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mình với hai
tư cách. Trước hết, là những cơ quan Nhà nước đóng tại địa phương, là bộ
phận của quyền lực nhà nước thống nhất không phân chia, thay mặt Nhà nước
trung ương giải quyết những vấn đề chung của Nhà nước ở địa phương, đồng
thời, là những cơ quan đại diện cho cộng đồng dân cư ở cơ sở giải quyết
những vấn đề có ý nghĩa địa phương, là những pháp nhân thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân trên một đơn vị hành chính lãnh thổ nhất định. Hiến
pháp 1992 qui định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở
địa phương, đại cL ện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân,
do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương
và cơ quan nhà nước cấp trên” (Điều 119). Như vậy, vị trí pháp lý của Hội
đồng nhân dân được xem xét theo hai góc độ:Thứ nhất, Hội đồng nhân dân cơ
quan quyền lực nhà nước ở địa phương; thứ hai, Hội đồng nhân dân cơ quan
đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở địa
phương. Quyền lực của Hội đồng nhân dân được giới hạn trong phạm vi đơn
quản lý thẩm quyền chung, uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý toàn
diện theo lãnh thổ đối với mọi ngành, mọi lĩnh vực thuộc địa phương, bảo
đảm thi hành pháp luật, các qui định của cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng
cấp, giám sát việc thi hành pháp luật đối với các cơ quan đóng tại địa phương
ừong phạm vi thẩm quyền về những vấn đề thuộc thẩm quyền quản lý theo
lãnh thổ.
Để thực hiện các nhiệm vụ do pháp luật qui định, các cơ quan Nhà
nước ở địa phương đã thông qua các hoạt động quản lý, điều hà ih mọi hoạt
động của các cơ quan, tổ chức và công dân trong địa phương. Một hoạt động
quan trọng nhất trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình là
các cơ quan chính quyền địa phương có thẩm quyền ban hành văn bản qui
phạm pháp luật.Theo các qui định của Hiến pháp năm 1992 và Luật ban hành
văn bản qui phạm pháp luật, văn bản qui phạm pháp luật do Hội đồng nhân
dân và Ưỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản qui phạm pháp luật của
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp
trên.
Như vậy, về mặt lý luận, trong hệ thống văn bản pháp luật nói chung và
văn bản qui phạm pháp luật nói riêng, vị trí, tính chất Nghị quyết của Hội
đồng nhân dân và Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân có thể được xem
xét dựa trên vị trí pháp lý của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân là
những chủ thể ban hành chúng. Và từ vị trí này có thể thấy rõ vai trò của văn
bản qui phạm pháp luật của chính quyền địa phương trong hệ thống văn ban
pháp luật của Nhà nước ta.
1.1.1.
Văn bản qui phạm pháp luật của chính quyền địa phương là
sự cụ thể hoá các qui định của pháp luật và văn bản của CO' quan nhà
nưóc cấp trên.
Trước những đòi hỏi từ thực tiễn, nhiệm vụ hướng dẫn, thi hành Hiến
pháp, Luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên là một nhiệm vụ tất yếu
của các cấp chính quyền địa phương khi ban hành văn bản qui phạm pháp luật
để cụ thể hoá các qui định của pháp luật, và văn bản của cơ quan nhà nước
cấp trên vào từng hoàn cảnh, từng điều kiện cụ thể của địa phương. Nhiệm vụ
này xuất phát từ vị trí, vai trò tính chất pháp lý của các cơ quan chính quyền
địa phương trong bộ máy Nhà nước, xuất phát từ nguyên tắc tập trung dân
chủ và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chi rc và hoạt động của
các cơ quan Nhà nước, trong đó có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
Cũng như các cơ quan nhà nước khác, hoạt động ban hành văn bản qui
phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước địa phương là một trong những
hoạt động chủ yếu nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo
luật định. Những chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan nhà nước
địa phương được Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên qui định. Cho nên, những văn bản do các cơ quan nhà nước địa phương
ban hành phải căn cứ vào qui định của Luật, phải trên cơ sở và nhằm thi hành
luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, làm cho các qui định của
luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên được thực hiện trên thực tế và
đi vào đời sống xã hội, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương.
Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, các cơ quan chính quyền địa
phương ban hành các văn bản trên cơ sở thi hành trực tiếp các qui định của
luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và cụ thể hoá các qui định này
để thi hành ở địa phương. Tuy nhiên, cũng có những trưo.ig hợp khác, khi
không có qui định của Luật và văn bản của các cơ quan cấp trên về những vấn
đề mới phát sinh tại địa phương, để kịp thời điều chỉnh những quan hệ xã hội
mới phát sinh này, các cơ quan chính quyền địa phương căn cứ vào chức
năng, quyền hạn của mình theo luật định có quyền ban hành các văn bản qui
phạm pháp luật. Nhưng những văn bản đó không được trái với luật và các văn
quan, tổ chức và công dân ở địa phương thực hiện được trên thực tế các quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời thi hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ
pháp lý được Hiến pháp và pháp luật qui định.
