Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI:
RÈN KỸ NĂNG CẢM THỤ VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
Lĩnh vực/Môn
: Ngữ văn
Cấp học
: THPT
Tên tác giả
: Nguyễn Đức Điệp
Đơn vị công tác : Trường THPT Lưu Hoàng
Chức vụ
: Bí thư Đoàn trường
NĂM HỌC: 2018 – 2019
0/20
7. Kĩ năng tìm hiểu kết cấu truyện....................................................................................14
8. Kĩ năng so sánh, liên hệ................................................................................................15
9. Kĩ năng cảm thụ văn xuôi Việt Nam hiện đại xuất phát từ hình tượng nhân vật..........16
9.1. Nhân vật văn học và vị trí của nó trong tác phẩm.....................................................16
9.2. Loại hình nhân vật văn học........................................................................................16
9.3. Các phương thức, phương tiện và biện pháp thể hiện nhân vật.................................16
10. Xác định mức độ các đơn vị kiến thức trong tác phẩm vă xuôi..................................17
IV. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM...................................................................................19
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ....................................................................................20
I. KẾT LUẬN..................................................................................................................20
II. KHUYẾN NGHỊ........................................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/20
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Mỗi sáng tác nghệ thuật đều là một phát hiện sáng tạo độc đáo của
người nghệ sĩ, họ gửi vào đó những cảm nhận, trăn trở và thông điệp về cuộc
đời. Văn học cũng là một đứa con tinh thần của nhà văn song phải cùng với bạn
đọc thì các từ, ngữ, câu, chữ chết cứng mới thực sự được cựa, quậy, có linh hồn
và đi vào cuộc sống. Nhà thơ Mosac từng quan niệm: “Tác phẩm thực ra chỉ
được tạo thành bởi những kí hiệu câm lặng, những ngôn ngữ chết, cho nên bản
thân nó chưa có giá trị gì, nếu có cũng chỉ là đôi chút. Cái quan trọng là vai trò
của người đọc. Chính bạn đọc sẽ tạo nên giá trị cho tác phẩm…”; Ông cũng
khẳng định: “không có bạn đọc thì không chỉ có sách của chúng ta mà cả những
tác phẩm của Hôme, Đăngtơ, Puskin, Đôxtôiepxki… tất cả chỉ là đống giấy
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở khoa học bao gồm sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc
đề xuất “Rèn kĩ năng cảm thụ văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình
Ngữ văn 12”.
Nghiên cứu, điều tra thực trạng hứng thú và cách cách cảm thụ văn xuôi ở
học sinh của các lớp mình giảng dạy.
Áp dụng và đề xuất các kĩ năng cảm thụ văn xuôi hiện đại.
IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Các tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn 12.
Học sinh khối 12 thuộc 2 lớp 12a1, 12a4.
Phạm vi thời gian thực hiện: trong năm học 2018 – 2019.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp điều tra: Điều tra khảo sát thực trạng dạy học của giáo viên,
thực trạng cảm nhận văn học của học sinh.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh đối chiếu kết quả học tập của
học sinh trước và sau khi triển khai đề tài để rút ra kết luận khoa học.
Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: Phân tích thực trạng, tác
dụng tích cực của các giải pháp để tổng kết thành kinh nghiệm.
3/20
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sơ lý luận
Theo đại từ điển tiếng Việt “cảm thụ là nhận biết một cách tinh tế
môn thứ yếu. Thực trạng này đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động cảm thụ
các tác phẩm văn chương nói chung và các tác phẩm văn xuôi nói riêng.
Chính vì thế tâm thế của học sinh với môn học ngay từ đầu đã không mấy
hứng thú. Với mục đích chỉ cần nắm nội dung cơ bản và cấu trúc bài làm để
phục vụ các kì thi. Cho nên các em thụ động trong học tập, không khí giờ học
nhàm chán.
