LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ luận văn nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Hải Phòng, ngày 02 tháng 11 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Hồng Diễn
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa
học Tiến sĩ Bùi Thị Hồng Việt đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo
Trường Đại học Đại Nam đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành
luận văn. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các công chức UBND huyện Vĩnh
Bảo và người dân địa phương đã hỗ trợ dữ liệu và các thông tin cần thiết cho
luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, những người thân, công chức
đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình
thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 02 tháng 11 năm 2019
Tác giả
Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng......................................................................32
2.2. Thực trạng đội ngũ công chức xã huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
.........................................................................................................................35
iii
2.2.1. Về số lượng............................................................................................35
2.2.2. Về cơ cấu...............................................................................................39
2.2.3. Về năng lực chuyên môn và kỹ năng công tác......................................42
2.2.4. Về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống..............................................53
2.3.3. Tiêu chí về uy tín trong công tác...........................................................61
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công chức cấp xã.......................62
2.3.1. Các nhân tố thuộc UBND huyện – đơn vị quản lý công chức..............65
2.3.2. Các nhân tố thuộc UBND cấp xã – đơn vị sử dụng công chức.............71
2.3.3. Các nhân tố khác...................................................................................75
2.4. Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của huyện Vĩnh
Bảo...................................................................................................................76
2.4.1. Những mặt mạnh...................................................................................77
2.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại trên......................................................79
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG
CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG...........................................................................................................85
3.1. Định hướng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã của huyện
Vĩnh Bảo..........................................................................................................85
3.1.1. Mục tiêu nâng cao chất lượng CC cấp xã trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo
đến năm 2025..................................................................................................85
3.1.2. Phương hướng nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn
huyện Vĩnh Bảo đến năm 2025.......................................................................86
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện
Vĩnh Bảo..........................................................................................................87
Nhà xuất bản
Ủy ban nhân dân
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
Tên bảng
Trang
bảng
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
2.8
2.9
2.10
2.11
2.12
2.13
2.14
2.15
2.16
vii
36
37
39
41
42
45
45
48
50
55
56
57
58
62
66
69
70
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số biểu
đồ
2.1
Tên biểu đồ
Đánh giá tác phong làm việc của đội ngũ CC cấp xã
theo cách tổng hợp đa ngành và liên ngành.
Cho đến nay, nhiều vấn đề quan trọng đang đặt ra trong phương thức
quản lý của chính quyền xã, như: thể chế quản lý một cách dân chủ và hiệu
1
lực, hiệu quả phù hợp với đặc điểm vùng miền, tộc người và phát huy đúng
mức được truyền thống tự quản của thôn/làng; nội dung, cấu trúc, chức năng
quản lý của chính quyền xã đối với phát triển xã hội; năng lực, kỹ năng thực
hành, các phương thức, điều kiện, thủ tục, quy trình quản lý một cách dân chủ
và hiệu quả; mối quan hệ giữa cơ chế quản lý với ý thức dân chủ, văn hóa
pháp luật, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình... của chính quyền xã.
Một số nội dung về công tác quản lý trong hoạt động của chính quyền
xã, tuy đã được thể chế hóa và thực hiện trên thực tế, nhưng do việc nhận thức
chưa thống nhất, các thiết kế cụ thể của mô hình chính quyền xã chưa hoàn
chỉnh và đồng bộ, nên sau khi thể chế hóa đã không vận hành được. Trong
công tác quản lý của chính quyền địa phương nói chung, chính quyền xã nói
riêng, chưa làm rõ được mối quan hệ giữa sự lãnh đạo/chỉ đạo của tổ chức
Đảng với thực hành quản lý của chính quyền và sự giám sát, phản biện của
hội đồng nhân dân và các tổ chức xã hội ở xã; chưa giải quyết được mối quan
hệ giữa quyền, lợi ích, nghĩa vụ của các chủ thể phát triển KTXH và chủ thể
quản lý phát triển KTXH trên địa bàn xã; nhất là giữa quản lý của chính
quyền xã với việc bảo đảm truyền thống tự quản của các thôn/làng.
