SKKN một số biện pháp dạy tốt môn tiếng việt 1 CGD trong trường tiểu học - Pdf 63

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm hình thành và phát triển cho học
sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp
trong các môi trường hoạt động. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp
phần rèn luyện các thao tác tư duy; cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ
giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người,
về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài; bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt
và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần
hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Môn học Tiếng Việt bao gồm hai bộ phận. Thứ nhất, đó là những kiến
thức về Tiếng Việt, kiến thức về hệ thống và chuẩn Tiếng Việt hoá. Cũng như
các môn học khác trong nhà trường như Toán, Tự nhiên - Xã hội… môn Tiếng
Việt phải cung cấp cho học sinh một số khái niệm, tri thức, phương pháp nghiên
cứu để hiểu Tiếng Việt. Thứ hai, đó là nội dung thực hành của môn học, các kĩ
năng hoạt động lời nói; tiếp nhận lời nói (nghe, đọc) và sản sinh lời nói (nói,
viết). Nội dung thứ hai này làm nên đặc thù của môn học. Trong nhà trường, dạy
Tiếng Việt phải được xem như là dạy một công cụ giao tiếp và tư duy nhằm
trang bị cho học sinh một hệ thống kĩ năng hoạt động giao tiếp bằng Tiếng Việt.
Môn Tiếng Việt bước đầu dạy cho học sinh nhận biết được những tri thức
sơ giản, cần thiết bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính
tả. Trên cơ sở đó, rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp
học sinh sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả trong suy nghĩ và trong giao tiếp. Dạy
học Tiếng Việt nhằm phát triển các năng lực trí tuệ và phát huy tính tích cực hoạt
động của học sinh. Thông qua môn Tiếng Việt dạy học cho học sinh những thao
tác tư duy cơ bản, dạy cách học tập và rèn luyện những thói quen cần có ở Tiểu
học. Dạy học Tiếng Việt theo hướng gợi mở cho học sinh cảm nhận cái hay, cái
đẹp của ngôn từ Tiếng Việt và hiểu được phần nào cuộc sống xung quanh. Đồng
thời bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính, lành mạnh như: tình cảm
gia đình, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước, con người, đồng

động. Công việc đầu tiên của dạy học phân môn này là tạo ra động cơ, nhu cầu
nói năng, kích thích học sinh tham gia vào hoạt động giao tiếp (nói, viết).
Thực tế trong dạy học Tiếng Việt 1–CGD hiện nay cho thấy tìm hiểu cách
thức để rèn luyện khả năng đọc, viết là cơ bản và cần thiết. Cụ thể đối với học
sinh lớp 1, phân môn cần đạt hai kỹ năng cơ bản đó là: Kỹ năng đọc đúng âm,
vần, vẽ mô hình, phân tích tiếng, luật chính tả, nhận xét luồng hơi phát ra để
phân biệt nguyên âm, phụ âm... Chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt 1–CGD
gồm ba tập. Tập 1 gồm tuần o và tuần 1 chủ yếu các em làm quen cách học, làm
quen các kí hiệu, phần này rất quan trọng là tiền đề cho các tuần sau. Tuần 2 đến
tuần 8 học sinh nắm chắc âm Tiếng Việt. Phân biệt được phụ âm và nguyên âm từ
nhận xét cách phát âm luồng hơi đi ra như thế nào? Đồng thời các em làm quen
mẫu 1 /ba/ vần chỉ có một âm chính.
Tập 2 từ tuần 9 đến tuần 26, các em tập trung vào học 4 mẫu đó là: mẫu 2 /oa/
vần có âm chính và âm đệm; mẫu 3 /an/ vần có âm chính và âm cuối; mẫu 4 /oan/
vần có đủ âm đệm, âm chính, âm cuối; mẫu 5 /iê/ vần có nguyên âm đôi.
Tập 3 từ tuần 27 đến tuần 35, các em chủ yếu luyện tập tổng hơp các phần
đã học ở tập 1 và 2. đi sâu vào học luật chính tả, phân biệt âm đầu, dấu thanh.
Tiếng Việt 1–CGD có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học.
Khi thực hiện chương trình mới, giáo viên thấy tâm đắc. Vì Tiếng Việt 1–CGD
có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện và nâng cao các kỹ năng sử
dụng Tiếng Việt, đặc biệt là kỹ năng sản sinh văn học (văn bản nói và văn bản
viết) cho học sinh Tiểu học. Như vậy, nói rằng Tiếng Việt 1–CGD góp phần to
lớn trong việc hiện đại hoá mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học
Tiếng Việt ở Tiểu học là hình thành, phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng
Tiếng Việt để học tập trong nhà trường và giao tiếp một cách đúng đắn, tự nhiên,
tự tin trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.

