Giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực đất đai - Pdf 61

1

Giới thiệu về chuyên đề
Đất nớc ta đang trong thời kỳ đổi mới mạnh mẽ về tất cả
các mặt của cuộc sống. Sự phát triển quá nhanh này gắn với sự
cũ kỹ của hệ thống hánh chính nhà nớc cồng kềnh, vận hành
kém hiệu quả, đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế về trình độ
và việc đề ra những biện pháp để cải cách hành chính của
Đảng và Nhà nớc là rất cần thiết. Trong các chức năng của Thanh
tra Chính phủ thì giải quyết khiếu nại, tố cáo là một nhiệm vụ
quan trọng giúp duy trì ổn định tình hình chính trị - xã hội
của đất nớc ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Từ nhiều năm nay, tình hình khiếu nại, tố cáo luôn là vấn
đề bức bách đợc Đảng, Nhà nớc và toàn xã hội quan tâm. Đảng
và Nhà nớc đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về vấn đề này,
đã có tác động đến tình hình khiếu nại, tố cáo và giải quyết
khiếu nại, tố cáo, nhiều điểm nóng, nhiều vụ việc phực tạp
đã đợc giải quyết, góp phần làm ổn định tình hình an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nớc. Tuy nhiên, do
nhiều nguyên nhân, thời gian gần đây tình hình khiếu nại,
tố cáo của công dân diễn ra không bình thờng, số lợng gia
tăng, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân diễn ra không
bình thờng, số lợng gia tăng, tính chất phức tạp, trong đó
khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai chiếm số lợng lớn, ở
một số tỉnh, thành phố riêng về đất đai chiếm số lợng rất lớn
nh: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà
Tây, Thái Bình, Cần Thơ, Hải Dơng, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng
Tàu, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng


2

3

Những nội dung chính
Chơng I: Cơ sở pháp lý về giải quyết khiếu nại , tố cáo
trong lĩnh vực đất đai
1. Khái niệm khiếu nại, tố cáo
A. Khái niệm khiếu nại
Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Khiếu nại
là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính,
hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công
chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là
trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.


4

Nh vậy, khiếu nại là một hình thức công dân hớng đến
các cơ quan nhà nớc hay tổ chức xã hội, tố chức kinh tế, đơn
vị vũ trang khi thấy quyết định hành chính hay hành vi hành
chính của họ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Mặt khác, khiếu nại là phơng tiện mà nhờ đó cơ quan
nhà nớc hay tổ chức, những ngời có chức vụ kiểm tra đợc tính
hợp pháp, hợp lý trong các quyết định hành chính, hành vi
hành chính do ban hành hay thực hiện. Về mặt pháp luật,
quyền khiếu nại của công dân luôn đợc ghi nhận trong Hiến
pháp và các văn bản pháp luật khác của nhà nớc ta.
Khiếu nại có thể đợc thể hiện dới hình thức văn bản (đơn
khiếu nại) hoặc trình bày trực tiếp.

cán bộ công chức nhà nớc khi thực hiện công việc liên quan
đến các hoạt động nói trên.
Tố cáo về đất đai là sự phát hiện với cơ quan nhà nớc có
thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và
sử dụng đất của cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thuộc các đơn vị
đó hoặc của những ngời khác, gây thiệt hại hoặc đe doạ
gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nớc, lợi ích tập thể và lợi ích của
ngời sử dụng đất.
2.2. Trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
2.2.1 Trình tự giải quyết khiếu nại
2.2.1a Những quy định chung
Căn cứ Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003, căn cứ
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐCP, việc giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai đợc tiến hành
theo trình tự sau đây:
Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Thời hiệu khiếu
nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận đợc quyết định hành chính
hoặc biết đợc có hành vi hành chính. Trong trờng hợp vì ốm
đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc
vì những trở ngại khách quan khác mà ngời khiếu nại không