Về phía giáo viên: hầu hết giáo viên đã ý thức sâu sắc phải đổi mới
phương pháp dạy học. Trong giảng dạy, các thầy cô đã phát huy tính tích cực,
4/20
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
chủ động. Học sinh được bày tỏ ý kiến, tình cảm, cách hiểu của mình về bộ
môn, được thực hành giao tiếp nhiều hơn. Tài năng sư phạm của người dạy được
dành nhiều hơn cho việc học sinh tự tìm hiểu cảm thụ tác phẩm.
Tuy nhiên, một thực tế khó thay đổi, ăn sâu vào trong nhận thức và thành
thói quen của không ít giáo viên, việc tiếp nhận và đổi mới phương pháp còn
chậm. Giáo viên còn làm việc quá nhiều, chú trọng cung cấp nhiều thông tin
kiến thức cho học sinh. Chính điều này đã làm cho học sinh rơi vào thế bị động
trong việc tiếp thu kiến thức, không tạo điều kiện cho các em suy nghĩ sáng tạo,
độc lập. Dần dần đã làm tê liệt hứng thú và khả năng tư duy sáng tạo của học
sinh trong các giờ đọc hiểu các tác phẩm văn xuôi.
II. THỰC TRẠNG CẢM THỤ VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1. Về phía giáo viên
Các giáo viên yêu nghề, có trách nhiệm với nghề luôn luôn trăn trở về bài
dạy của mình. Luôn tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ. Tiếp cận với các
phương pháp dạy học mới để đáp ứng mục tiêu giáo dục. Các thầy cô đã chú
trọng đổi mới phương pháp day học để khởi dậy niềm hứng thú với văn học
trong học sinh.
lại, dựa dẫm trong quá trình tiếp cận tác phẩm. Hầu hết các tác phẩm văn học
đều là những văn bản tiêu biểu về cả nội dung lẫn nghệ thuật. Lâu nay, trong quá
trình dạy học, thay vì giáo viên nên tổ chức cho học sinh tiếp nhận từ góc nhìn
của chính các em, phân tích các giá trị theo cảm thức của chính trái tim các em
thì giáo viên thường “nói hộ”, “cảm thụ hộ” cho học sinh. Lâu dần thành quen,
dẫn đến tình trạng tiếp thu một chiều mà không có thói quen phản biện. Chính vì
vậy, có quá nhiều cách cảm thụ theo “lối mòn” cho những tác phẩm văn học từ
thế hệ này sang thế hệ khác khiến học sinh chán ngán.
2. Về phía học sinh
Khi được điều tra khảo sát về hứng thú học tập môn Ngữ văn nói chung
và các tác phẩm văn xuôi nói riêng, các em tỏ vẻ không mấy yêu thích. Phần vì
xu thế xã hội trong việc chọn ngành nghề. Phần vì không có thời gian để đọc
những tác phẩm dài như vậy. Sau khi dạy bài “Rừng xà nu” xong, tôi không khỏi
trăn trở vì tiết dạy của mình, vì hứng thú học và cách tiếp cận của học sinh.
Tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát bằng phiếu về mức độ hứng thú học tập
và bài kiểm tra về sự cảm nhận nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ở 2 lớp
12A1 (sĩ số: 41 học sinh) và 12A7 (sĩ số 32 học sinh). Kết quả cụ thể như sau:
Hứng thú học tập: (Bảng 1)
Có hứng thú
Bình thường
Không có hứng thú
Tổng số
học sinh
Số lượng
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12A1
15,6
3
15
46,88
9
28,12
3
9,37
Nhìn vào kết quả khảo sát trên, ta nhận thấy:
Tỷ lệ học sinh hứng thú với môn Ngữ văn còn thấp, chỉ chiếm 19,18%,
kết quả bài kiểm tra khảo sát không cao, tỷ lệ học sinh khá giỏi ít, học sinh có
điểm yếu kém còn nhiều. Nhiều bài làm máy móc theo bài giảng của giáo viên,
6/20
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
còn nặng về kể lại tác phẩm. Viết bài văn nghị luận cảm thụ nhưng thiên về dạng
văn tự sự hơn.