2



pháp, biện pháp hướng dẫn các em học sinh lớp 1 học tốt Tiếng Việt 1-CGD.
Thông qua môn Tiếng Việt nói chung và Tiếng Việt 1 – CGD nói riêng nhằm
giúp cho học sinh đọc tốt, đọc không ngắc ngứ, không đọc vẹt, đọc thông, đọc
diễn cảm, viết đúng, viết thạo và phát triển tư duy cho học sinh. Thông qua sáng
kiến này còn giúp cho giáo viên biết cách dạy và dạy tốt Tiếng Việt 1-CGD.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 01/3/2018
7. Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1. Về nội dung của sáng kiến
7.1.1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
7.1.1.1. Cơ sở lý luận
Bước vào thế kỷ XXI, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đây là một quá trình lâu dài, gian khổ, phức tạp, từ đây trên thế giới cũng như
3


đất nước ta bắt đầu đặt ra nhiều vấn đề mới như kinh tế, tri thức, sự phát triển
của công nghệ thông tin, hội nhập vào nền kinh tế - văn hóa của thế giới. Bởi
vậy đòi hỏi phải xây dựng và bồi dưỡng được nhân tài cho đất nước ngay từ bậc
Tiểu học.
Chính vì vậy để học sinh đọc tốt môn Tiếng Việt là một vấn đề rất nan giải vì
theo thói quen, học sinh thường đọc vẹt, không hiểu rõ về âm, vần, nguyên âm,
phụ âm, tiếng là một khối nguyên,...Chính vì thế mà học sinh chưa tích cực hoạt
động để tự chiếm lĩnh kiến thức, chưa có sự sáng tạo trong học tập, giao tiếp.
Nhưng đối với chương trình Tiếng Việt 1 – CGD, tôi rất hài lòng và hứng thú,
học sinh nắm chắc được âm, vần, nguyên âm, phụ âm, tiếng là một khối
nguyên,...Từ đó giúp các em đọc tốt, viết tốt. Qua đó bồi dưỡng tình yêu quê
hương đất nước và hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phân môn Tiếng Việt 1- CGD có tính chất thực hành, toàn diện, tổng hợp và
sáng tạo, sử dụng toàn bộ các kỹ năng được hình thành và phát triển do nhiều
phân môn khác của môn Tiếng Việt đảm nhiệm (kỹ năng đọc, nghe nói, viết chữ,


dạy và học Tiếng Việt nói chung và dạy Tiếng Việt 1 - CGD nói riêng, góp phần
rèn luyện các thao tác tư duy từ: câu, đoạn, bài văn và biết cách ứng xử giao tiếp
trong đời sống hàng ngày. Đồng thời cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ
giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về
văn hóa, văn học của người Việt Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng
của Tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Trong giảng dạy môn Tiếng Việt 1-CGD để có hiệu quả đòi hỏi người
giáo viên phải biết kết hợp hài hòa giữa các phương pháp và vận dụng linh hoạt,
sáng tạo.
Thực trạng trong quá trình thực hiện chương trình Tiếng Việt 1 – CGD:
a) Đối với nhà trường:
- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương và các cấp Đảng uỷ đã
tạo điều kiện tốt cho công tác giáo dục của trường học. Chi bộ và BGH nhà
trường luôn chỉ đạo sát sao tới công tác dạy và học, luôn quan tâm, động viên
giáo viên yên tâm công tác, nâng cao chất lượng dạy và học.
- Tổ chức các buổi chuyên đề để giáo viên có điều kiện giao lưu, học hỏi
nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ.
- Cơ sở vật chất nhà trường có đủ phòng học 2 buổi/ ngày.
- Phân công giáo viên dạy lớp 1 là những giáo viên nhiệt tình trong công
việc, có trình độ.
b, Đối với giáo viên:
- Giáo viên tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chuyên môn do phòng, sở đề
ra.
- Về chương trình dạy Tiếng Việt 1 - CGD việc sử dụng kí hiệu thay cho lời
nói của giáo viên đỡ mất thời gian.
- Giáo viên không phải soạn bài, nên có thời gian nghiên cứu quy trình dạy
nhiều hơn.
+ Khó khăn:

- Một số em do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn; một số em do bố mẹ đi làm
xa dẫn tới không có ai lo cho việc học hành của các em ở lớp và ở nhà.
-Trong quá trình viết các em chưa tự viết được bài, độ cao con chữ chưa
chuẩn. Chưa tự nghe viết đúng.
- Học sinh còn nhiều lúng túng khi vẽ mô hình, phân tích âm và từng phần để
đưa vào mô hình, chưa nắm được nguyên âm, phụ âm…
- Đầu năm học hầu như còn rất nhiều em chưa biết cách cầm bút để viết bài
nên giáo viên mất nhiều thời gian cầm tay cho các em tập viết. Vậy mà yêu cầu
các em viết chính tả thì càng khó khăn hơn rất nhiều.
- Yêu cầu học sinh viết vở em tập viết và nghe viết bài vào vở chính tả thì quá
chậm do đó có phần ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy cũng như học tập của 1
số học sinh khác. Ngay bài đầu tiên, nhiều học sinh chưa biết chữ cái nhưng đã
phải viết như dạng chính tả.
d, Phụ huynh:
- Một số gia đình điều kiện kinh tế khó khăn chưa quan tâm đến con.
- Chương trình Tiếng Việt 1 – CGD mới đưa vào trong các nhà trường nên
phụ huynh chưa tiếp cận được để dạy con mình ở nhà.
Từ những thuận lợi và khó khăn ở trên tôi đã áp dụng phương pháp điều tra,
khảo sát, phương pháp trò chuyện, phương pháp tổng kết và phối hợp các
phương pháp giảng dạy như sau:
+ Phương pháp điều tra khảo sát:
Giáo viên phân loại học sinh theo nhóm. Giáo viên làm đề, ra câu hỏi trắc
nghiệm, kiểm tra trực tiếp học sinh ở các lớp. Dạy thực nghiệm ở một số lớp.
Nghiên cứu tài liệu.
+ Phương pháp trò chuyện:
Giáo viên nói chuyện với học sinh, thăm dò ý kiến giáo viên để tìm hiểu
việc học của học sinh và việc dạy của giáo viên đối với môn Tiếng Viết 1-CGD.
+ Phối hợp các phương pháp giảng dạy:
Phối hợp các phương pháp giảng dạy để thiết kế bài giảng và tiến hành dạy
thực nghiệm, kiểm tra đánh giá.

