Phân tích thực trạng kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa hoàn hảo tỉnh bình dương năm 2018 - Pdf 61

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THÙY TIÊN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA HOÀN HẢO TỈNH BÌNH DƢƠNG NĂM
2018
LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI 2019


BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THÙY TIÊN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA HOÀN HẢO TỈNH BÌNH DƢƠNG NĂM
2018
LUẬN VĂN DƢỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ : CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hƣơng
Thời gian thực hiện: Tháng 7/2018 – 11/2018

HÀ NỘI 2019

1.1.1 Nội dung của một đơn thuốc …………………………………………

3

1.1.2 Đối tượng áp dụng ……………………………………………………… 5
1.1.3 Quy định về ghi đơn thuốc ……………………………………………

5

1.1.4 Một số nguyên tắc khi kê đơn ………………………………………….. 8
1.2 Các tiêu chí đánh giá kê đơn thuốc …………………………………..

9

1.2.1 Các chỉ số kê đơn của WHO …………………………………………..

9

1.2.2 Các chỉ số đo lường sử dụng thuốc ……………………………………. 10
1.2.3 Các chỉ số về kê đơn thuốc ……………………………………………. 11
1.3 Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc …………………………... 12
1.3.1 Hình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc trên thế giới ………………. 12
1.3.2 Thực trạng kê đơn tại Việt Nam ………………………………………. 14
1.4 Vài nét về Bệnh viện đa khoa Hoàn Hảo ……………………………. 18
1.4.1 Chức năng nhiệm vụ …………………………………………………... 18
1.4.2 Khoa dược BVĐK Hoàn Hảo …………………………………………. 19
1.4.3 Các khoa phòng gồm ………………………………………………….. 19
1.4.4 Tính thiết yếu của đề tài ………………………………………………. 20
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……….. 22
2.1 Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ………………………. 22


Hảo, tỉnh Bình Dƣơng ……………………………………………………… 43
4.1.1 Việc thực hiện quy định về thủ tục hành chính ………………………. 43
4.1.2 Chỉ tiêu về thông tin thuốc và hướng dẫn sử dụng …………………… 44
4.2 Một số chỉ số về kê đơn ………………………………………………. 44
4.2.1 Phân tích danh mục thuốc kê đơn theo nguồn gốc sản xuất …………. 44
4.2.2 Tỷ lệ thuốc được kê nằm trong danh mục thuốc thiết yếu ……………. 45


4.2.3 Thuốc được kê theo thành phần ………………………………………. 45
4.2.4 Thuốc được kê theo đường dùng ……………………………………… 45
4.2.5 Sử dụng kháng sinh …………………………………………………… 46
4.2.6 Sử dụng vitamin ………………………………………………………. 48
4.2.7 Sử dụng Corticoid ………………………………………..…………… 48
4.2.8 Chi phí một đơn thuốc ………………………………………………… 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……………………………………………49
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC BẢNG

STT

TÊN BẢNG

TRANG

Bảng 1.1

Các chỉ số kê đơn của WHO


Thực hiện quy định về thông tin thuốc kê đơn và hướng

33

dẫn sử dụng thuốc
Bảng 3.7

Tỷ lệ thuốc được kê theo nguồn gốc

34

Bảng 3.8

Tỷ lệ thuốc kê nằm trong danh mục thuốc bệnh viện

34

Bảng 3.9

Tỷ lệ thuốc kê theo thành phần

34

Bảng 3.10 Thuốc được kê theo đường dùng

35

Bảng 3.11 Thuốc được kê theo dạng dùng



DANH MỤC HÌNH
STT

Tên hình

Hình 3.1 Tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh, vitamin và corticoid