Thực tế này sẽ là những khó khăn, thách thức lớn đối với giáo viên và học
sinh. Vấn đề đặt ra là giáo viên cần phải có các biện pháp để tạo hứng thú cho
học sinh trong các giờ đọc hiểu tác phẩm văn xuôi và từ đó nâng cao chất lượng
người đọc - học sinh. Sự sáng tạo trong tiếp nhận văn học ở người đọc không chỉ
thể hiện ở cách đọc “tri âm” mà còn thể hiện ở cách đọc “kí thác”. Đồng thời với
việc truyền đi tiếng nói của nhà văn, người đọc “thổi” vào tác phẩm một luồng
sinh khí mới mang hơi thở của thời đại và hoàn cảnh sống riêng tư. Những
nghiên cứu khoa học về đọc diễn cảm ở người đọc nói chung và bạn đọc học
sinh nói riêng đều cho biết: đọc diễn cảm không chỉ là phương thức thể hiện sự
7/20
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
cảm thụ văn học tươi mới và sáng tạo mà còn là dạng hoạt động kích thích sự
sáng tạo trong tiếp nhận văn chương.
Nhờ đọc diễn cảm, chúng ta thấy một không gian yên ả, thanh bình, tĩnh
lặng vừa cổ kính, hoang sơ, vừa tươi mới đầy sự sống: “Thuyền tôi trôi trên
sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lý, đời Trần, đời Lê,
quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương
ngô, nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh
đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm
sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một
nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” (Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân)... Tất cả chỉ
hiện ra trong nội quan của người đọc. Hình ảnh sông Đà hiện nên hoang dại mà
trữ tình hơn nhờ đọc diễn cảm. Nói cách khác người đọc chỉ trông thấy nó bằng
“con mắt thứ ba”. Đi qua “cây cầu đọc diễn cảm”, người đọc bước vào thế giới
diệu kì vừa quen vừa lạ của văn chương. Theo tâm lí học cảm thụ, âm vang của
giọng đọc đã kích thích quá trình tri giác, tưởng tượng và tái hiện hình ảnh ở
người đọc, đưa người đọc vào thế giới của tác phẩm, tạo nên trạng thái tâm lí
cần có khi đọc sách hay xem nghệ thuật mà người ta quen gọi là “nhập thân”.
1.2. Các yêu cầu của việc đọc diễn cảm
1.2.1. Đọc đúng
trong việc cảm thụ văn học. Giáo sư Phan Trọng Luận cho rằng: “Tất cả những
gì nhà văn sáng tác đều có cội nguồn trực tiếp ở những sự kiện trong cuộc sống
riêng tư của anh ta, ở tâm tư tình cảm của nhà văn đó”
Mọi tác phẩm đều xuất phát từ những rung động, những trải nghiệm, hiểu
biết của nhà văn mà có. Do vậy cảm thụ văn xuôi Việt Nam hiện đại không thể
không tìm hiểu những nét chính trong cuộc đời nhà văn. Đặc biệt là những yếu
tố ảnh hưởng đến tác phẩm của họ.
Tìm hiểu về tác giả bao gồm những phương diện sau:
Họ tên, bút danh, ngày tháng năm sinh, quê quán, nơi sinh, ngày tháng
năm mất, nơi mất.
Chi tiết về hoàn cảnh xuất thân, gia đình riêng, những thăng trầm trong
cuộc đời, những đặc điểm về cá tính tác giả.
Trong thực tế, nhiều giáo viên chưa thực sự chú ý điều này, khai thác phần
tác giả vẫn trong sự độc lập với các sáng tác, chưa gắn với tác phẩm đang tìm
hiểu. Còn thiên về cung cấp thông tin.
Giáo viên nên rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác các thông tin quan
trọng ảnh hưởng đến sáng tác, định hướng cho việc cảm thụ nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm.