4

Rất
thành
thạo
69
(30.0%)
40
(17.4%)
46
(20.0%)

Mức độ
Thành
thạo
115
(50.0%)
120
(52.17%)
90
(39.13%)

Chưa
thành
thạo
46
(20.0%)
70
(30.43%)
94

15% 12 60% 5
25%
1A- Đạo Tú
20
2
10% 12 60% 6
30%
1B- An Hòa
20
3
15% 11 55% 6
30%
1A- Hướng Đạo
20
4
20% 13 65% 3
15%
1B – Duy Phiên
20
3
15% 13 65% 4
20%
Bảng tổng hợp kết quả viết
Lớp
TSHS
Viết đẹp
Viết đúng
Viết chưa đúng
1A- Hợp Hòa B
20

6
30% 11 55%
3
15%
7


Thông qua điều tra tôi nhận thấy nhìn chung giáo viên đã nắm được mục đích
của việc dạy Tiếng Việt 1- CGD cho học sinh, biết sử dụng linh hoạt các phương
pháp dạy học mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và biết
phối hợp nhiều hình thức dạy học để tổ chức các hoạt động học tập giúp học
sinh tự tin, bộc lộ được năng lực của mình. Một số giáo viên sử dụng linh hoạt
các phương pháp dạy học giúp học sinh biết vận dụng tốt vào việc học Tiếng
Việt 1 – CGD cũng như các môn học khác. Để có được thành quả trên là do giáo
viên đã đầu tư nghiên cứu thiết kế bài học, thực hiện được quy trình bốn
việc,không ngừng học hỏi nâng cao chuyên môn.
Tuy nhiên, một số giáo viên còn lúng túng trong việc sử lý các tình huống
trong tiết dạy.
Nhìn chung việc dạy Tiếng Việt 1-CGD hiện nay còn nhiều hạn chế. Điều
đó làm ảnh hưởng chất lượng học tập của học sinh. Chính vì vậy mà việc dạy
Tiếng Việt 1-CGD đang có nhiều vấn đề quan tâm giải quyết như:
+ Về phía giáo viên:
Nhiều giáo viên chỉ chú ý đến việc đọc, viết của học sinh mà chưa chú ý
đến quy trình bốn việc.
- Còn ít chú ý đến tâm thế đọc, viết của học sinh: Cách ngồi viết, cách đọc,
cách diễn đạt một bài văn, cách dùng từ đặt câu, cách trình bày một đoạn văn,
bài văn hay một văn bản, cách viết đoạn đối thoại, sự bình tĩnh tự tin.
- Chưa phát hiện kịp thời số học sinh có thói quen đọc vẹt, phát âm chưa
đúng.
- Chưa chú ý đến việc viết đúng luật chính tả.

- Khả năng nhận biết của các em không đồng đều.
- Lần đầu tiên các em tiếp xúc với các môn học, đặc biệt là môn Tiếng Việt 1
– CGD còn nhiều bỡ ngỡ. Ngay đầu năm học yêu cầu học sinh phải nắm chắc
phần âm, vần, vẽ mô hình, phân tích tiếng, luật chính tả, nhận xét luồng hơi phát
ra để phân biệt nguyên âm, phụ âm... .Vì vậy, học sinh chỉ ghi nhớ một cách
máy móc bước đầu học đọc, học viết, học cách phân biệt nguyên âm, phụ âm,
cách dùng mẫu, lập mẫu, luật chính tả, các em còn nhiều bỡ ngỡ và tiếp thu kiến
thức thật khó khăn, một số em chỉ đọc vẹt chưa thuộc hết bảng chữ cái.
- Chủ yếu các em sinh sống ở vùng nông thôn nên môi trường giao tiếp của
các em còn hạn chế, khả năng sử dụng vốn từ còn yếu, kỹ năng kiểm tra, đánh
giá hoạt động giao tiếp và sửa lỗi về nội dung, hình thức diễn đạt còn yếu. Kĩ
năng đọc, viết chưa có. Một số em nhà xa hay vắng học.
- Trong quá trình viết nhiều em chưa tự viết được bài, độ cao con chữ chưa
chuẩn. Chưa tự nghe để viết bài cho đúng.
- Học sinh còn nhiều lúng túng khi vẽ mô hình, phân tích âm và từng phần
để đưa vào mô hình, chưa nắm được nguyên âm, phụ âm…
- Đầu năm học hầu như còn rất nhiều em chưa biết cách cầm bút để viết bài
nên giáo viên mất nhiều thời gian cầm tay cho các em tập viết. Vậy mà yêu cầu
các em viết chính tả thì càng khó khăn hơn rất nhiều.
- Yêu cầu học sinh viết vở em tập viết và nghe viết bài vào vở chính tả thì
quá chậm do đó có phần ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy cũng như học tập
của một số học sinh khác. Ngay bài đầu tiên, nhiều học sinh chưa biết chữ cái
nhưng đã phải viết như dạng chính tả.
- Trước đây, học hết 16 tuần, các em thuộc bảng chữ cái và có thể ghép vần
thành âm, tiếng, từ, học sinh chỉ đọc bài dài 21 tiếng. Nay hết 16 tuần, học sinh
đã phải đọc những bài đọc dài, mặc dù các em chưa biết ghép vần và đọc tiếng
các em chỉ là đọc vẹt theo thầy cô nên không viết được chữ.
- Phụ huynh học sinh đa số có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa quan tâm
đến việc học tập của con em mình.
- Chương trình Tiếng Việt 1-CGD mới đưa vào trong các nhà trường nên phụ