Trên thực tế, các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các cơ quan, tổ chức
và công dân mặc dù được Hiến pháp, Luật và các văn bản của cơ quan Nhà
nước ở Trung ương qui định, nhưng muốn thực hiện chúng trên thực tế, trong
rất nhiều trường hợp đều phải thông qua hệ thống ván bản qui phạm pháp luật
của chính quyền địa phương. Hoạt động ban hành văn bản qui phạm của Hội
đồng nhân dân và Ưỷ ban nhân dân vì thế có một vị trí vô cùng quan ừọng và
liên quan đến tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân, thuộc tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội ở địa phương.
Xuất phát từ vị trí, vai trò và chức năng của các cơ quan chính quyền
địa phương trong bộ máy Nhà nước, chính quyền địa phương có vai trò quan
trọng trong việc trực tiếp tổ chức, triển khai thực hiện và kiểm tra, giám sát
việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương. Có thể nói rằng, mọi chủ
trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước có đi vào
cuộc sống hay không, tác dụng và hiệu quả, hiệu lực như thế nào, suy cho
cùng phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của chính quyền địa phương trong việc
triển khai, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện trên thực tế Hiến pháp
và pháp luật ở địa phương, trong đó không thể không nói tới hoạt động ban
hành văn bản qui phạm pháp luật của hệ thống cơ quan này. Nhất là ở nước ta
hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ chiến lược do Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX của Đảng đề ra: Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế... thì vai trò và trách
nhiệm của Hội đồng nhân dân và Ưỷ ban nhân dân trong việc ban hành văn
bản qui phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ trên tất cả các lĩnh vực
của đời sổng xã hội càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.'
Bởi vì, một trong những phương tiện quan trọng, giữ vị trí hàng đầu
bản pháp luật đã được cơ quan Nhà nước trung ương ban hành; Ngoài ra, các
cấp chính quyền N hà nước ở địa phương còn có nhiệm vụ ban hành văn bản
qui phạm nhằm thể chế hoá Nghị quyết của cấp Đảng uỷ địa phương, điều
chỉnh các mối quan hệ giữa chính quyền với công dân trong địa phương. Với
những đặc trưng này có thể khẳng định văn bản qui phạm pháp luật do các
cấp chính quyền địa phương ban hành là bộ phận cấu thínih hệ thống pháp
luật của Nhà nước.
Trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản qui phạm pháp luật của
các cấp chính quyền địa phương, nguyên tắc xuyên suốt là: Văn bản qui phạm
do địa phương ban hành không được trái Hiến pháp, Luật và các văn bản do
cơ quan Nhà nước cấp trên ban hành. Nguyên tắc này bảo đảm tính thống
nhất nội tại của hệ thống pháp luậi bảo đảm tính tập trung thống nhất trong
hoạt động quản lý, đồng thời cũng tạo điều kiện cho các cấp chính quyền Nhà
nước ở địa phương phát huy tính chủ động, sáng tạo, phát huy hiệu lực của hệ
thống pháp luật trong hoạt động quản lý.
Quán triệt nguyên tắc cơ bản trên, văn bản qui phạm pháp luật của các
cấp chính quyền địa phương có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội
phát sinh ở địa phương, của địa phương, có liên quan đến đời sống cộng đồng
dân cư trên địa bàn thuộc thẩm quyền quản lý.
Trên thực tế, pháp luật hiện hành giao thẩm quyền cho Hội đồng nhân
dân ban hành Nghị quyết, Uỷ ban nhân dân ban hành Quyết định, chỉ thị để
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trên cơ sở nội dung điều 1 và điều
19 Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật, Nghị định số 101/CP ngày
23/9/1 c)97 đã cụ thể hoá tại điều 1:
“ 1. Văn bản qui phạm pháp luật là văn bản có đầy đủ các yếu tố sau
đây:
a/ Văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành với hình thức
được qui định tại điều 1 của Chương I và điều 19 chương II của Luật ban
PHÂN LOẠI VĂN BẢN QUI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN
Hoạt động ban hành văn bản qui phạm pháp luật là một trong những
hình thức pháp lý quan trọng của chính quyền địa phương và là phương tiện
quản lý hữu hiệu nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật ở địa phương.
Xuất phát từ tính đa dạng về nội dung, mục đích, chủ thể ban hành và tính
chất pháp lý của các văn bản do chính quyền địa phương ban hành, về mặt lý
luận, khoa học pháp Jý phân loại văn bản của các cơ quan chính quyền địa
phương thành các loại khác nhau, theo các ticu chí khác nhau. Cụ thể là:
- Căn cứ vào tính chất pháp lý
Văn bản của các cơ quan chính quyền địa phương được phân loại
thành: Văn bản qui phạm pháp luật và văn bản không mang tính qui phạm,
bao gồm: Văn bản chủ đạo, văn bản cá biệt và vãn bản hành chính thông
dụng.