Đây là những nguyên nhân căn bản dẫn tới những bất cập trong công
tác quản lý của chính quyền xã thời gian qua, đề ra yêu cầu đổi mới, hoàn
thiện tổ chức hoạt động của chính quyền xã trong điều kiện triển khai thực
hiện Hiến pháp năm 2013.
Công chức xã hiện nay chủ yếu xuất thân từ nông dân, lớn lên và
trưởng thành trong môi trường nông thôn, nên năng lực và trình độ còn nhiều
hạn chế. Công tác đào tạo CC xã, đặc biệt kỹ năng thực hành có tính nghề
báo có liên quan đến chủ đề, đồng thời chỉ ra khoảng trống về lý luận và thực
tiễn mà luận văn này sẽ kế thừa và tiếp tục hoàn thiện. Có thể liệt kê một số
tác phẩm như sau:
3
- Cuốn sách "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"
do PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên),
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003. Trong cuốn sách này, hai tác giả đã
nêu và phân tích các luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ
CC trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy
nhiên, tác phẩm viết ở tầm rộng: đội ngũ CC Nhà nước nói chung, chứ chưa
chuyên sâu về đội ngũ CC cấp xã nói riêng.
- Luận án tiến sĩ, đề tài “Hoàn thiện việc xây dựng đội ngũ công chức
hành chính nhà nước chuyên nghiệp ở Việt Nam” của Nghiên cứu sinh Chu
Xuân Khánh, năm 2010, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh. Nội dung luận án tác giả chủ yếu đề cập đến những quan niệm về CC
Nhà nước một số quốc gia khác nhau, làm cơ sở cho việc phân tích, so sánh
với thực tiễn ở Việt Nam, từ đó góp phần vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận
về đội ngũ CC hành chính Nhà nước và tính chuyên nghiệp của đội ngũ này.
Luận án đưa ra quan niệm về tính chuyên nghiệp của đội ngũ CC hành chính
Nhà nước, những biểu hiện của tính chuyên nghiệp và hệ thống chuẩn mực
của đội ngũ CC hành chính Nhà nước chuyên nghiệp. Tác giả đã hệ thống lại
quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ CC ở Việt Nam qua các giai
đoạn cách mạng; phân tích đánh giá thực trạng về xây dựng và phát triển đội
ngũ CC hành chính Nhà nước ở Việt Nam trên cơ sở đó rút ra các nguyên
nhân cản trở việc xây dựng đội ngũ CC hành chính Nhà nước. Đồng thời, tác
giả đã nêu một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ CC hành chính Nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Nghiên cứu tại huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng.
+ Thời gian: Số liệu thu thập cho giai đoạn 2014 – 2018 và đề xuất giải
pháp cho giai đoạn đến năm 2025.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu:
5
+ Thu thập dữ liệu sơ cấp: Bằng phương pháp điều tra xã hội học cụ thể
như sau: dự kiến xây dựng 100 phiếu hỏi, với 4 mẫu phiếu, mỗi mẫu phiếu
gồm một số câu hỏi với nội dung xoay quanh chủ đề nghiên cứu của luận văn
(có phụ lục kèm theo). Trong đó:
Mẫu phiếu 1: Điều tra, công chức xã: 100 người
Mẫu phiếu 2: Điều tra công dân trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo: 100
người
Mẫu phiếu 3: Điều tra, công chức huyện: 40 người
Thông qua ý kiến nhận xét của 2 đối tượng được phát phiếu bảng hỏi
trên, chúng ta có thêm cơ sở để đánh giá chất lượng đội ngũ CC cấp xã một
cách khách quan nhất.
+ Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu từ các bài báo, các báo cáo,
số liệu của Văn phòng UBND huyện Vĩnh Bảo.