âm đôi. Cách đặt dấu thanh.
- Học sinh phải có bảng con và đầy đủ dồ dùng học tập.
- Trong giờ học chăm chú nghe theo sự hướng dẫn của thầy cô. Biết chia sẻ
giúp đỡ bạn trong học tập.
7.1.2.2. Đối với giáo viên
Giáo viên xây dựng tốt nề nếp lớp học ngay từ đầu năm học.
Chuẩn bị cho việc học các bài Tiếng Việt 1-CGD theo từng nội dung.
Dạy học sinh biết đọc thông, viết thạo, nắm bắt được kiến thức tốt, tôi cần
nghiên cứu bài trước khi lên lớp. Nắm chắc được chương trình Tiếng Việt 1 –
CGD như sau:
Lớp 1: Số tiết: 5 tiết/tuần; cả năm có 165 tiết.
Khái quát chung về SGK môn Tiếng việt 1 - CGD:
Tiếng việt 1 - CGD gốm có 3 tập:
Những tiết học đầu tiên đón em vào lớp 1 tuy không học một chữ nào nhưng
lại có giá trị định hướng cho mọi việc về sau. Hai tuần đầu là cơ hội ngàn vàng đưa
các em vào lối sống mới, theo nền nếp mới. Tập 1 gồm tuần o và tuần 1 chủ yếu
các em làm quen cách học, làm quen các kí hiệu, phần này rất quan trọng là tiền đề
cho các tuần sau. Tuần 2 đến tuần 8 học sinh nắm chắc âm Tiếng Việt. Phân biệt
được phụ âm và nguyên âm từ nhận xét cách phát âm luồng hơi đi ra như thế nào?
Tập 2 từ tuần 9 đến tuần 26, các em tập trung vào học các mẫu cơ bản:
Mẫu 1: Vần chỉ có âm chính: ba
10


Mẫu 2: Vần có âm đệm, âm chính: loa
Mẫu 3: Vần có âm chính, âm cuối: lan
Mẫu 4: Vần có âm đệm, âm chính, âm cuối: loan
Mẫu 5: Nguyên âm đôi: uô, ưa, iê (yê)
Vần có âm cuối theo cặp (m/p, t/c,…)
Tập 3 từ tuần 27đến tuần 35, các em chủ yếu luyện tập tổng hơp các phần

Quan tâm khích lệ học sinh, tạo cơ hội để học sinh được chủ động tích cực
thông qua giờ học và thực hành. Kiểm tra thường xuyên để uốn nắn cho học
sinh.
Thường xuyên kiểm tra, gần gũi các em học sinh hay mắc lỗi để động viên,
khuyến khích các em, không để các em chán nản và phối hợp cùng với gia đình
tìm biện pháp rèn riêng cho từng em.

11


Rèn kĩ năng đọc đúng, đọc thật chuẩn và chính xác bài đọc. Cho cả lớp đọc,
đọc cá nhân để phát hiện lỗi sai chỉnh sửa kịp thời. Lồng ghép các trò chơi học
tập trong các tiết học. Tổ chức cho các em hoạt động chuyển tiết bằng nhiều
hình thức phong phú tránh mỏi mệt sau mỗi tiết học.Làm tốt công tác duy trì sĩ
số hàng ngày.
Yêu cầu học sinh học thuộc bảng chữ cái, giáo viên viết và in bảng chữ cái
có phiên âm cách đọc phát về cho phụ huynh học sinh dạy thêm cho con đọc và
viết ở nhà: a, b (bờ), c, k, q (cờ), d, gi, r (rờ)…
a) Đổi mới phương pháp giảng dạy
Để cho học sinh “Mỗi một ngày đến trường là một ngày vui”, để mỗi tiết
học là một điều mới mẻ, nhẹ nhàng, thoải mái thì thầy giáo đóng vai trò tổ chức
hướng dẫn học sinh hoạt động. Mỗi học sinh đều được hoạt động, đều được bộc
lộ mình và phát triển sao cho phù hợp với nội dung bài học, phù hợp với tâm lý
lứa tuổi để cho giờ học của các em nhẹ nhàng thoải mái tiếp thu kiến thức một
cách nhanh chóng. Người giáo viên có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng vô
cùng to lớn đối với học sinh vì họ là những người chủ đạo tổ chức các hoạt động
học tập của học sinh, chính vì thế bản thân người giáo viên cần phải:
- Luôn học hỏi đồng nghiệp và tự học để nâng cao trình độ bản thân và nâng
cao tay nghề.
- Phải đầu tư thật kĩ bài dạy trước khi lên lớp.