Ví dụ:. khi cảm nhận tác phẩm Người lái đò sông Đà, cần phải định hướng
cho học sinh tìm hiểu về tác giả Nguyễn Tuân với các nội dung sau:
Tiểu sử và con người
Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 ở phố Hàng Bạc, Hà Nội
trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã suy tàn. Quê ông ở làng Nhân Mục
(thường gọi nôm là làng Mọc), nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh
Xuân, Hà Nội.Thân sinh của nhà văn là cụ Nguyễn An Lan. Ngay từ nhỏ,
Nguyễn Tuân “đã được nuôi trong nền văn hóa cổ truyền của dân tộc, với những
phong tục nề nếp, với cách ăn ở vui chơi từ một thời xưa đang tàn dần và biến
đổi, ngổn ngang vì sự xâm nhập của văn minh máy móc và hàng hóa từ phương
Tây ào đến”. Hoàn cảnh gia đình và môi trường ấy đã có ảnh hưởng sâu sắc tới
tư tưởng, cá tính và sáng tác của nhà văn sau này.
Tú, những con người tài hoa bất đắc chí, thì giờ đây, hình tượng chính trong
sáng tác của ông là nhân dân lao động và chiến sĩ trên mặt trận vũ trang, những
con người bình thường mà vĩ đại: Đường vui(1949), Tình chiến dịch (1950), Tùy
bút kháng chiến và hòa bình (tập I – 1955, tập II – 1956), Sông Đà (1960), Hà
Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972),.. đánh dấu những chặng đường mới của Nguyễn
Tuân trên con đường nghệ thuật gắn bó với dân tộc, với nhân dân và đất nước.
Phong cách nghệ thuật:
Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo. Môi trường,
hoàn cảnh sống và cá tính của Nguyễn Tuân thời kì trước cách mạng đương
nhiên đưa ông đến con đường nghệ thuật lãng mạn chủ nghĩa.
Nguyễn Tuân là một cây bút tài hoa và uyên bác. Tài hoa trong việc dựng
người, dựng cảnh, tài hoa trong việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, trong những
so sánh, liên tưởng táo bạo, bất ngờ với những hình ảnh đẹp đầy gợi cảm; uyên
bác trong việc vận dụng những kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để làm
phong phú và giàu có thêm khả năng diễn tả của nghệ thuật văn chương.
Nguyễn Tuân là người có cá tính mạnh mẽ, có lối sống tự do phóng túng
và sự ý thức sâu sắc về “cái tôi” cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tùy
bút như một điều tất yếu.
Nguyễn Tuân là một trong những bậc thầy của ngôn ngữ văn xuôi hiện
đại. Ông có một kho từ vựng phong phú, có khả năng tổ chức câu văn xuôi giàu
giá trị tạo hình, có nhạc điệu và biết “co duỗi nhịp nhàng”.
10/20
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
Nguyễn Tuân là nhà văn có giọng điệu riêng. Giọng văn của Nguyễn Tuân
vừa trang nhã, cổ kính, vừa sắc sảo, hiện đại.
Tất cả các yếu tố trên đều được thể hiện rõ trong tác phẩm Người lái đò
4.1. Đề tài
Đề tài là phạm vi hiện thực mà nhà văn lựa chọn miêu tả, thể hiện, tạo
thành chất liệu của thế giới hình tượng trong tác phẩm, đồng thời là sơ sở để từ
đó đặt ra vấn đề mà mình quan tâm. Có thể nói đề tài là khái niệm trung gian
giữa thế giới hiện thực được thẩm mĩ hoá trong tác phẩm và bản thân đời sống.
11/20
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
Các hiện tượng đời sống có thể liên kết với nhau thành loại theo mối liên
hệ bề ngoài giữa chúng. Cho nên, có thể xác định đề tài văn học theo giới hạn bề
ngoài của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm: Đề tài thiên nhiên,
loài vật, sản xuất, cải cách ruộng đất, chiến đấu, kháng chiến... Việc lựa chọn đề
tài bước đầu bộc lộ khuynh hướng và ý đồ sáng tác của tác giả. Chính vì vậy,
trước khi đọc hiểu chi tiết tác phẩm, giáo viên nên định hướng để học sinh phát
hiện ra đề tài của tác phẩm là gì.