- Phương pháp xử lý số liệu:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp
+ Phương pháp thống kê, so sánh
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng công chức cấp xã
Chương 2: Thực trạng chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện
thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân
mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh
đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà
nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong
7
biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm
từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Để hướng dẫn thi hành Luật cán bộ công chức, Chính phủ và các bộ
ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới như Nghị định số
06/2016/NĐ- CP ngày 25 tháng 01 năm 2016 quy định CC là “Công dân Việt
nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên
chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương
của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Như vậy CC ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các
cơ quan Hành chính Nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở
các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt nam; các tổ chức
Chính trị xã hội như: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến
binh, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ
quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tòa án nhân dân,
Viện kiểm sát nhân dân từ cấp Trung ương đến cấp huyện [17].
1.1.1.2. Khái niệm công chức cấp xã
Hiện nay, CC cấp xã được quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật cán
bộ, công chức 2008 như sau: “... công chức cấp xã là công dân Việt Nam
được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp
xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.
Như vậy, CC xã được tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực chuyên
Xã là một đơn vị cấp hành chính cuối cùng trong bốn cấp của hệ thống
quản lý hành chính, là cấp thấp nhất theo sự phân cấp quản lý nhưng thấp nhất
không đồng nghĩa với ít quan trọng nhất.
Do vậy, xây dựng đội ngũ CC xã là nhiệm vụ rất quan trọng. Có thể
đánh giá vị trí, vai trò của CC cấp xã trên một số khía cạnh sau:
- Đội ngũ CC xã là người giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực
9
hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt của đời sống
KTCH ở cơ sở.
- Đội ngũ CC xã là người giữ vai trò quyết định trong việc quán triệt, tổ
chức thực hiện mọi quyết định của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ cùng cấp và mọi
chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên, cũng như mọi
chương trình, kế hoạch của chính quyền xã.
- Công chức xã là cầu nối quan trọng nhất giữa Đảng, Nhà nước với
nhân dân.
- Đội ngũ CC xã giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng và thúc đẩy
phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở.
Công tác CC là một bộ phận trong công tác xây dựng Đảng, là công tác
Đảng liên quan chặt chẽ với việc xác định đường lối, chủ trương, chính sách
và nhiệm vụ chính trị, với việc sắp xếp tổ chức, bộ máy, cơ chế và đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng trong cả hệ thống chính trị.
Hiểu một cách tổng quát xây dựng đội ngũ CC cấp xã toàn bộ hoạt
động của chủ thể có đủ thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý, nhằm làm nên,
tạo ra một đội ngũ CC xã đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có lập trường
chính trị vững vàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ
sở. Đồng thời còn bao hàm cả việc nâng cao chất lượng đội ngũ CC xã hiện
có, để đội ngũ này thích ứng với cơ chế mới, yêu cầu mới của nhiệm vụ chính
trị đang đặt ra.
ngạch bậc tương ứng trong hệ thống hành chính, bởi vậy, người CC đang có
một vị thế xã hội nhất định để thực hiện quyền lực của Nhà nước quản lý toàn
xã hội.
Công chức có nhiều kinh nghiệm sống, được tích luỹ tuỳ theo lĩnh vực
mà họ hoạt động. Bởi là CC, họ phải được đào tạo ở trình độ nhất định, cùng
với vị trí làm việc của mình trong bộ máy công quyền [1], [17].
11
1.2. Chất lượng công chức cấp xã
1.2.1. Khái niệm chất lượng công chức cấp xã
Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tính chất định tính và
khó định lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm được. Dưới mỗi cách
tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau.
Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng được xem là: “Cái tạo nên phẩm
chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, một sự việc”. Đây là cách đánh
giá một con người, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, cái tính độc lập
của nó.
Theo một cách hiểu khác thì: Chất lượng là một phạm trù triết học biểu
thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định
tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính
khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái
liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng
thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật.
Như vậy, trong phạm vi đề tài nghiên cứu về chất lượng đội ngũ công
chức, có thể hiểu chất lượng c ủa độ i ngũ công chức là khả năng giải quyết
các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ
chức, cá nhân (khách hàng) về cung ứng các dịch vụ hành chính. Tiêu chí để
đánh giá chất lượng công chức cũng đa dạng: có thể là tỷ lệ giải quyết hồ sơ
đảm bảo đúng quy định về thời gian, quy trình, thủ tục; có thể là sự đo lường
chất lượng của cả đội ngũ.