từng cá nhân làm việc độc lập nhằm thực hiện nhiệm vụ học tập. Phân loại đối tượng
học sinh theo nhóm và đặt tên nhóm khi tổ chức trò chơi (thi đọc trong nhóm).
Có những bài tập phù hợp với trình độ từng nhóm học sinh để nhóm học sinh
học tốt phát huy hết khả năng của mình (Đọc bài cả trang chẵn và trang lẻ),
nhóm học sinh khác chỉ yêu cầu đọc một số tiếng có vần mới.
Giúp các em từ chỗ chưa biết âm, vần, chưa biết đọc, biết viết,... đến khi
đọc thông viết thạo và biết thực hiện các kĩ năng trên trong đời sống hàng
ngày và cũng là phương tiện để các em tiếp tục học lên các lớp trên là một
quá trình giảng dạy không phải ngày một ngày hai mà chuyển biến được mà cần
có thời gian đó là quá trình giáo viên dạy học sinh thường xuyên, liên tục suốt
đời đòi hỏi người giáo viên dạy theo phương pháp và đổi mới ở lớp 1 như sau:
* Để giúp học sinh lớp 1 nắm vững được nguyên âm, phụ âm, ghép vần
(theo 5 mẫu) trong Tiếng việt 1 – CGD (3 tập). Giáo viên phải cho học sinh học
chắc tuần 0 (là tuần rất quan trọng là tiền đề để học tốt các tuần tiếp theo).
* Với dạng bài: Tiếng gồm có các bài:
- Tách rời ra từng tiếng.
- Tiếng giống nhau, khác nhau.
- Tách tiếng có thanh ngang ra 2 phần.
- Tiếng có 1 phần khác nhau…
* Dạng bài: Âm dành cho khái niệm âm là âm vị, chia ra nguyên âm và
phụ âm và được chia làm 2 công đoạn: Lập mẫu và dùng mẫu.
Lập mẫu: Mẫu ba cho 36 âm vị
Mẫu an cho 150 vần có âm cuối, 150 vần có đủ âm đệm, âm chính, âm
cuối.
- Công đoạn 1 lập mẫu /ba/
Quy trình 4 việc là 1 giải pháp kĩ thuật cho tiết học có thể gói gọn trong
các chữ sau: “Nói một lần, làm nhiều lần. Nói gọn lời, làm chi li”.
- Quy trình:
1. Mở đầu: Giáo viên cho học sinh ôn lại bài cũ có liên quan đến âm mới.
-Vẽ mô hình tiếng bài cũ.

Giáo viên phải hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ đường đi của bút: Điểm bắt đầu điểm chuyển hướng - điểm kết thúc (trước đây giáo viên chỉ hướng dẫn độ cao
và các nét).
Đưa chữ vào mô hình
a
Dùng mô hình để tạo tiếng mới bằng cách giữ lại âm đang học, thay âm
đầu hoặc thêm dấu thanh trong mô hình, viết xong, đọc đi, đọc lại nhiều lần cá
nhân, nhóm, tổ và cả lớp để hình thành kĩ năng.
Chú ý viết là thao tác bằng tay, là kỹ năng thực tiễn. Giáo viên huấn luyện
viết theo 4 mức độ: Viết được (viết ra chữ), viết đúng (đúng kiểu, đúng cỡ), viết
đẹp, viết nhanh (không vội đưa ra yêu cầu viết nhanh). Quan trọng nhất là viết
phải đúng (viết đúng con chữ và viết đúng quy trình – viết đúng chính tả).
2c: Viết tiếng có âm mới.
2d: Hướng dẫn viết vở “Em tập viết”.
Chú ý: Viết đúng chính tả: Có 2 loại luật chính tả

14


1. Luật ghi âm, xử lí quan hệ âm /chữ
Âm
Chữ
Ví dụ
1
1
/b/ - b
1
2
/g/ - g/gh
/ng/ - ng/ngh
/i/ - i/y

đôi, lưỡng phân):
a. Lấy tiếng thanh ngang làm cơ sở: ba → /bờ/-/a/- /ba/
b. Quy về tiếng thanh ngang: /bà/→ /ba/- /huyền/- /bà/
Cách đánh vần cổ truyền lúc nào cũng bắt đầu từ đầu: bờ- a- ba- huyền –
bà.
Đọc là thao tác chuyển từ chữ về âm vì vậy khi nói tiếng là 1 lần phát âm
trọn vẹn thì chữ ghi tiếng cũng đọc 1 lần trọn vẹn : nhìn chữ /bà/ đọc trơn /bà/
nếu không đọc trơn buộc phải đánh vần thì lùi 1 bước đánh vần mấp máy môi
/bà/- /ba/- /huyền/- /bà/
* Cơ chế tách đôi:
1. Tạm thời bỏ thanh ngang- đọc trơn.
2. Trả lại thanh- đọc tiếng có thanh.
3. Đọc cả 4 mức độ âm thanh: To- nhỏ- nhẩm- thầm (ngậm miệng) hay
còn gọi đọc bằng mắt.
3b: Đọc sách Tiếng việt 1 - CGD tập 1.
Thao tác 1: Trò tự đọc- đọc nhỏ, đọc trơn
Thao tác 2: Đọc theo mẫu của thầy- đọc trơn
Thao tác 3: Đọc theo tổ để củng cố
Thao tác 4: Đọc cá nhân để kiểm tra
15


