LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Pdf 63

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1. Khái niệm vùng
Cho đến nay có rất nhiều khái niệm về vùng nhưng đều có thể coi: vùng
như là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, có một sắc thái dặc thù nào đó, hoạt
động như một hệ thống do có mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành
phần cấu tạo nên nó (cụ thể như các luồng trao đổi vật chất, năng lượng, thông
tin…) cũng như mối quan hệ có chọn lọc với không gian các cấp bên ngoài. Các
thuộc tính cơ bản của vùng:
- Là một phần của bề mặt trái đất, hơn nữa chiếm không gian nhất định (không
gian ba chiều). Một số không gian này là không gian tụ nhiên, không gian kinh tế,
không gian xã hội,…
- Có phạm vi giới tuyến nhất định: phạm vi có lớn nhỏ là căn cứ vào các yêu cầu
khác nhau, hệ thống chỉ tiêu khác nhau để chia; giới tuyến của vùng thường có
đặc trưng mang tính quá độ, là một “dải đất” từ biến lượng tới biến chất.
- Có hình thức kết cấu hệ thống nhất định: tính phân cấp hoặc tính nhiều cấp, tính
phân tầng. Do vậy vùng có mội quan hệ trên với dưới, phải với trái, mỗi vùng
nhỏ là một phần hợp thành của một vùng lớn.
- Vùng là một tồn tại khách quan: là cái mà để căn cứ vào đó theo yêu cầu và đối
tượng khác nhau để phân chia, là sự phản ánh chủ quan nhận thức của con người
đối với thế giới khách quan.
- Tính đồng nhất tương đối: thể hiện trong các đặc điểm tự nhiên và các đặc điểm
lịch sử. Các đặc điểm sau này được bảo tồn thông qua những gia tài văn hóa như
trong các kiến trúc nhà ở, nếp sinh hoạt, văn hóa dân gian,…
- Trình độ phát triển kinh tế xã hội và sự sinh lợi của lãnh thổ ảnh hưởng lớn tới
kích thước của vùng.
Tóm lại: Vùng là một hệ thống bao gồm các mối liên hệ giữa các bộ phận
hợp thành với các dạng liên hệ địa lý, kinh tế, xã hội,…bên trong cũng như bên
ngoài hệ thống.
1.2. Vùng kinh tế
Vùng kinh tế là một thực thể tồn tại khách quan, sự phát triển lực lượng
sản xuất quyết định nội dung, trình độ và mức độ phát triển vùng. Các vùng kinh

so với thời kỳ trước đó. Tăng trưởng kinh tế có thể biểu hiện bằng qui mô tăng
trưởng và tốc độ tăng trưởng. Qui mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng lên hay
giảm đi nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh
tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa năm hay
các thời kỳ. Để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường dùng hai chỉ số chủ
yếu: phần tăng, giảm quy mô của nền kinh tế (tính theo GDP), hoặc tốc độ tăng
trưởng kinh tế (tính theo GDP).
Ngày nay, tăng trưởng kinh tế được gắn với chất lượng tăng trưởng. Mặt số
lượng của tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở qui mô, tốc độ của tăng trưởng. Còn
mặt chất lượng của tăng trưởng kinh tế là tính qui định vốn có của nó, là sự thống
nhất hữu cơ làm cho hiện tượng tăng trưởng kinh tế khác với các hiện tượng khác.
Chất lượng tăng trưởng được qui định bởi các yếu tố cấu thành và phương thức
liên kết giữa các yếu tố cấu thành nên tăng trưởng kinh tế.
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới, Chương trình phát triển của Liên hợp
quốc và một số nhà kinh tế học nổi tiếng được giải thưởng Nobel gần đây như
G.Becker, R.Lucas, Amrtya Sen, J.Stiglitz, thì cùng với quá trình tăng trưởng, chất
lượng tăng trưởng biểu hiện tập trung ở các tiêu chuẩn chính sau đây:
- Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn và tránh được
những biến động từ bên ngoài.
- Thứ hai, tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, được thể hiện ở sự đóng góp
của yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp TFP cao và không ngừng gia tăng.
- Thứ ba, tăng trưởng phải đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
- Thứ tư, tăng trưởng đi kèm theo với phát triển môi trường bền vững.
- Thứ năm, tăng trưởng hỗ trợ cho thể chế dân chủ luôn đổi mới, đến lượt
nó thúc đẩy tăng trưởng ở tỷ lệ cao hơn.
- Thứ sáu, tăng trưởng phải đạt được mục tiêu cải thiện phúc lợi xã hội và
giảm được đói nghèo.
Như vậy, khi nghiên cứu quá trình tăng trưởng, cần phải xem xét một cách