- Căn cứ vào chủ thể ban hành
Văn bản qui phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân ban hành là Nghị
quyết có chứa các qui tắc xử sự chung. Văn bản qui phạm pháp luật do Uỷ
ban nhân dân ban hành là Quyết định, chỉ thị chứa đựng các qui tắc xử sự
chung.
- Căn cứ vào thứ bậc hiệu lực pháp lý
Nghị quyết của HĐND các cấp ban hành dựa trên cơ sở các văn bản qui
phạm pháp luật của Quốc hội, ủ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và
các cơ quan nhà nước cấp trên để xác định phương hướng, nhiệm vụ phát
triển kinh tế-xã hội, văn hoá, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng...
trên phạm vi lãnh thổ thuộc thẩm quyền quản lý của Hội đồng nhân dân.
Quyết định và Chỉ thị của UBND các cấp ban hành căn cứ vào các văn
áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan ừong phạm vi
đơn vị hành chính lãnh thổ của cấp chính quyền địa phương tương ứng.[16
tr.4] [16, tr.44].
Như vậy, xét về bản chất và những dấu hiệu cơ bản, văn bản qui phạm
pháp luật của các cơ quan chính quyền địa phương và văn bản qui phạm pháp
luật của các cơ quan nhà nước trung ương là thống nhất. Vì chúng đều là kết
quả của hoạt động sáng tạo pháp luật của các cơ quan Nhà nước trong bộ máy
Nhà nước thống nhất, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ chung của Nhà
nước.
Tuy nhiên, sự khác nhau giữa văn bản qui phạm của chính quyền địa
phương với văn bản qui phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở Trung
ương là về hình thức văn bản, hiệu lực pháp lý, hiệu lực theo không gian và
đối tượng điều chỉnh.
1.3.
THẨM QUYỀN BAN HÀNH VĂN BẢN QUI PHẠM PHÁP
LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Chính quyền địa phương ở nước ta là một bộ phận của chính quyền
Nhà nước thống nhất, có chức năng lãnh đạo và quản lý Nhà nước đối với các
lĩnh vực kinh tế- xã hội ở địa phương.Trong hoạt động của mình, chính quyền
địa phương ban hành văn bản qui phạm pháp luật là hình thức pháp lý quan
trọng để thực hiện chức năng, thẩm quyền mang tính quyền lực Nhà nước ở
địa phương. Trên thực tế, Hiến pháp, Luật và văn bản của các cơ quan Nhà
nước ở Trung ương luôn thể hiện là sự vận động của quá trình “Nhà nước
hoá” các nhu cầu phát triển khách quan của đời sống xã hội, là kết quả của sự
kết hợp tất yếu giữa các yếu tố khách quan và chủ quan, bởi vậy phàn lớn
những văn bản này không thể bao quát được tất cả các mức độ, các khía cạnh
đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003; điều 1, Điều 19- Luật ban hành
văn bản qui phạm pháp luật năm 1996).
Nhưng khác với các cơ quan Nhà nước ở Trung ương, Luật ban hành
văn bản qui phạm pháp luật không qui định cụ thể Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân các cấp có thẩm quyền ban hành văn bản qui phạm pháp luật về
những vấn đề gì (thẩm quyền về nội dung), mà chỉ qui định chung: “...Thẩm
quyền, thủ tục và trình tự ban hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Quyết
định, Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân do pháp luật qui định” điều 19.
*Đối với Hội đồng nhân dân, Hiến pháp 1992 qui định: “Căn cứ vào
Hiến pháp, Luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân
dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh hiến pháp
và pháp luật ở địa phương, về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách;
về quốc phòng an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời
sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho và làm tròn
nghĩa vụ đối với cả nước” (Điều 120). Đè cụ thế hoá qui định này, Luật tổ
chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 đã qui định nhiệm vụ
và quyền hạn của Hội đồng nhân dân trong c Ì9 lĩnh vực (tại các điều từ 11
đến 18). Nhìn chung, các qui định này không có sự phân biệt cấp tỉnh so với
cấp huyện, cấp huyện so với cấp xã, mà chỉ có các điều luật qui định về nhiệm
vụ, quyền hạn chung cho Hội đồng nhân dân các cấp trên các lĩnh vực được
ghi nhận tại các điều từ 1 lđến 18. Mặc dù, trên thực tế cùng tồn tại ba cấp
(Tỉnh, Huyện, Xã), nhưng các qui định trên không qui định cụ thể cho từng
cấp, mà có tính chất đánh đồng cho cả ba cấp.
Ngày 25 tháng 6 năm 1996, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp
lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân ở mỗi cấp với mục đích cụ thể hơn một bước nhiệm vụ, quyền hạn của
Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp. Theo đó, một loạt các điều
qui định về nhiệm vụ, chức năng của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã trên các lĩnh vực: Kinh tế, văn hoá, khoa học,