Thao tác 5: Nhận xét về chính tả
Việc 4: Viết chính tả.
Việc 4 là cơ hội kiểm tra đánh giá điều chỉnh 3 việc đã làm: Có phải học
gì được nấy, học đâu chắc đấy?
Quy trình viết chính tả:
Thầy đọc 1 lần 1-2 tiếng
Trò làm 4 thao tác theo trật tự:
1. Nhắc lại tiếng

Đọc trơn ke
Phân tích ke: /ke/→ /cờ/ - /e/ - /ke/.
* Dùng mẫu để làm ra sản phẩm mới, bao hàm trong đó cả “Củng cố - ôn
tập” những gì đã có.
1. Mỗi lần dùng mẫu chỉ thay một thành phần của cấu trúc là 1 âm (âm
vị).
16


2. Để nắm chắc âm mới thì phải giữ lại nó (trong mô hình) thay âm kia
bằng những âm đã học. Viết vào bảng con những tiếng mới.
Học chữ c thì gặp lại các chữ a, b
Học chữ e thì gặp lại các chữ: a, b, c, ch, d, đ
Các âm (và chữ) xuất hiện lần lượt theo thứ tự Bảng chữ cái abc. Nếu
hàng ngày giáo viên làm theo thứ tự này thì học hết lớp 1 các em sẽ học thuộc
Bảng chữ cái.
Hết tiết học này đến tiết học khác, tiết học nào cũng làm theo quy trình 4
việc thì học sinh sẽ học được cách làm việc trí óc. Các tiết học kế tiếp nhau dùng
Mẫu /ba/ đều có cùng một chất liệu là khái niệm âm vị chứa trong các vật liệu
khác nhau, ghi lại bằng 37 chữ. Mỗi ngày đến trường học Tiết học mới, em
mang về nhà 1 chữ mới, như được hưởng một niềm vui mới “Mỗi ngày đến
trường náo nức một ngày vui!”
Tiết học được tổ chức và kiểm soát trên cả 2 trang trong SGK.
Trang chẵn: dành cho học sinh cả lớp đều đọc được.
Trang lẻ dùng để phân hóa: Ai có sức đến đâu thì học tập đến đó. Cả trang
chẵn lẫn trang lẻ đều tạo cơ hội cho mỗi học sinh dung hết sức mình (nhưng
không quá sức) để phát triển hết cỡ, từ đó cảm nhận được “đi học là hạnh phúc”.
Quy trình dạy vần
Như chúng ta đã biết, mỗi tiết học Công nghệ giáo dục (CGD) làm ra một
sản phẩm kép: vừa là khái niệm, vừa là quá trình làm ra khái niệm ấy, vừa là

chữ cụ thể, để khẳng định sản phẩm của tiết học.
Trong số các sản phẩm làm ra bằng quy trình 4 việc thì quan trọng nhất là
mẫu, sản phẩm của công đoạn lập mẫu. Khi lập mẫu, quá trình diễn ra theo một
quy trình chặt chẽ, kiểm soát từng thao tác, ai cũng làm được, làm gì được nấy,
làm đâu chắc đấy, làm ra sản phẩm tất yếu. Sản phẩm của công đoạn lập mẫu là
một sản phẩm kép: vừa là kiến thức mới, vừa là quy trình kỹ thuật làm ra kiến
thức ấy nghĩa là: “Kiến thức là khái niệm ngữ âm. Cách làm là quy trình bốn
việc”. Tiếng Việt công nghệ lớp 1 tập 2 gọi là vần vì nó chứa tất cả các vần của
Tiếng Việt chia ra 5 mẫu như sau:
Một là: Mẫu /ba/. Vần chỉ có âm chính: 14 vần (nguyên âm).
Hai là: Mẫu /oa/. Vần có âm đệm và âm chính: 5 vần.
Ba là: Mẫu /an/. Vần có âm chính và âm cuối: 150 vần.
Bốn là: Mẫu /oan/. Vần có đủ âm đệm – âm chính và âm cuối.
Năm là: Mẫu /iê/. Dùng để tổng kết toàn bộ các mẫu đã học.
Kết thúc mẫu /iê/, coi như học sinh đi qua đoạn đường có thầy trực tiếp
dắt tay. Cấu trúc của 5 mẫu đủ để chứa bất cứ Tiếng nào của Tiếng Việt, chỉ cần
thay vật liệu trong bất cứ mẫu nào. Đối với phần vần có hai giai đoạn:
Giai đoạn 1 dùng một âm chính a để hình thành các vần có âm cuối.
+ Lập mẫu /oa/ bằng cách làm tròn môi âm /a/. Dùng mẫu oa thay âm chính
+ Lập mẫu /an/ bằng cách phân tích tiếng /lan/. Dùng mẫu an rồi thay âm cuối
thiết kế theo từng cặp:
Thay n bằng t
an /at
Thay n/t bằng m/ p
am/ap
Thay n / t bằng ng /c
ang /ac
Thay n /t bằng nh/ch
anh /ach
Thay n /t bằng i/y