Trang
42


ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe
con người. Việc quyết định lựa chọn thuốc, đường dùng, cách dùng, liều
dùng, thời điểm dùng phụ thuộc vào người thầy thuốc người trực tiếp thăm
khám và chẩn đoán bệnh, bệnh nhân là người thực hiện đầy đủ và đúng theo
phác đồ điều trị của thầy thuốc.
Để chỉ định sử dụng thuốc cho bệnh nhân an toàn, hợp lý và có hiệu
quả, vai trò của người thầy thuốc là hết sức quan trọng. Nó đòi hỏi người thầy
thuốc phải có trình độ.
Sử dụng thuốc an toàn- hợp lý- hiệu quả- kinh tế là một trong các chính
sách quốc gia về thuốc của Việt Nam. Việc kê đơn, sử dụng thuốc chưa hợp
lý đã ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, sức lao động, thời gian và sức khỏe
người bệnh, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị, tăng nguy cơ
xảy ra ADR, tương tác thuốc, kể cả nguy cơ tử vong. Việc giám sát, sử dụng
thuốc chặt chẽ là giải pháp được ưu tiên hàng đầu trong việc kiểm soát, nâng
cao tính an toàn, hiệu quả và kinh tế trong sử dụng thuốc.
Kê đơn của bác sĩ là một trong những hoạt động đóng vai trò quan
trọng góp phần vào việc đảm bảo sử dụng thuốc an toàn hợp lý. Kê đơn là

xác thuốc phải sử dụng. Theo khuyến cáo của WHO, một đơn thuốc đầy đủ
bao gồm các nội dung sau:
- Tên, tuổi và địa chỉ của người bệnh.
- Ngày, tháng kê đơn.
- Tên, địa chỉ, số điện thoại của người kê đơn.
- Tên gốc của thuốc, hàm lượng thuốc.
- Dạng thuốc, tổng số thuốc.
- Nhãn bao thuốc: hướng dẫn, cảnh báo…
Ngày 29/12/2017 BYT đã ra thông tư 52/2017/TT-BYT quy định về kê
đơn trong điều trị ngoại trú [5], trong đó có yêu cầu kê đơn thuốc gồm:
- Chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán
bệnh.
- Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh.
- Việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả.
Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic.
- Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với một trong các tài liệu sau đây:
a) Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hoặc Hướng dẫn điều trị và chăm sóc
HIV/AIDS do Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận; Hướng dẫn chẩn đoán và
điều trị của cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông
tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy

3


định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện
trong trường hợp chưa có hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế.
b) Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đi kèm với thuốc đã được phép lưu hành.
c) Dược thư quốc gia của Việt Nam;
- Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và
điều trị được quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều này hoặc đủ sử dụng nhưng

Thông tư này và số theo dõi khám bệnh hoặc phần mềm quản lý người bệnh
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Kê đơn thuốc đối với người bệnh điều trị ngoại trú:
Người kê đơn thuốc ra chỉ định điều trị vào sổ khám bệnh (sổ y bạ) của
người bệnh và bệnh án điều trị ngoại trú hoặc phần mềm quản lý người bệnh
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Kê đơn thuốc đối với người bệnh ngay sau khi kết thúc việc điều trị nội
trú:
a) Trường hợp tiên lượng người bệnh cần tiếp tục sử dụng thuốc từ 01
(một) đến đủ 07 (bảy) ngày thì kê đơn thuốc (chỉ định điều trị) tiếp vào Đơn
thuốc hoặc Sổ khám bệnh của người bệnh và Bệnh án điều trị nội trú hoặc
phần mềm quản lý người bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
b) Trường hợp tiên lượng người bệnh cần tiếp tục điều trị trên 07 (bảy)
ngày thì kê đơn thuốc theo quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc chuyển tuyến
về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để tiếp tục điều trị.
- Kê đơn thuốc gây nghiện, hướng tâm thần và tiền chất theo quy định.
1.1.2. Đối tượng áp dụng:
Theo điều 2 của Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú ban
hành kèm theo Thông tư 52/2017/QĐ-BYT ngày 29/12/2017 quy định của
người kê đơn như sau [5]:
1.1.3. Quy định về ghi đơn thuốc:

5


- Bác sĩ có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và có đăng ký
hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám
bệnh, chữa bệnh.
- Y sĩ có chứng chỉ hành nghề và có đăng ký nghề tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh tuyến 4 quy định tại Thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11 tháng