6

thực hiện đợc quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời
gian có trở ngại không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, thời hạn giải
quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý
để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết
không quá 45 ngày (kể từ ngày thụ lý để giải quyết). Trờng hợp

quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với QĐHC, HVHC
đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến UBND cấp huyện.
Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm giải quyết
khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật khiếu nại, tố cáo
(khoản 1 Điều 36).
Trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận đợc
quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp
huyện mà ngời khiếu nại không đồng ý với quyết định giải
quyết đó thì có quyền khởi kiện ra Toà án nhân dân hoặc
khiếu nại đến UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng
(sau đây gọi tắt là UBND cấp tỉnh).
Trờng hợp khiếu nại đến UBND cấp tỉnh thì Chủ tịch
UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời
hạn quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật khiếu nại, tố cáo. Quyết
định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là
quyết định giải quyết lần hai.
2.2.1c Trình tự giải quyết khiếu nại đối với Quyết định
hành chính, Hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp
tỉnh
Trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày Chủ tịch
UBND cấp tỉnh có QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai quy
định tại Điều 162 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP mà ngời có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với QĐHC, HVHC
đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến UBND cấp tỉnh.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu
nại theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật khiếu nại, tố
cáo.


8



9

Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày
thụ lý để giải quyết. Thời hạn này là không quá 90 ngày, đối
với những vụ việc phức tạp.
Trờng hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không
đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không
đợc giải quyết thì ngời tố cáo có quyền tố cáo với cơ quan, tổ
chức cấp trên trực tiếp của ngời giải quyết tố cáo. Thời hạn giải
quyết vẫn là không quá 60 ngày (và không quá 90 ngày đối với
những vụ việc phức tạp).
Trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố cáo, nếu thấy có
dấu hiệu phạm tội thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận, giải quyết
tố cáo phải chuyển tin báo, chuyển hồ sơ cho cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát để giải quyết theo quy định của pháp luật
tố tụng hình sự.
3. Chức năng và nhiệm vụ của Thanh tra Chính phủ
trong giải quyết khiếu nại, tố cáo
Theo Điều 14 Luật Thanh tra 2004, Điều 1 Nghị định
55/2005/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Chính phủ
là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, có chức năng quản lý nhà
nớc về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực
hiện nhiệm vụ quyền hạn thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và phòng ngừa, chống tham nhũng theo quy định của pháp
luật.
Về giải quyết khiếu nại, tố cáo, Thanh tra Chính phủ có
nhiệm vụ: tổ chức việc tiếp dân, tiếp nhận, xử lý đơn khiếu

vụ việc do Tổng thanh tra giao; phối hợp với Vụ tiếp dân và xử
lý đơn th (Vụ VI) tiếp công dân đến Thanh tra Chính phủ
khiếu nại với những vụ việc giao cho Vụ xem xét; kiểm tra, xem
xét, kết luận và kiến nghị Tổng Thanh tra giải quyết đơn th
khiếu nại, tố cáo đối với những vụ việc Thủ tớng Chính phủ,
Tổng Thanh tra giao. Phạm vi địa giới hành chính đợc phân


11

công cho Vụ IV gồm các tỉnh, thành phố miền Bắc, miền Trung
(từ Phú Yên trở ra) và Tây Nguyên.

Chơng II: Thực trạng giải quyết khiếu nại
tố cáo trong lĩnh vực đất đai ở địa phơng
Theo báo cáo của Chính phủ về công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo năm 2007, trong 9 tháng đầu năm các cơ quan nhà
nớc đã tiếp trên 240.000 lợt công dân đến khiếu nại, tố cáo;
tiếp nhận trên 143.000 đơn th khiếu nại, tố cáo với hơn 61.000
vụ việc, So với cùng kỳ năm 2006, tổng số ngời khiếu nại, tố cáo
tăng khoảng 56%, số đơn th khiếu nại, tố cáo tăng khoảng
44%, số vụ việc tăng 36%.
1. Nội dung khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai
Nội dung khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai chủ
yếu tập trung vào các vấn đề sau:
a. Bồi thờng giải phóng mặt bằng, bố trí táI định
c:
khiếu nại về bồi thờng giải phóng mặt bằng, bố trí tái
định c:
Khiếu nại về bồi thờng giảI phóng mặt bằng thờng gay

hoá.
- Đòi đất cũ khi chiến tranh biên giới xảy ra, ngời có đất đI
sơ tán sau quay lại đã có ngời sử dụng hoặc Nhà nớc đã giao
cho ngời khác sử dụng.
c. Tranh chấp quyền sử dụng đất:
- Tranh chấp đất hơng hoả, dòng tộc, đòi chia thừa kế.
- Tranh chấp giữa đồng bào dân tộc ở địa phơng với
dân di c.