3a: Đọc chữ trên bảng lớp
3b: Đọc sách Tiếng việt CGD lớp1- tập 2
Trước khi luyện đọc theo cặp, giáo viên yêu cầu học sinh mở sách giáo
khoa. Nếu bài đọc có tranh minh hoạ giáo viên có thể cho học sinh tìm hiểu
trong phần này. Sau đó tiến hành cho học sinh đọc theo cặp (nhóm) trong sách
giáo khoa. Sau khi luyện đọc theo cặp, giáo viên tổ chức cho vài nhóm thi đọc
trước lớp, mời các nhóm còn lại nhận xét đánh giá. Với tính chất thi đua như thế
sẽ giúp học sinh hứng thú rất nhiều, đồng thời phát huy được việc tự đánh giá
của học sinh trong lớp.
Việc 4: Viết chính tả.
4a: Viết bảng con.
4b: Viết vở chính tả (câu ứng dụng).
4c: Thu vở chấm bài, nhận xét để hs rút kinh nghiệm.
Quy trình tổng hợp
* So sánh với tập 1 và tập 2 thì tập 3 quy trình có thay đổi như sau:
Việc 1: Ôn tập dành cho ngữ âm- khái niệm ngữ âm và chính tả (ở trang
lẻ)
Việc 2: Đọc: Đọc trơn, đọc cả 4 mức âm thanh. Chú ý hơn đọc bằng mắt
(để tăng tốc độ đọc). Bài đọc ở trang chẵn
Tập 1 và tập 2:
Việc 1: Đọc,
Việc 2: Viết vở : Em tập viết
Việc 3: Đọc,
Việc 4: Viết chính tả
Tập 3:
Việc 1: Đọc,
Việc 2: Đọc
Việc 3: viết ,
Việc 4: Viết chính tả
Thực hành Tuần 29 (tiết 9-10)

3a. Viết trên bảng con
Thầy hướng dẫn viết chữ I hoa, I-ta-li-a, Im hơi lặng tiếng.Học sinh đọc
dòng chữ mẫu đó rồi nhận xét (về độ cao của các chữ cái, cách đặt dấu thanh,
khoảng cách giữa các chữ cái trong một Tiếng, khoảng cách giữa các chữ ghi
Tiếng).
3b.Viết vào vở em tập viết:
Học sinh viết theo hướng dẫn của thầy. Thầy quan sát, kiểm soát quá trìn
viết của học sinh, chỉnh sửa, nhận xét và rút kinh nghiệm cho cả lớp.
Việc 4: Viết chính tả.
Bước 1: Chuẩn bị: Giáo viên đọc cho học sinh viết bảng con từ khó.
Viết bảng con hoặc viết vào vở nháp từ: rụt cổ, xòe cánh, ríu rít, …
Cho học sinh đọc lại từ vừa viết (đồng thanh).
Hướng dẫn cách trình bày bài thơ: Mỗi câu thơ viết 1 dòng. Chữ đầu tiên
của mỗi dòng thơ đều viết hoa và lùi vào 3 ô ly (vì mỗi dòng có 4 chữ). Hết khổ
thơ thứ nhất cách 1 dòng rồi viết khổ thơ thứ 2.
Bước 2: Nghe –viết: Viết bài thơ: Con công nó múa
Viết vở chính tả (Theo 4 bước)
1. Nhắc lại tiếng
2. Phân tích tiếng
3. Viết (theo luật chính tả)
4. Đọc lại
20


Giáo viên đọc soát bài.
Thu vở nhận xét bài, nhận xét rút kinh nghiệm. Giáo viên lưu ý 1 số từ
học sinh hay viết sai.
Tập ba mang tên tự học nghĩa là học sinh tự sử lý hai mối quan hệ cơ bản:
quan hệ âm / chữ và quan hệ chữ / nghĩa. Mối quan hệ âm / chữ quyết định sự
thành bại của việc học, quen gọi là đọc thông, viết thạo. Mối quan hệ chữ / nghĩa

chữ q, học sinh viết chữ q…), Hoặc cho học sinh nhận diện luật chính tả sau khi
giáo viên viết xong. Đồng thời giúp các em hiểu được mối quan hệ chữ / nghĩa
để viết đúng chính tả. Ví dụ: Tiếng /gia/ (trong gia đình) viết gia, còn tiếng /da/
(trong da thịt) thì viết da. Ngoài trong nước các vùng miền nói khác nhau, thì
phải lấy nghĩa làm căn cứ, phải viết đúng chữ ghi nghĩa ấy. Ví dụ:
+ Về âm đầu: giã / dã, lo / no, dô /nô.
+ Về âm cuối: tang/ tan, tát / tác.
21