- Theo tên chung quốc tế + (tên thương mại).
Ví dụ: thuốc có hoạt chất là Paracetamol, hàm lượng 500mg, tên thương
mại là A thì ghi tên thuốc như sau: Paracetamol (A) 500mg.
b) Thuốc có nhiều hoạt chất hoặc sinh phẩm y tế thì ghi theo tên thương
mại.
5. Ghi tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, số lượng/thể tích, liều dùng, đường
dùng, thời điểm dùng của mỗi loại thuốc. Nếu đơn thuốc có thuốc độc phải
ghi thuốc độc trước khi ghi các thuốc khác.
6. Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa.
7. Số lượng thuốc chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10) thì viết số 0 phía trước.
8. Trường hợp sửa chữa đơn thì người kê đơn phải ký tên ngay bên cạnh
nội dung sửa.
9. Gạch chéo phần giấy còn trống từ phía dưới nội dung kê đơn đến phía
trên chữ ký của người kê đơn theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang
phải; ký tên, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn.
Kê đơn thuốc của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ứng dụng công nghệ
thông tin trong kê đơn thuốc:
- Đơn thuốc kê trên máy tính một lần, sau đó in ra và người kê đơn ký tên,
trả cho người bệnh một bản để lưu trong sổ khám bệnh hoặc trong sổ điều trị
bệnh cần chữa trị dài ngày của người bệnh.
- Cơ sở khám chữa bệnh có ứng dụng công nghệ thông tin phải bảo đảm
việc lưu đơn để chiết xuất dữ liệu khi cần thiết.
Thời hạn đơn thuốc có giá trị mua, lĩnh thuốc:

7


- Đơn thuốc có giá trị mua, lĩnh thuốc trong thời hạn tối đa 05 ngày, kể từ
ngày kê đơn thuốc.
- Đơn thuốc được mua tại các cơ sở bán lẻ thuốc hợp pháp tên toàn quốc.

bệnh nhân.
- Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo cho bệnh
nhân. Cần phải cung cấp cho bệnh nhân ít nhất các thông tin sau: các tác dụng
của thuốc, hướng dẫn sử dụng, cảnh báo, hẹn tái khám lần tới, xác minh mọi
thông tin có rõ ràng đối với bệnh nhân.
- Bước 6: Giám sát điều trị. Nếu như bệnh nhân được chữa khỏi thì ngừng
quá trình điều trị hoặc nếu phương pháp điều trị này có hiệu quả mà bệnh vẫn
chưa khỏi hẳn thì cần xem lại có tác dụng phụ nào nghiêm trọng hay không.
Nếu có thì cân nhắc lại liều dùng hoặc chọn thuốc khác, nếu không thì tiếp tục
điều trị. Trường hợp bệnh không được chữa khỏi thì phải nghiên cứu lại tất cả
các bước trên.
Ngoài ra, để đảm bảo một đơn thuốc hợp lý cũng cần phải lưu ý đến
tương tác thuốc, vì khi sử dụng đồng thời 2 hay nhiều thuốc có tương tác với
nhau, tác dụng của thuốc này có thể bị thay đổi bởi thuốc khác, một số trường
hợp có thể làm tăng độc tính của thuốc dẫn đến hậu quả bất lợi cho người
bệnh. Trong một số trường hợp kết hợp 2 thuốc tương tác để làm tăng hiệu
quả của thuốc cũng nên được áp dụng để giảm liều của từng thuốc đơn lẻ.[9]
1.2.Các tiêu chí đánh giá kê đơn thuốc:
1.2.1.Các chỉ số kê đơn của WHO:
Tổ chức Y tế thế giới- WHO 1993 đã đưa ra các chỉ số kê đơn sau:
Bảng 1.1. Các chỉ số kê đơn của WHO

TT

Ý nghĩa

Chỉ số

9



thuốc được kê thuộc danh sách thuốc quốc gia, bằng việc chỉ ra việc
mục thuốc thiết yếu hoặc thực hiện kê đơn từ danh sách thuốc chủ
danh mục thuốc chủ yếu.

yếu đối với từng loại hình cơ sở khảo sát.