13

- Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nhân dân ở các
địa phơng với các đơn vị đợc Nhà nớc giao đất an ninh, quốc
phòng và các nông, lâm trờng.
- Tranh chấp đất giữa cá nhân với cá nhân, hộ gia đình
về diện tích, ranh giới sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng
đất.v.v..
d. Tố cáo cán bộ thực hiện sai quy định của Nhà nớc
về đất đai:
Các tố cáo chủ yếu tập trung vào các nội dung:
- Tố cáo việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi trong
việc thu hồi đất, giao đất, đấu giá quyền sử dụng đất để
đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh doanh nhà ở; lợi dụng
chính sách thu hồi đất của nông dân để chia cho cán bộ.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao chiếm ruộng đất,
lập trang trại; khai tăng diện tích, sai vị trí đất để tham ô.
- Tố cáo chính quyền đại phơng ( chủ yếu là cấp xã ) giao
đất trái thẩm quyền, giao đất không đúng diện tích đợc phê
duyệt theo quyết định của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền,

đúng thẩm quyền (trên tổng số 31.206 vụ, chiếm 92,3%).
Phần lớn khiếu nại, tố cáo của nhân dân là có cơ sở, chỉ có
trên dới 30% khiếu nại, tố cáo sai hoàn toàn (còn lại là đúng
hoặc có đúng có sai). Riêng Thanh tra Chính phủ đã xem xét,
xác minh 83 vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp do Thủ tớng
Chính phủ giao.
Kết thúc năm 2007, tổng cộng các cơ quan hành
chính nhà nớc đã tiếp 327.720 lợt ngời khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh, trong đó có 729 lợt đoàn đông ngời. Một số
tỉnh, thành đơn vị có số lợng khiếu nại, tố cáo gia tăng đặc
biệt là Bến Tre (tăng 293%), Bạc Liêu (tăng 198%),



Tĩnh

(tăng 67%), Nam Định (tăng 47%), Thái Nguyên (tăng 42,9%),
Ngân hàng Nhà nớc (tăng 37,3%), Bộ Nội vụ (tăng 34%), Bộ
Quốc phòng (tăng 30%). Các cơ quan hành chính - nhà nớc
cũng đã tiếp nhận 229.109 đơn th khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh (88.228 đơn khiếu nại, 16.909 đơn tố cáo,


15

43.33 đơn th kiến nghị, phản ánh). Trong số đó, có 20 tỉnh
và 5 Bộ ngành đơn th gia tăng (nổi bật là Bạc Liêu tăng 168%,
Thái Nguyên tăng 63,4%, Hậu Giang tăng 56,6%, Thanh Hoá tăng
47,5%, Bộ Khoa học Công nghệ tăng 192%, Bộ Lao động, Thơng binh và Xã hội tăng 32,5%); có 22 tỉnh và 2 Bộ số lợng đơn
th giảm so với năm trớc (nh Hà Tây giảm 45%, Lai Châu giảm