+ Về âm chính: hiêu / hươu, tàu / tầu.
+ Về thanh: nghỉ / nghĩ.
Viết đúng nghĩa là viết đúng con chữ, viết đúng chính tả, viết đúng chữ
gắn với nghĩa.
- Rèn kĩ năng viết chính tả:
Muốn viết chính tả tốt trước hết học sinh phải được luyện đọc nhiều và
đọc đúng (tăng cường đọc cá nhân để sửa lỗi).
Xác định rõ từng em học sinh hay viết sai chính tả và các lỗi sai hay mắc
phải xếp những em này ngồi ở những vị trí bàn đầu để dễ quan sát và kiểm tra
trong khi các em viết bài.
Sắp xếp những em hay viết sai chính tả ngồi gần những em học sinh đọc
chuẩn, viết đúng chính tả để có thể giúp đỡ cho bạn.
Trong các buổi phụ đạo học sinh viết yếu chỉ chú trọng phần luyện viết
và đọc. Trước khi học sinh viết chính tả nên cho học sinh nêu lại tư thế ngồi viết
cho chuẩn mới cho học sinh viết để tránh cho các em bị cong vẹo cột sống.
Giáo viên nhận xét bài và sửa lại các lỗi sai cho học sinh. Yêu cầu học
sinh viết lại các lỗi sai xuống cuối vở từ 1đến 2 lần.
Học sinh yếu chưa biết viết giáo viên phải cầm tay cho học sinh viết.
Cho học sinh luyện viết chữ hoa giáo viên cần lưu ý phân tích cụ thể từng
nét, độ cao điểm bắt đầu và điểm kết thúc sau đó cho học sinh quan sát chữ mẫu,

thụ, thái độ, cảm xúc cá nhân) môn Tiếng Việt 1 - CGD hơn bất kỳ một phân
môn nào khác đặt lên hàng đầu yêu cầu phát huy tính chủ động, sáng tạo,
bản lĩnh, cá nhân của học sinh. Do đó, dạy Tiếng Việt 1 - CGD phải tích cực
hoá được hoạt động học tập của học sinh, phải tạo điều kiện để học sinh chủ
động, tự do thể hiện cái "tôi" của mình một cách rõ ràng, bộc bạch cái riêng
của mình một cách trọn vẹn.
Để phát huy tích cực cho học sinh học tốt môn Tiếng Việt 1 – CGD cần:
+ Đối với giáo viên:
- Giáo viên phải nhuần nhuyễn về phương pháp giảng dạy Tiếng Việt 1 CGD.
- Giáo viên phải mạnh dạn trong việc tiếp thu và áp dụng cái mới phục vụ
cho quá trình dạy học.
- Có rút kinh nghiệm nghiêm túc sau mỗi lần thử nghiệm để hoàn thiện sáng
kiến.
- Trang thiết bị dạy học đầy đủ.
- Nắm chắc chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng bài học mà mình muốn vận
dụng biện pháp mới.
- Giáo viên phải thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn để kịp thời
điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp.
- Giáo viên phải kiểm tra thường xuyên, khuyến khích, động viên giúp cho
các em tự tin,thích thú trong học tập.
- Giáo viên gần gũi với các em, lời nói nhẹ nhàng, cử chỉ thân mật, thái độ
ân cần tạo điều kiện để các em chia sẻ những vướng mắc trong học tập cũng như
trong cuộc sống hàng ngày.
- Biện pháp dạy học sinh thực hiện các kĩ năng trong môn Tiếng Việt 1 CGD phải được thực hiện đồng bộ các lớp đồng thời cho các em nâng cao kĩ
năng sử dụng biện pháp này.
+ Đối với học sinh:
- Hết sức chú ý nghe giảng, có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
- Mạnh dạn, tự tin phát biểu ý kiến để các bạn xây dựng cho mình.
- Tập cho mình có thói quen đọc sách báo hàng ngày để cập nhật thông tin
bổ sung cho bài làm của mình thêm sâu sắc hơn. Tuyệt đối tránh máy móc rập

Sáng kiến kinh nghiêm “Một số kinh nghiệm ban đầu để dạy tốt môn
Tiếng Việt 1-CGD cho học sinh lớp 1” của tôi đã được áp dụng hiệu quả trong
phạm vi huyện Tam Dương.
8. Những thông tin cần bảo mật: Không
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
- Cơ sở vật chất điều kiện thường.
- Nhân lực mọi giáo viên Tiểu học.
- Kinh tế điều kiện thường.
10. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả
và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu
10.1. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả
Trước khi thực hiện sáng kiến, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh ở khối
lớp 1 trường Tiểu học Hợp Hòa B, Trường Tiểu học Đạo Tú, Trường Tiểu học
An Hòa, Trường Tiểu học Hướng Đạo, Trường Tiểu học Duy Phiên tháng 3 năm
2018 kết quả đạt được cụ thể như sau:

24


Lớp

Bảng tổng hợp kết quả đọc
TSHS Đọc diễn cảm Đọc trơn

Đọc ngắc
ngứ
1A- Hợp Hòa B
20
3
15% 12 60% 5

Viết đúng
Viết chưa đúng
1A- Hợp Hòa B
20
5
25% 11 55%
4
20%
1B- Hợp Hòa B
20
3
15% 12 60%
5
25%
1A- Đạo Tú
20
4
20% 12 60%
4
20%
1B- Đạo Tú
20
3
15% 13 65%
4
20%
1A- Hướng Đạo
20
5
25% 12 60%

3
15% 12 60% 5 25%
1A- Đạo Tú
TN
20
5
25% 12 60% 3 15%
1B- Đạo Tú
ĐC
20
4
20% 11 55% 5 25%
1A- Hướng Đạo TN
20
8
40% 12 60% 0
0%
1B- Hướng Đạo ĐC
20
3
15% 13 65% 4 20%

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status