Ví dụ: Các sáng tác của Kim Lân thường xoay quanh đề tài chính đó là đề
tài người nông dân nghèo. Với đề tài trên, nhà văn thể hiện sự gắn bó sâu sắc
của mình đối với cuộc sống, con người.
4.2. Chủ đề
Chủ đề là vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên, đặt ra qua
nội dung cụ thể của tác phẩm văn học.
Nếu khái niệm đề tài giúp ta xác định: Tác phẩm viết cái gì? Thì khái
niệm chủ đề lại giải đáp câu hỏi: Vấn đề cơ bản của tác phẩm là gì? Vì vậy chủ
đề và tư tưởng là hạt nhân cơ bản của nội dung tác phẩm.
Như vậy, trong việc cảm thụ văn xuôi, nếu giáo viên không hướng dẫn
học sinh vào chủ đề của tác phẩm thì trong quá trình cảm thụ, học sinh dễ có
nhiều liên tưởng dàn chải, không đi sâu vào nội dung trọng tâm. Trong nhà
không biết đến nhan đề, hoặc không xuất phát từ nhan đề - hiệu quả giao tiếp có
thể giảm đi khá nhiều. Nhan đề thường giữ vị trí quan trọng như những tín hiệu
chỉ dẫn con đường đi vào nghệ thuật của tác phẩm
Việc đặt nhan đề nói riêng và quá trình sáng tạo tác phẩm nói chung, có
quan hệ mật thiết với vốn sống, kỉ niệm sâu sắc của tác giả. Trường hợp,
Nguyễn Trung Thành viết “Rừng xà nu” là như vậy. Cái đêm ngồi viết truyện,
nhà văn nhớ về cuộc chia tay của mình với Nguyễn Thi tại khu rừng xà nu bát
ngát, vạm vỡ phía tây Thừa Thiên. Hình ảnh đầu tiên đến dưới ngòi bút tác giả,
chảy ra tự nhiên thành mạch truyện mênh mang là một rừng xà nu hùng vĩ. Nếu
không có sự từng trải, không được sống trong không khí tráng ca của thời đại
chống Mỹ, chắc chắn Nguyễn Trung Thành không có “Rừng xà nu”. Nhan đề tác
phẩm ghi lại cái ngọn nguồn của ý đồ nghệ thuật. Ngay nhan đề của câu chuyện
đã gợi ra một tình huống độc đáo, hấp dẫn và giàu ý nghĩa gây sự chú ý cho
người đọc.
Khi dạy về tác phẩm Vợ nhặt, giáo viên phải hướng dẫn học sinh thấy
được ý nghĩa của nhan đề. Nói đến “vợ” là nói đến một phần quan trọng trong
cuộc đời của người đàn ông. Ấy thế mà có điều thiêng liêng hệ trọng ấy lại trở
thành điều rẻ rúm tầm thường. “Nhặt” – một động từ chỉ hành động ngẫu nhiên
không chủ tâm khi lấy một vật gì đó từ dưới đất lên hoặc vì quá nhỏ hoặc không
còn giá trị như nhặt cọng rơm, cọng cỏ ở ngoài đường. Như vậy, tên truyện gợi
ra một ý nghĩa sâu xa đối với bạn đọc: Đem đến cho người đọc cảm nhận ấn
tượng bi thảm về nạn đói khủng khiếp có một không hai trong lịch sử của nước
ta và người đọc cảm nhận tình cảnh thê thảm của những người nông dân nghèo
Việt Nam trong nạn đói 1945. Nhan đề “Vợ nhặt” gián tiếp tố cáo xã hội thực
dân phong kiến đặc biệt là bọn phát xít Nhật đã gây ra nạn đói 1945 đẩy người
lao động Việt Nam vào thảm cảnh bi cùng. Đồng thời qua nhan đề “Vợ nhặt”,
nhà văn Kim Lân còn khẳng định vẻ đẹp của tình người những người lao động ở
nước ta dù rơi vào thảm cảnh nào thì họ vẫn là những con người giàu lòng yêu
thương, khao khát tổ ấm gia đình và hướng tới tương lai tươi sáng.