Đơn cử trờng hợp 8 ngời dân ở xã Phù Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội)
đến khiếu nại việc địa phơng thu hồi đất nông nghiệp của
các hộ để mở rộng quốc lộ 18 nhng đền bù không đúng chính
sách; gần 80 ngời khác thuộc xã Phú Sơn (Ba Vì, Hà Tây) cũng
khiếu nại chuyện đền bù không thoả đáng khi địa phơng thu
hồi đất để xây dựng Trung tâm xã hội 07 (vụ việc này, Thanh
tra Chính phủ đã cử đoàn xuống giải quyết nhng cha nhận đợc
sự đồng ý từ phía ngời dân)
Về tố cáo, có hơn 10 ngời dân thuộc xã Minh Khai (Từ
Liêm, Hà Nội) cũng hai lần đến trụ sở UB để tố cáo cán bộ xã,
huyện có nhiều sai phạm trong quản lý sử dụng đất, thu hồi
đất không đúng trình tự, đền bù không đúng chính sách,
tham nhũng. Đơn tố cáo của ngời dân đã đợc chuyển đến
Thanh tra Chính phủ.
Cũng trong Quý I năm 2008, mặc dù rơi vào thời điểm
của dịp Tết Nguyên đán và Tháng Giêng âm lịch, song vẫn có
nhiều đoàn khiếu kiện đông ngời kéo đến trụ sở tiếp dân
của các cơ quan Nhà nớc tại Hà Nội (cả cơ quan Trung ơng và
của thành phố). Trong đó, tỉnh Hà Tây có nhiều đoàn khiếu
kiện đông ngời nhất: 16 đoàn, tiếp đến là Hà Nội với 10
đoàn, các tỉnh còn lại có đoàn khiếu kiện đông ngời là Hoà
Bình, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Dơng, Hải Phòng, Hà Nam,
TP. Hồ Chí Minh, Hng Yên. Đoàn khiếu kiện đông ngời nhất có
360 ngời thuộc xã Lai Vu (Kim Thành, Hải Dơng). Nội dung
khiếu nại chủ yếu của ngời dân vẫn liên quan đến việc đòi
đền bù đất, ngoài ra còn về chính sách, tham nhũng, tài sản,
thi hành án, kỷ luật Đảng và kỷ luật CBCC,...


17

bồi thờng cao hơn quy định của Nhà nớc làm cho mức đền bù
chênh lệch trên cùng một khu vực, từ đó pháp sinh khiếu nại.
-

Việc thực hiện các chủ trơng, chính sách c ủa nhà nớc trớc

đây ở một số nơi không nghiêm, cha triệt để và cha hợp lý,
đã dẫn đến tình trạng xáo canh, cào bằng. Những năm 1980,
HTX và TĐSX nông nghiệp đợc hình thành nhng việc quản lý
các HTX, TĐSX đã có những yếu kém dẫn đến tan rã, nhng Nhà


18

nớc cha có chính sách xử lýkịp thời, tình trạngtự phát lấy lại
ruộng đất và biện pháp giảI quyết của các địa phơng không
thống nhất trong việc phân bổ lại đất đai khi các HTX, TĐSX
tan rã, đã dẫn đến nhiều khiếu kiện.
+

Công tác quản lý đất đai cũng còn nhiều bất cập, hồ sơ

địa chính cha đợc quan tâm đúng mức, cha đầy đủ, không
đủ cơ sở cho việc quản lý đất đai. Công tác quy hoặch sử
dụng đất chậm, việc chỉnh lý biến động đất đai không đợc
theo dõi, cập nhập thờng xuyên dẫn đến việc tham mu không
đầy đủ, thiếu chính xác trong việc quy hoạch, thu hồi đất và
giảI quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai.
-