Bên cạnh đó cũng cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng
và số lượng đội ngũ CC. Chỉ khi nào hai mặt này có quan hệ hài hòa mới tạo
nên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ.
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu, chất lượng đội ngũ CC xã là
13
chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng công chức cấp xã, thể hiện qua phẩm
chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác, chất
lượng và hiệu quả thực nhiệm vụ được phân công của mỗi CC cũng như cơ
cấu hợp lý về độ tuổi, về ngạch, bậc và số lượng đội ngũ CC bảo đảm thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp xã [4].
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
1.2.2.1. Kết quả hoàn thành công việc được giao
Năng lực của người CC quyết định sức mạnh để có thể hoàn thành công
việc với mục đích cuối cùng là hiệu quả, được thể hiện ở các mặt như: trình
độ văn hóa, kiến thức quản lý nhà nước, trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
+ Trình độ văn hóa là nền tảng cho nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ
trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận
lợi cho việc áp dụng chủ trương, chính sách trong thực tiễn.
+ Trình độ quản lý hành chính Nhà nước: Quản lý Nhà nước là sự tác
động mang tính tổ chức lên các quan hệ xã hội, đó là thủ pháp mà nhà quản lý
sử dụng trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình để giải quyết các vụ
việc cụ thể đặt ra. Hoạt động quản lý vừa được coi là một khoa học, vừa là
nghệ thuật. Để thực hiện được các hoạt động này, đòi hỏi đội ngũ CC xã cần
phải được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý Nhà nước thì
mới có được những kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ được giao
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Được hiểu là trình độ được đào tạo
ở các lĩnh vực khác nhau theo cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học.
luật, kinh tế, văn hóa, xã hội... Sự am hiểu và nắm vững đường lối, chính sách
của Đảng, Nhà nước, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật xử lý thông
tin... để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý Nhà nước một cách khôn
khéo, minh bạch, hợp lòng dân và không trái pháp luật. Đội ngũ CC xã phải
có sự ham mê, yêu nghề, chịu khó học hỏi, tích lũy kinh nghiệm. Đội ngũ CC
15
xã phải có khả năng thu thập thông tin, chọn lọc thông tin, khả năng quyết
định đúng đắn, kịp thời. Vì vậy, việc nâng cao hiểu biết và năng lực tổ chức
thực hiện cho đội ngũ CC xã là vấn đề quan trọng và bức xúc trong mục tiêu
nâng cao chất lượng đội ngũ CC cấp xã.
Năng lực là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý
một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường
xác định. Nói cách khác năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực
của con người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các
mục tiêu cụ thể trong các điều kiện xác định. Thông thường người ta chỉ rằng
năng lực gồm có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Năng lực của CC không phải là năng lực bất biến, được sử dụng trong
mọi hoàn cảnh, môi trường. Ở thời điểm hay môi trường này năng lực được
thể hiện, phát huy tác dụng nhưng ở thời điểm khác thì cẩn phải có loại năng
lực khác. Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra yêu cầu về
năng lực khác nhau. Người có năng lực tổ chức trong kháng chiến không có
nghĩa là có năng lực tổ chức trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong điều
kiện phát triển kinh tế hàng hóa thị trường cũng không có nghĩa là người đó
cũng có khả năng trở thành một giáo viên ngay được.
Năng lực của CC luôn gắn liền với mục đích tổng thể với chiến lược
phát triển của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực điều kiện cụ thể.
Năng lực tổ chức quản lý bao gồm khả năng động viên và giải quyết
các công việc, đó là khả năng tổ chức và phối hợp các hoạt động của các nhân
- Sự gương mẫu, gương mẫu đến mực thước về các mặt, trước hết là về
mặt phẩm chất đạo đức, có lối sống trong sạch, tận tụy, khiêm tốn, “mình vì
mọi người”; sự thấu cảm và chia sẻ.
- Có học thức cao, năng lực lãnh đạo và quản lý giỏi; tầm hiểu biết sâu
rộng, bao gồm cả nhãn quan chính trị, trình độ nhận thức và vốn sống; sự đổi
17