1.2.2.Các chỉ số đo lường sử dụng thuốc:
Để đánh giá cũng như giám sát hoạt động kê đơn thuốc trong bệnh
viện, BYT cũng đã ban hành nhiều văn bản quy định về các hoạt động kê đơn
thuốc trong bệnh viện: Thông tư 23/2011/TT-BYT hướng dẫn sử dụng thuốc
trong các cơ sở y tế có giường bệnh, Thông tư 52/2017/TT-BYT Quy định về
kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú, Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về
tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện. Theo
Thông tư 23/2011/TT-BYT có quy định: Thuốc chỉ định cho người bệnh cần
đảm bảo các yêu cầu sau:
10


- Phù hợp với chẩn đoán và diễn biến bệnh.
- Phù hợp tình trạng bệnh lý và cơ địa người bệnh.
- Phù hợp với tuổi và cân nặng.
- Phù hợp với hướng dẫn điều trị (nếu có).
- Không lạm dụng thuốc.
- Lựa chọn đường dùng thuốc cho người bệnh
- Căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý, đường dùng của
thuốc để ra y lệnh đường dùng thuốc thích hợp.
- Chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi
sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị hoặc với
thuốc chỉ dùng đường tiêm.

1.3.1. Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc trên thế giới:
Trong những năm gần đây, nhu cầu thuốc trên thị trường thế giới có sự
gia tăng mạnh mẽ do sự phát triển của dân số thế giới và sự gia tăng tuổi thọ.
Nhu cầu dùng thuốc tăng và dùng các loại thuốc biệt dược được phát minh
trong điều trị bệnh mới nên có chi phí lớn [9].
Trong việc sử dụng thuốc tồn tại hai vấn đề lớn, đó là:
- Sự tiêu thụ thuốc chưa đồng đều giữa các nước phát triển và đang phát
triển.[10]
- Thực trạng kê đơn không hợp lý, không an toàn, còn bệnh nhân thì
không tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ, tình trạng bác sĩ kê đơn nhầm lẫn vẫn
còn, còn lạm dụng thuốc, phối hợp thuốc không đúng, không ghi đầy đủ liều
lượng, dạng thuốc vẫn còn diễn ra. Tình trạng kê quá nhiều thuốc cho một
bệnh nhân, lạm dụng kháng sinh tiêm, kê đơn kháng sinh cho bệnh không
nhiễm trùng vẫn còn diễn ra.[20]
Khoảng 75% lượng thuốc ở thị trường dược phẩm thuộc về các nước
dẫn đầu về kinh tế như Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Ý, Anh, Tây Ban Nha…[1]
12


Thị trường dược phẩm khối các nước ASEAN có đặc điểm chung là
thuốc Generic chiếm trung bình khoảng 40% thị phần, trong đó Singapore
thấp nhất (9%), cao nhất là Việt Nam (70%) (theo đánh giá của IMS). Thuốc
generic là một thị trường tiềm năng, đồng thời là một giải pháp lựa chọn để
người dân các nước đang phát triển có khả năng tiếp cận với thuốc thiết yếu
theo chính sách của WHO.[8],[20]
Nghiên cứu về việc kê đơn tại một bệnh viện thực hành ở Thái Lan
Udimthavomsuk thấy có tới 52,3% dùng kháng sinh không đúng và không
cần thiết. Việc sử dụng kháng sinh dự phòng ngoại khoa cũng có tỷ lệ không
hợp lý cao (79,7%).
Không tuân thủ quy chế kê đơn: Một nghiên cứu khảo sát thực trạng

của WHO (13,4%-24,1%). Các kháng sinh được kê đơn nhiều nhất là
Amoxicillin (22,2%) và Ampicillin (21,3%). Qua các chỉ số nghiên cứu cho
thấy có độ chênh lệch lớn giữa thực tế điều trị với khuyến cáo của WHO.
Nghiên cứu về việc điều trị các chứng bệnh thông thường như ho, cảm
lạnh cho trẻ em ở Philippine cho thấy tới 80% các trường hợp được cha mẹ tự
điều trị và hầu hết các trường hợp là không đúng và không cần. Các thuốc hạ
sốt, giảm đau được dùng nhiều nhất và đặc biệt là các thuốc cầm tiêu chảy,
các kháng sinh được dùng rộng rãi, lãng phí và nguy hiểm. Một nghiên cứu
khác cho thấy ngay tại thủ đô Manila (Philippine), việc mua kháng sinh
không có đơn của thầy thuốc chiếm tới 66%, trong đó có cả những trường hợp
mua kháng sinh để “dự phòng”.[12]
Thực trạng lạm dụng kháng sinh: Tình trạng lạm dụng kháng sinh xảy
ra đối với nhiều loại bệnh, trên nhiều đối tượng bệnh nhân. Nghiên cứu chỉ ra
rằng, đối với bệnh nhân viêm họng khi đến thăm khám bác sĩ, tỷ lệ kê đơn
kháng sinh vẫn được duy trì ở mức 60% số lần thăm khám. Trong khi đó, tác
giả cũng nhận định, đối với các trường hợp bệnh nhân viêm họng này có thể
tự khỏi bằng cách nghỉ ngơi và uống nhiều nước.
1.3.2.Thực trạng kê đơn tại Việt Nam:
14