6. Kĩ năng tìm hiểu tình huống truyện
quay đói quắt. Tình huống đó sẽ chi phối tới sự phát triển của truyện và cách
thức xây dựng các nhân vật. Như vậy bắt đầu từ việc khai thác tình huống khi
tiếp cận tác phẩm mà giáo viên có thể dẫn dắt học sinh phân tích nhân vật Tràng,
người vợ nhặt, bà cụ Tứ. Các lớp nghĩa của truyện sẽ được sáng tỏ cùng các giá
trị hiện thực và nhân đạo. Chủ đề tác phẩm về bài ca cuộc sống: Bên lề cái chết
con người ta vẫn mơ ước vẫn khát vọng là ý nghĩa cơ bản mà nhà văn Kim Lân
chuyển đến bạn đọc.
7. Kĩ năng tìm hiểu kết cấu truyện
Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo. Để xây dựng nên
chỉnh thể đó, nhà văn phải suy nghĩ tổ chức các yếu tố của tác phẩm sao cho có
nghệ thuật nhất: cái gì tả trước, cái gì tả sau, chi tiết nào tô đậm, chi tiết nào
chấm phá, sắp xếp các sự kiện, các chương, hồi như thế nào…cách tổ chức như
vậy gọi là kết cấu của tác phẩm.
Kết cấu tác phẩm không chỉ là liên kết các hiện tượng, con người. Mối
quan tâm lớn nhất của nhà văn là làm sao sắp xếp tài liệu để cho cái chính yếu
được nổi bật lên, cái quan trọng gây được ấn tượng mạnh mẽ. Kết cấu truyện thể
hiện quá trình vật lộn của nhà văn với tài liệu sống, để biểu hiện một chân lý
khái quát. Nó cũng phản ánh quá trình tư duy của nhà văn. Kết cấu luôn luôn là
phần tổ chức hình tượng nghệ thuật và khái quát tư tưởng, cảm xúc.
Chẳng hạn khi đọc hiểu tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành,
giáo viên gợi mở để học sinh phát hiện ra kết cấu đặc biệt của tác phẩm:
Kết cấu đầu cuối tương ứng: Mở đầu tác phẩm là những tai họa mà cả
những cây xà nu cổ thụ và những cây con phải gánh chịu dưới làn mưa đại bác
của kẻ thù: “ cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào không bị thương”.
Hình ảnh những cây rừng xà nu bị tàn phá ở đoạn đầu tác phẩm là biểu tượng
14/20
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
xuôi nói chung và văn xuôi Việt Nam hiện đại nói riêng. Kĩ năng này giúp học
sinh có cái nhìn thông suốt tiến trình vận động và phát triển văn xuôi Việt Nam
qua phép so sánh nét tương đồng và tương phản giữa các tác giả. Tuy nhiên, để
rèn luyện cho học sinh thao tác, kĩ năng phân tích so sánh cần lưu ý:
Xác định mục đích so sánh: làm nổi bật đối tượng cảm thụ (tác phẩm văn
xuôi, đoạn trích). Qua đó hiểu sâu sắc dụng ý nghệ thuật của nhà văn trong cách
lựa chọn, sắp xếp, tổ chức văn bản văn xuôi.
Nắm vững kĩ năng so sánh: không được lấy nội dung so sánh thay thế cho
việc cảm thụ tác phẩm. So sánh không phải là mục đích, so sánh chỉ là phương
tiện, con đường đi vào tác phẩm.