đủ các thủ tục pháp lý, giao đất, cho thuê đất, đấy thầu đất,
bồi thờng giải toả và sử dụng những khoản tiền thu đợc không
công khai gây ngờ vực cho nhân dân.
Việc giao đất tráI thẩm quyền, không đúng đối tợng, giao
sai diện tích, vị trí, sử dụng tiền thu từ đất sai quy định của
pháp luật hoặc ngời sử dụng đất đã làm đủ các nghĩa vụ theo
quy định nhng không đợc hợp thức quyền sử dụng đất, cập
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là những nguyên nhân tạo
thành khiếu kiện đông ngời, thành các đoàn khiếu kiện đến
các cơ quan Trung ơng,
Khi phát sinh khiếu kiện, cấp uỷ, chính quyền nhiều nơi cha
tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời, còn né tránh, đùn đẩy
hoặc cùng một cấp có nhiều quyết định nội dung giảI quyết
khác nhau đối với một vụ việc, có những vụ việc tơng tự nh
nhau nhng kết quả giải quyết lại trái ngợc nhau, do đó ngời
dân nghi ngờ không tin tởng vào cách giải quyết của chính
quyền cấp đó gây khiếu kiện vợt cấp.
Các vụ việc đã đợc giải quyết nhng việc tổ chức thực hiện
cha tốt, thiếu kiểm tra, đôn đốc kịp thời để khiếu kiện kéo
dài, gây bức xúc, làm phát sinh những quan hệ khiếu kiện mới
phức tạp hơn. Một số địa phơng sau khi ban hành quyết định
giải quyết khiếu nại cuối cùng có sai sót không đợc sửa đổi, bổ
sung do đó gây tâm lýngờ vực về chính quyền địa phơng
giảI quyết không đúng chính sách pháp luật và ngời dân tiếp
tục khiếu nại.
Một số cán bộ vì lợi ích kinh tế, tranh thủ trong thời gian đơng chức đã cố tình vi phạm chính sách pháp luật đất đai để
trục lợi.


20


1. Những vấn đề chung:
Khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai
phải quán triệt các nguyên tắc sau:
- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nứơc thống nhất
quản lý; Nhà nớc chỉ giao quyền sử dụng cho công dân; Nhà nớc có quyền thu hồi đất và ngời sử dụng đất đợc đền bù theo
quy định của pháp luật.
- Trong quá trình Cách mạng, theo tình hình cụ thể mà
Đảng và Nhà nớc có các chủ trơng, chính sách đất đai phù hợp.
Vì vậy giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo phải căn cứ vào
thời điểm phát sinh của vụ việc và chính sách tơng ứng của
thời kỳ đó.
- Giải quyết các khiếu nại, tranh chấp đất đai trên cơ sở
tôn trọng quá trình sử dụng ổn định của các chủ sử dụng
đất, không giũ rối, kiên quyết bảo vệ thành quả Cách mạng và
lợi ích của ngời sử dụng đất, đồng thời phải tôn trọng quy
hoạch sử dụng đất của chính quyền địa phơng.


22

- Khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai
nếu phát sinh những vấn đề về kinh tế, lợi ích vật chất ... cần
phải đảm bảo lợi ích Nhà nớc và quan tâm thích đáng lợi ích
của ngời sử dụng đất .


23

2. Hoµn thiÖn c¬ chÕ gi¶i quyÕt khiÕu n¹i, tè c¸o vÒ

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Theo thống kê hàng năm,
có đến hàng chục nghìn đơn khiếu nại và hàng nghìn ngời
khiếu nại xin đợc gặp Thủ tớng Chính phủ; Thủ tớng Chính phủ


25

và các cơ quan giúp Thủ tớng Chính phủ mất nhiều thời gian xử
lý, không đủ sức đáp ứng yêu cầu, làm phức tạp tình hình.
Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình,
gọi là "khiếu kiện vợt cấp" lên Trung ơng. Vì thế giải quyết
khiếu nại hành chính không có điểm dừng.
Việc mở rộng thẩm quyền để Toà án xét xử khiếu nại
hành chính là đúng. Luật Đất đai năm 2003 tại Điều 138 quy
định: Trờng hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải
quyết lần đầu, ngời khiếu nại không đồng ý với quyết định
giải quyết thì có quyền khởi kiện ra Toà án hoặc tiếp tục
khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; trờng hợp
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết lần đầu mà
ngời khiếu nại không đồng ý có quyền khởi kiện ra Toà án. Nhng ngời khiếu nại chọn con đờng tiếp khiếu đến cơ quan
hành chính cấp trên hơn việc khởi kiện ra Toà án, vì ra Toà
phải chịu án phí, đủ thủ tục và qua các cấp của Toà xét xử
nếu có kháng án. Do đó, hầu hết ngời khiếu nại quyết định
hành chính tiếp khiếu lên cơ quan hành chính có thẩm quyền
của cấp trên, hết cấp tỉnh lên cấp Trung ơng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status