Malthus (1776-1834). Những quan điểm cơ bản của David Ricardo về tăng
trưởng kinh tế được thể hiện như sau: Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng
nhất, các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn, trong
từng ngành và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định, các yếu tố này kết
hợp với nhau theo một tỷ lệ cố định, không thay đổi.
David Ricardo cho rằng trong nông nghiệp, năng suất cận biên của đất đai,
tư bản, lao động đều giảm dần. Theo Ricardo, bất cứ biện pháp nào có thể thúc
đẩy việc nâng cao năng suất cận biên như: cải tạo nông nghiệp, áp dụng máy
móc, nhập ngũ cốc giá rẻ, giảm thuế và chi tiêu công cộng, đều làm tăng lợi
nhuận, từ đó tăng tỷ lệ hình thành tư bản, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy xuất
phát từ góc độ phân phối thu nhập để nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, nhưng ông
vẫn đặc biệt nhấn mạnh tích luỹ tư bản là nhân tố chủ yếu quyết định sự tăng
trưởng kinh tế còn các chính sách của Chính phủ không có tác động quan trọng
tới hoạt động của nền kinh tế.
 Quan điểm của K.Marx về tăng trưởng kinh tế:
K.Marx (1818-1883) không những là một nhà xã hội, chính trị học, lịch sử
và triết học xuất chúng mà còn là một nhà kinh tế học xuất sắc. Theo Marx các yếu
tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật.
Marx đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư.
Theo Marx, sức lao động đối với nhà tư bản là một loại hàng hóa đặc biệt, giá trị
sử dụng của hàng hóa sức lao động không giống như giá trị sử dụng của các loại
hàng hóa khác, vì nó có thể tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, giá trị
đó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư.
Về yếu tố kỹ thuật, Marx cho rằng tiến bộ kỹ thuật làm tăng số máy móc
và dụng cụ lao động dành cho người thợ, nghĩa là cấu tạo hữu cơ tư bản C/V có
xu hướng ngày càng tăng. Do các nhà tư bản cần nhiều vốn hơn để khai thác tiến
bộ kỹ thuật, để nâng cao năng suất lao động của công nhân nên các nhà tư bản
phải chia giá trị thặng dư thành hai phần: một phần để tiêu dùng cho nhà tư bản,
một phần để tích luỹ phát triển sản xuất. Đó là nguyên nhân tích luỹ của chủ
nghĩa tư bản.

A.Smith tỏ ra kém hiệu quả. Điều này đòi hỏi các nhà kinh tế phải đưa ra các học
thuyết mới phù hợp hơn. Năm 1936, sự ra đời của tác phẩm “Lý thuyết chung về
việc làm, lãi suất và tiền tệ” của John Maynard Keynes (1883-1946) đánh dấu sự
ra đời của học thuyết kinh tế mới.
Keynes cho rằng có hai đường tổng cung: đường tổng cung dài hạn AS-LR
phản ánh mức sản lượng tiềm năng, và đường tổng cung ngắn hạn AS-SR phản
ánh khả năng thực tế. Cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng
tiềm năng, mà thường cân bằng dưới mức sản lượng tiềm năng. Keynes cũng
đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc xác định sản lượng. Theo ông, thu
nhập của các cá nhân được sử dụng cho tiêu dùng và tích luỹ. Nhưng xu hướng
chung là khi mức thu nhập tăng thì xu hướng tiêu dùng trung bình sẽ giảm, xu
hướng tiết kiệm trung bình tăng. Việc giảm xu hướng tiêu dùng sẽ làm cho cầu
tiêu dùng giảm. Ông cho rằng đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản
dẫn dến sự trì trệ trong hoạt động kinh tế.
Mặt khác, Keynes cũng cho rằng đầu tư đóng vai trò quyết định đến qui
mô việc làm, khối lượng đầu tư phụ thuộc lãi suất cho vay và năng suất cận biên
của vốn. Keynes sử dụng lý luận về việc làm và sản lượng do cầu quyết định để
giải thích mức sản lượng thấp và thất nghiệp kéo dài trong những năm 30 ở hầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status