15/20
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
Liên hệ so sánh ngoài tác phẩm văn xuôi không được làm đứt mối với
đường dây của chủ đề tư tưởng tác phẩm. Liên tưởng so sánh mở rộng vấn đề là
một thao tác cần thiết trong cảm thụ văn xuôi, nhưng đã liên tưởng thì ít nhiều
cũng mang tính chủ quan. Do vậy, nếu vượt quá giới hạn sẽ biến việc cảm thụ
văn xuôi thành việc bình luận thiếu căn cứ.
Lựa chọn cách thức so sánh:
So sánh tương đồng: khi vấn đề trong tác phẩm văn xuôi đang khai thác
có điểm gần gũi với một tác phẩm khác của cùng tác giả hoặc khác tác giả. So
sánh tương phản: so sánh ý từ tác phẩm văn xuôi này với tác phẩm văn xuôi
khác có sự trái ngược về tư tưởng hoặc cách thức thể hiện.
Ví dụ so sánh tương đồng: Khi cảm nhận về hình ảnh chị Chiến trong tác
phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, có thể liên hệ đến nhân
vật Mai trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành để thấy sự tương
đồng ở vẻ đẹp tâm hồn và tinh thần cách mạng của người con giái Việt Nam thời
9.2. Loại hình nhân vật văn học
Dựa vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm, nhân
vật văn học được chia thành nhân vật chính và nhân vật phụ.
Dựa vào đặc điểm của tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn,
nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện.
Dựa vào thể loại văn học, có có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhân vật kịch.
Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành nhân vật chức
năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng.
9.3. Các phương thức, phương tiện và biện pháp thể hiện nhân vật
Hiện thực đời sống con người luôn phong phú nên nhân vật văn học có
nhiều loại hình, chính vì vậy các phương thức thể hiện nhân vật rất đa dạng. Văn
học đa dạng đến đâu, các phương thức, phương tiện thể hiện nhân vật đa dạng
đến đó. Nhưng ở đây, người viết chỉ đưa ra những phương thức, phương tiện
chung nhất.
Nhân vật được miêu tả bằng chi tiết, văn học dùng chi tiết để miêu tả chân
dung, ngoại hình, tả hành động, tâm trạng, quá trình tâm lý của nhân vật đồng
thời qua chi tiết hoàn cảnh sống, thiên nhiên quanh nhân vật cũng được thể hiện.
Nhân vật còn được thể hiện qua mâu thuẫn, xung đột, sự kiện, từ đó nhân
vật bộc lộ phẩm chất sâu kín nhất của mình.
Nhân vật có thể được miêu tả một cách trực tiếp nhưng cũng có thể miêu
tả gián tiếp qua sự cảm nhận của mọi người xung quanh đối với nhân vật, qua
môi trường mà nhân vật sống.
Nhân vật còn thể hiện bằng các phương tiện kết cấu, phương tiện ngôn
ngữ và bằng các phương thức miêu tả riêng của thể loại.
Vì vậy trong một tác phẩm văn xuôi đặc biệt là tác phẩm tự sự (Truyện
ngắn, tiểu thuyết) để phân tích, tìm hiểu nhân vật và thấy được tư tưởng của tác
giả gửi gắm trong từng nhân vật thì người cảm thụ cần lưu ý một số vấn đề sau:
Trước hết cần phải xác định loại hình nhân vật trong tác phẩm: Đâu là
nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật chính diện và phản diện.
quan hệ giữa hoàn giới thiệu về tác
cảnh sáng tác với giả, tác phẩm.
việc xây dựng cốt
truyện, thể hiện
nội dung, tư tưởng
cảu tác phẩm.
Vận dụng cao
- Liên hệ, so sánh
các phương diện nội
dung và nghệ thuật
của tác phẩm cùng
đề tài, thể loại,
phong cách…
- Giải thích được
ý nghĩa nhan đề.
- Nhận biết được - Phân tích được - Khái quát được
ngôi kể, trình tự giọng kể, ngôi kể. đặc điểm phong
kể.
cách của tác giả
từ tác phẩm.