Kê đơn thuốc là một trong những quy định mà Bộ Y tế yêu cầu nghiêm
ngặt nhất đối với thầy thuốc. Thế nhưng trên thực tế, một trong những lỗi
thường gặp nhất của thầy thuốc lại vẫn liên quan đến kê đơn thuốc. Kê đơn
thuốc không đúng với yêu cầu chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp là một
hiện tượng không hiếm gặp ở một số thầy thuốc. Những lỗi thường gặp của
thầy thuốc khi kê đơn đó là viết nhầm tên thuốc, thiếu hiểu biết về thuốc,
nhầm lẫn về liều lượng, đặt nhầm dấu thập phân ở hàm lượng, nhầm lẫn về
tần suất dùng thuốc trong ngày, viết chữ quá khó đọc, không thận trọng khi
dùng chữ viết tắt, không chú ý đến tương tác, không chú ý điều chỉnh liều

huyện Châu Đức- tỉnh Bà Rịa năm 2015[14] tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh
chiếm 52,25%. Tại bệnh viện đa khoa Phước Long- tỉnh Bình Phước năm
2014[13] tỷ lệ đơn thuốc có kê kháng sinh là 41,1%.
Kê đơn thuốc ở Việt Nam cũng nằm trong xu hướng chung của thế
giới. Mặc dù BYT đã có nhiều văn bản quy định hết sức cụ thể từ những chi
tiết nhỏ như quy trình kê đơn, tiêu chuẩn một đơn thuốc hợp lý. Ví dụ như ghi
tên thuốc theo đúng quy định phải là tên gốc, đối với thuốc có nhiều thành
phần mới ghi tên biệt dược thông dụng. Nhưng các thầy thuốc thường không
nắm được quy định này hoặc biết nhưng vẫn bỏ qua.
Cần phải lên tiếng báo động về tình trạng lạm dụng thuốc biệt dược làm
ảnh hưởng đến kinh tế bệnh nhân và gia đình. Không những thế còn gây ra
một thị hiếu dùng thuốc không đúng, dẫn đến tình trạng lạm dụng kháng sinh,
vitamin, thuốc corticoid vẫn tiếp tục diễn ra.
Đơn thuốc là căn cứ để dược sĩ cung cấp thuốc, theo đó bệnh nhân sử
dụng điều trị bệnh. Những sai sót trong kê đơn sẽ gây ra nhiều hậu quả đáng
tiếc cho bệnh nhân. Có tới 80-90% thầy thuốc nghĩ rằng mỗi triệu chứng của
bệnh nhân cần phải điều trị bằng một loại thuốc riêng biệt nên đã kê đơn bằng
nhiều loại thuốc. Đôi khi thầy thuốc kê đơn chịu áp lực của cả bệnh nhân lẫn
gia đình họ muốn dùng nhiều thuốc để chóng khỏi bệnh. Ngoài ra thầy thuốc
16


còn lạm dụng thuốc vì lợi ích, áp lực kinh tế, sự tác động của trình dược, các
công ty dược phẩm giàu quyền lực. Khi uống thuốc, ngoài tác dụng chữa
bệnh, thuốc còn có khả năng gây ra những phản ứng làm xáo trộn cơ thể, đây
là những tác dụng không mong muốn của thuốc. Vì thế vấn đề an toàn sử
dụng thuốc là trách nhiệm đặt ra cho cả bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, cơ quan
quản lý dược, hãng bào chế và bản thân người bệnh. Thuốc là “con dao hai
lưỡi” vì có thể gây ra phản ứng có hại ở nhiều mức độ, thậm chí tử vong kể cả
dùng đúng liều, đúng quy định, các phản ứng như vậy gọi là phản ứng bất lợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status