- Cách cảm nhận
riêng, những phát
hiện sáng tạo về văn
bản.
- Nắm được cốt
truyện, nhận ra đề
phân - Trình bày cảm - Vận dụng tri thức
điểm nhận về tác đọc hiểu văn bản để
tính phẩm.
tạo lập văn bản theo
phận
yêu cầu.
- Đánh giá khái
quát về nhận vật.
- Đưa ra những ý
kiến riêng về tác
phẩm, vận dụng vào
cuộc sống.
- Phát hiện tình - Hiểu được ý - Thuyết minh - Chuyển thể văn
huống truyện.
nghĩa của tình về tác phẩm.
bản (đóng kịch, vẽ
huống.
tranh….)
- Nghiên cứu khoa
học, làm dự án.
- Chỉ ra được các
chi tiết nghệ thuật
đặc sắc và đặc
điểm nghệ thuật
- Lý giải ý nghĩa
và tác dụng cảu
Có hứng thú
Bình thường
Không có hứng thú
Tổng số
học sinh
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
73
38
52,05
23
31,51
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9
21,95
18
43,90
6
14,62
0
0
Nhìn vào kết quả kiểm tra khảo sát, so với kết quả điều tra thực trạng,
chúng ta nhận thấy: số lượng học sinh đạt điểm khá, giỏi đã tăng lên, số học sinh
yếu kém đã giảm đi. Điều đó có nghĩa là năng lực cảm thụ giá trị tác phẩm văn
xuôi của học sinh đã tốt hơn. Các bài viết của học sinh đã có những kiến giải sâu
sắc, sự tích cực chủ động trong việc giải mã nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại.
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Việc khơi dậy tình yêu và lòng say mê, hứng thú với môn học Ngữ văn
nói chung và các tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại nói riêng là điều rất cần
thiết. Vì đây là môn học chính yếu trong nhà trường phổ thông và văn xuôi Việt
Nam hiện đại cũng là mảng kiến thức quan trọng, chiếm tỉ lệ rất lớn trong
chương trình học và thi, đặc biệt là thi THPT quốc gia.
Khi hình thành được các kỹ năng cảm thụ tác phẩm văn xuôi, nhất là các
tác phẩm văn xuôi việt Nam hiện đại học trong chương trình Ngữ văn 12. Người
học sẽ cảm thấy hăng say, hứng thú, chủ động, tự tin. Và việc học các tác phẩm
văn xuôi Việt Nam hiện đại không còn quá khó.
Để khơi dậy hứng thú cho học sinh với nôn Ngữ văn, và hình thành được
các kỹ năng cảm thụ tác phẩm văn xuôi, nhất là các tác phẩm văn xuôi việt Nam
hiện đại học trong chương trình Ngữ văn 12, người viết đã mạnh dạn đề xuất
nhóm mười giải pháp. Đây chưa phải là tất cả, cũng chưa phải là tối ưu nhất. Chỉ
21/20
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Hà Nội, ngày 05 tháng 3 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến
kinh nghiệm của mình viết không sao
chép nội dung của người khác
Nguyễn Đức Điệp
Nguyễn Đức Điệp – Trường THPT Lưu Hoàng – Huyện Ứng Hòa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A.G.Zđa-Va mư-y-lôp. Về vấn đề hứng thú trong lí luận xã hội học, NXB
Giáo dục.
2. B.L.Riptin. Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ của phương
Đông theo phương pháp loại hình. Tạp chí Văn học số 2,1974.
3. Bùi Quốc Đạt. Hứng thú và năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học trong
chương trình PTTH của học sinh lớp 12 miền núi Thanh Hóa, NXB
ĐHQGHN
4. Đặng Thai Mai (2002), Trên đường nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn
chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
5. Naiđenôp B. X, Kôrenhiuc I. IU, Maiman R. R, Zavatxkaia T. PH. (1979),
Phương pháp đọc diễn cảm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
6. Nguyễn Đăng Na (2006). Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam.