Lý luận chung về hàng rào phi thuế quan - Pdf 63

Lý luận chung về hàng rào phi thuế quan
I- Khái niệm chung về hàng rào phi thuế quan.
1- Định nghĩa về hàng rào phi thuế quan.
Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và giao thơng giữa các nớc, giữa các
khối thơng mại tự do: EU, NAFTA, AFTA, APEC...Các doanh nghiệp phải vợt
qua hai rào cản lớn, đó là:
1. Hàng rào thuế quan (custom duties barriers)
2. Hàng rào phi thuế quan (non tariff- trade barriers)
Đối với hàng rào thuế quan: hiện nay trong thơng mại quốc tế, hàng rào
thuế quan giữa các khối kinh tế, giữa các quốc gia ngày càng giảm đi đến tự do
hóa thông qua các chính sách về Qui chế tối huệ quốc, chế độ thuế quan u đãi phổ
cập, Hiệp định thuế quan u đãi có hiệu lực chung của các khối liên kết kinh tế nh:
EU, NAFTA, AFTA, APEC...
Đối với hàng rào phi thuế quan: do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do trình
độ phát triển kinh tế không đồng đều, các nớc đều duy trì các rào cản thơng mại
nhằm bảo hộ nền sản xuất nội địa. Bên cạnh biện pháp bảo hộ bằng thuế quan, rất
nhiều hàng rào phi thuế quan ra đời. Mức độ cần thiết và lí do sâu sa dẫn đến việc
bảo hộ sản xuất nội địa của từng nớc cũng khác nhau, đối tợng bảo hộ cũng khác
nhau khiến cho các hàng rào phi thuế quan càng trở nên đa dạng.
Một khó khăn cơ bản trong việc xác định và phân tích các hàng rào phi
thuế quan là chúng đợc xác định bởi cái mà nó không phải nh thế. OECD (1997)
chọn cách định nghĩa:
"Các hàng rào phi thuế quan là những biện pháp biên giới nằm ngoài
phạm vi thuế quan có thể đợc các quốc gia sử dụng, thông thờng dựa trên cơ sở
lựa chọn, nhằm hạn chế nhập khẩu" cho một trong những nghiên cứu của họ.
Tơng tự nh vậy, cơ sở dữ liệu của Hệ thống Phân tích và Thông tin Thơng
mại (TRAINS) của UNCTAD chủ yếu chỉ tính đến các biện pháp biên giới. Phơng
pháp tiếp cận này phần lớn bỏ qua những biện pháp liên quan đến xuất khẩu và
việc mua sắm nội bộ Chính phủ (nh những nguyên tắc về hàm lợng trong nớc, các
khoản trợ cấp, giảm thuế, các biện pháp biên giới về phân biệt đối xử và biện pháp
t nhân chống cạnh tranh). Thực tế, phơng pháp tiếp cận về những biện pháp biên

song có những chính sách mà chủ ý của chúng không thể đợc xác định nếu không
có sự điều tra kỹ lỡng mà có thể không đi đến kết quả về bản chất và hoạt động
thực sự của chúng. Việc phân tích này cung cấp sự hiểu biết sâu rộng vấn đề
hàng rào hay không phải hàng rào này liên quan đến những biện pháp phi thuế
quan của Việt Nam, song đây cũng không phải là mục đích của sự phân tích, mục
đích của việc phân tích đơn thuần là nhằm khảo sát chế độ hiện hành của các biện
pháp phi thuế quan của Việt Nam.
Nh vậy, các biện pháp phi thuế quan và các hàng rào phi thuế quan là gì?
Tóm lại chúng đợc định nghĩa bởi - thuế quan. Một số nghiên cứu về chủ đề này
phân biệt các biện pháp phi thuế quan biên giới và phi biên giới, nhng đây là sự
phân biệt chức năng và thực tế, và không đầy đủ nh một định nghĩa khái niệm. Có
lẽ khái niệm đợc sử dụng phổ biến nhất đợc Baldwin (1970) trình bày nh sau:
Bất cứ biện pháp nào (công cộng hay t nhân) dẫn đến các dịch vụ và
hàng hóa đợc thơng mại quốc tế, hoặc các nguồn tài nguyên dành cho việc sản
xuất ra dịch vụ và hàng hóa đó sẽ đợc xác định theo một cách là giảm nguồn
thu nhập thực sự tiềm năng của thế giới .
Các hàng rào phi thuế quan là một tập hợp thay thế của các biện pháp phi
thuế quan. Các biện pháp phi thuế quan phải có mục đích bảo vệ sản xuất trong n-
ớc, và không đợc chấp nhận quốc tế nh một phơng sách điều chỉnh chính thống
(nh các hạn chế kiểm dịch).
Bên cạnh các định nghĩa trên, Tổ chức Thơng Mại Thế Giới (WTO) cũng đa
ra một định nghĩa về các biện pháp phi thuế quan và các hàng rào phi thuế quan
của mình:
Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan
hoặc ảnh hởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nớc .
Theo cách định nghĩa này thì WTO cũng đã dựa trên cơ sở của thuế quan.
Từ đó, WTO xây dựng định nghĩa về hàng rào phi thuế quan:
Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính
cản trở đối với thơng mại mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa học hoặc bình
đẳng .

Việc không có những biện pháp trong nớc, bao gồm những biện pháp nào phân
biệt đối xử một cách rõ ràng đối với nhập khẩu cũng là sự bỏ sót nghiêm trọng.
Định nghĩa áp dụng của ASEAN không đợc thỏa mãn về mặt khái niệm, và
vì vậy đã có thêm cơ hội xem xét một định nghĩa khái quát hơn và lí thú hơn về
các biện pháp phi thuế quan nh đã đợc phác thảo ở trên. Tuy nhiên, sự quan tâm
nghiên cứu đặc biệt đã đợc dành cho việc hiểu và giải thích những biện pháp phi
thuế quan nào bao gồm trong định nghĩa của ASEAN, vì đó là mục đích quan
trọng của việc nghiên cứu này.
Thuế nội bộ và chi phí đánh vào nhập khẩu hiện nay là thuế nội bộ đánh
cụ thể vào nhập khẩu. Điều này đơn giản nhấn mạnh rằng thuế gián tiếp đối với
thơng mại đợc thảo luận theo các biện pháp nội bộ.
Theo các hạn ngạch, một mã số mới, các hạn ngạch liên quan đến các
trình độ sản xuất trong nớc đã đợc bổ sung. Điều này quy định lí do cơ bản đối
với việc quy định mức hạn ngạch nhập khẩu đối với hàng hóa sẽ đợc cân đối với
nhu cầu và sản xuất trong nớc, mà năm 1998 là xăng dầu, phân bón, thép xây
dựng, xi măng và giấy(11/1998/NĐ-TTg).
Các thủ tục hải quan dặc biệt của UNCTAD chỉ bao gồm một nhân tố
thiểu số của các thủ tục hải quan, trong khi mà toàn bộ vấn đề của tính hiệu quả
và tính rõ ràng hải quan có thể đợc xem xét hợp lí nh một vấn đề hàng rào phi
thuế quan. Điều này đợc nhấn mạnh gần đây bởi Ông Anwarul Hoda, Phó tổng
giám đốc của WTO khi ông ta trình bày tại Tổ chức Hải quan Thế giới tháng
5/1997:
Khi toàn cầu hoá các lợi thế thơng mại, sự phụ thuộc vào kinh doanh đối
với việc di chuyển hàng hóa nhanh trở nên ngày càng thiết yếu hơn. Do đó các thủ
tục hải quan có thể là một biện pháp phi thuế dữ dội. Thơng mại phải cần các dịch
vụ hải quan đơn giản, nhanh và rõ ràng .
Có rất nhiều tài liệu về việc xác định và đo lờng các hàng rào phi thuế
quan. Những phơng pháp chung khác nhau đã đợc sử dụng để tính các hàng rào
phi thuế quan có thể đợc phân loại nh sau: các biện pháp tính theo tần số dựa trên
những danh mục điều tra các hàng rào phi thuế quan đợc quan sát áp dụng cho

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: các biện pháp vệ sinh và vệ
sinh tâm lý học và các biện pháp ảnh hởng đến buôn bán các mặt hàng nông sản.
4. Bộ Công nghiệp: các biện pháp ảnh hởng đến buôn bán hàng công
nghiệp.
5. Bộ Y tế: các biện pháp ảnh hởng đến buôn bán dợc phẩm và thiết bị y tế.
6. Bộ Văn hoá Thông tin:
7. Ban Vật giá Chính phủ: các khoản phụ thu vì mục đích ổn định giá cả.
8. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng: các biện pháp kỹ thuật (các yêu
cầu về tiêu chuẩn và chất lợng).
2- Các đặc điểm về hàng rào phi thuế quan
2.1- Các hàng rào phi thuế quan phong phú về hình thức:
Nhờ đặc điểm này, hàng rào phi thuế quan tác động, khả năng và mức độ
đáp ứng mục tiêu của chúng rất đa dạng. Do đó, nếu sử dụng hàng rào phi thuế
quan để phục vụ một mục tiêu cụ thể thì sẽ có nhiều sự lựa chọn, mà không bị bó
hẹp trong khuôn khổ một công cụ duy nhất nh thuế quan. Ví dụ để hạn chế nhập
khẩu phân bón, có thể đồng thời áp dụng các hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phép
nhập khẩu không tự động, đầu mối nhập khẩu, phụ thu nhập khẩu.
2.2- Một hàng rào phi thuế quan có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu với hiệu quả cao.
Mỗi quốc gia thờng theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế, th-
ơng mại của mình. Các mục tiêu đó có thể là: (i) bảo hộ sản xuất trong nớc,
khuyến khích phát triển một số ngành nghề; (ii) bảo đảm an toàn sức khỏe con
ngời, động thực vật, môi trờng; (iii) hạn chế tiêu dùng; (iv) đảm bảo cân bằng cán
cân thanh toán; (v) đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, v.v...Các hàng
rào phi thuế quan có thể đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác nhau
nêu trên trong khi việc sử dụng công cụ thuế quan không khả thi hoặc không hữu
hiệu bằng.
Ví dụ: quyết định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa
đảm bảo an toàn sức khỏe con ngời, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sản
xuất nông nghiệp trong nớc một cách hợp pháp. Hay cấp giấy phép không tự động
đối với dợc phẩm nhập khẩu vừa giúp bảo hộ ngành dợc nội địa, dành đặc quyền

tổng nhu cầu về phân bón của toàn ngành nông nghiệp.
Trong bối cảnh kinh tế phức tạp và thờng xuyên biến động hiện nay, việc
đa ra một dự đoán tơng đối chính xác là rất khó khăn. Hậu quả của việc dự báo
không chính xác sẽ rất nghiêm trọng nh gây ra thiếu hụt trầm trọng nguồn phân
bón khi sản xuất trong nớc vào thời vụ, đẩy giá tăng vọt (sốt nóng) hoặc trái lại,
dẫn đến tình trạng cung vợt cầu quá lớn trên thị trờng làm giá sụt giảm (sốt lạnh).
Điều này đồng nghĩa với việc các quyết định sản xuất và kinh doanh sẽ chịu
những rủi ro cao hơn.
Các hàng rào phi thuế quan đôi khi cũng làm nhiễu tín hiệu của thị trờng
mà ngời sản xuất dựa vào đó để ra quyết định. Tín hiệu này chính là giá thị trờng.
Khi bị làm sai lệch, nó sẽ phản ánh không trung thực lợi thế cạnh tranh thật sự chỉ
dẫn sai việc phân bổ nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế. Do đó, khả năng xây
dựng kế hoạch đầu t, sản xuất, kinh doanh hiệu quả trong trung và dài hạn của ng-
ời sản xuất bị hạn chế.
Tác động của các hàng rào phi thuế quan thờng khó có thể lợng hóa đợc rõ
ràng nh tác động của thuế quan. Nếu mức độ bảo hộ thông qua thuế quan đối với
một sản phẩm có thể dễ dàng đợc xác định bằng chính thuế suất đánh lên sản
phẩm đó thì mức độ bảo hộ thông qua các hàng rào phi thuế quan là tổng mức bảo
hộ của các hàng rào phi thuế quan riêng rẽ áp dụng cho cùng một sản phẩm. Bản
thân mức độ bảo hộ của mỗi hàng rào phi thuế quan cũng chỉ có thể đợc ớc lợng
một cách tơng đối. Cũng vì mức độ bảo hộ của các hàng rào phi thuế quan không
dễ xác định nên rất khó xác định một lộ trình tự do hóa thơng mại rõ ràng nh với
bảo hộ bằng thuế quan.
2.5- Không những thế, vì khó dự đoán nên các hàng rào phi thuế quan thờng đòi hỏi chi phí quản lí
cao và tiêu tốn nhân lực của nhà nớc để duy trì hệ thống điều hành kiểm soát thơng mại bằng các
hàng rào phi thuế quan.
Một số hàng rào phi thuế quan thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lí của
những cơ quan với những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên
có thể gây khó khăn cho bản thân các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý,
các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế trong việc xây dựng, sử dụng, tiếp cận

xuất nội địa của từng nớc cũng khác nhau, đối tợng bảo hộ cũng khác nhau khiến
cho các hàng rào phi thuế quan càng trở nên đa dạng.
Đối với những nền kinh tế phát triển, đối tợng bảo hộ là các ngành có năng
lực cạnh tranh và năng xuất lao động tơng đối thấp so với các ngành khác. Mặc dù
không tạo ra sức cạnh tranh chủ yếu cho nến kinh tế, nhng lực lợng lao động trong
những ngành này lại có sức mạnh chính trị đáng kể, buộc các chính đảng đợc họ
hậu thuẫn phải quan tâm đặc biệt đến lợi ích của họ. Có thể nêu ví dụ điển hình
nh : ngành nông nghiệp ở EU hay ngành thép ở Mỹ.
Trong khi đó, đối tợng bảo hộ của những nớc có trình độ phát triển kinh tế
trung bình và thấp lại bảo hộ chủ yếu các ngành sản xuất quan trọng và có nhiều
tiềm năng trở thành ngành cạnh tranh trong tơng lai của họ. Chẳng hạn nh các
ngành sản xuất Ôtô ở Malaysia ; ngành điện tử, cơ khí, đờng ở Thái Lan hay các
ngành Ôtô, thép, thuốc lá ở Trung Quốc.
Trong những năm 1980, việc sử dụng các hàng rào phi thuế quan dờng nh
gia tăng. Nhng trong những năm 1990, các nỗ lực song phơng, khu vực và quốc tế
đã có thể làm giảm ít nhất sự thịnh hành của các rào phi thuế quan.. Tuy nhiên,
các hàng rào phi thuế quan vẫn là hiện tợng chung trong các chế độ chính sách th-
ơng mại của cả các quốc gia phát triển lẫn các quốc gia đang phát triển. Tại sao?
Cái lập luận kinh tế cho bảo hộ thơng mại chỉ ra rõ ràng rằng sử dụng thuế
chứ không phải các hàng rào phi thuế quan nhằm đạt đợc các mục tiêu bảo hộ.
Các hàng rào phi thuế quan là những công cụ chính sách thứ yếu dung tục và
không hiệu quả cho bảo hộ, song trong phạm vi các cam kết cắt giảm thuế quan
quốc tế, các công cụ này có thể đợc xem xét một cách chính xác nh thế nào. Đối
với các nớc cam kết tạo bảo hộ cho những nhóm liên quan trong nớc nhất định, thì
việc duy trì các thuế suất cao không phải là một phơng án lựa chọn.
Tuy nhiên, có những giải thích khác, các hàng rào phi thuế quan đa ra
những ảnh hởng có thể định lợng hoặc chắc chắn hơn. Đồng thời sự phân bổ lợi
nhuận (lợi nhuận siêu ngạch) từ các hàng rào phi thuế quan các doanh nghiệp
trong nớc, các doanh nghiệp đợc đầu t nớc ngoài và các nhà chính trị có thể nắm
bắt đợc dễ dàng hơn. Sự phân bổ lợi nhuận nh vậy làm gia tăng khả năng cho phép

Đứng trớc xu hớng tất yếu của tự do hoá thơng mại và quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, nếu không có chiến lợc bảo hộ đúng đắn thì nhiều ngành sản xuất
trong nớc sẽ không thể đứng vững trớc sức ép cạnh tranh gay gắt của hàng nhập
khẩu.
Tuy nhiên, việc bảo hộ phải có chọn lọc, có điều kiện, có thời hạn và phải
giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa hội nhập và bảo hộ về mặt thời gian và độ
trởng thành một cách chủ động.
Những ngành cần đợc bảo hộ chủ yếu là những ngành có hàm lợng vốn lớn,
có khả năng cạnh tranh và phát triển dựa trên công nghệ hiện đại. Mặt khác đây
lại là những ngành công nghiệp giữ vị trí quan trọng, tạo nên xơng sống cho nền
kinh tế nh luyện kim, hoá dầu, xi măng,...Nếu đợc hởng những hỗ trợ nhất định và
đợc bảo hộ bằng những chính sách thích hợp trong một thời gian cần thiết, các
ngành này dù gặp rất nhiều khó khăn trớc mắt trong việc cạnh tranh với hàng nhập
khẩu, nhng trong tơng lai có sức cạnh tranh cao.
Các hàng rào phi thuế quan đợc sử dụng để bảo hộ rất đa dạng. Tuy nhiên
theo qui định của WTO có thể thấy rõ là tới nay hầu nh các nớc không còn cơ hội
để áp dụng những biện pháp hạn chế hạn chế định lợng nhằm mục tiêu bảo hộ sản
xuất trong nớc đợc nữa. Những biện pháp hạn chế định lợng nh cấm nhập khẩu
hoặc hạn ngạch nhập khẩu chỉ còn đợc áp dụng trong những trờng hợp cần thiết
để đảm bảo và duy trì an ninh quốc gia, giữ gìn đạo đức văn hoá, môi trờng hay
một vài trờng hợp đặc biệt.
Riêng đối với các ngành dệt, may là các nớc đợc áp dụng biện pháp hạn
ngạch nhập khẩu cho đến năm 2005 theo Hiệp định về hàng Dệt may của WTO.
Một biện pháp ngoại lệ mang tính chất hạn chế định lợng khác cũng đợc
WTO thừa nhận và đợc áp dụng rộng rãi trong thực tế là biện pháp hạn ngạch thuế
quan trong nông nghiệp. Biện pháp này đã đợc cả các nớc phát triển, các nớc đang
phát triển và các nớc đang chuyển đổi áp dụng để bảo hộ những lĩnh vực nông
nghiệp nhạy cảm của mình. Mức hạn ngạch, thuế suất trong hạn ngạch, thuế suất
ngoài hạn ngạch thờng rất cao, có nhiều trờng hợp trên 100%.
Các nớc phát triển thờng áp dụng thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng

mua chọn lọc; các hạn ngạch toàn cầu, cấm đối với các lí
do vệ sinh và sức khoẻ; thẩm quyền ngân hàng; độc quyền
nhập khẩu nhà nớc.
Singapore Cấm đối với lí do vệ sinh và sức khoẻ.
Thailand Giấy phép nhập khẩu, bao gồm quan hệ đối với việc
bán hàng hóa trong nớc; cấm; cơ quan nhập khẩu độc nhất.
VietNam Tơng đơng thuế quan; hạn chế chuyển đổi ngoại tệ;
cấm; hạn ngạch; đánh giá hải quan.
Nguồn: Báo cáo về các hàng rào phi thuế quan và chính sách thơng mại của
Việt Nam, Phòng Thơng mại và Công nghiệp Việt Nam 1999.
Thách thức của tự do hoá thơng mại là mối đe dọa, và tiến triển bắt đầu là
có giới hạn hoàn toàn. Bên cạnh việc tự do hóa các giấy phép thơng mại, phần lớn
các biện pháp phi thuế quan khác có xu hớng trở nên mạnh mẽ hơn trong những
năm gần đây. Danh mục giá tối thiểu đã trở nên ngắn hơn đợc tính nh một chuyển
động tự do hoá, khi bảo hộ thuế quan thực tế có lẽ đã tăng một chút. Mặt khác,
việc sử dụng thuế quan tơng đơng, quản lí chuyển đổi ngoại tệ; và sự ngăn cấm đã
đợc tăng cờng rõ rệt. Về tổng thể, đó là một trờng hợp của một bớc tiến và hai b-
ớc lùi
Bảng 2: Thay đổi chính sách thực tế từ năm 1996 đa ra một
bức tranh hỗn hợp về Việt Nam
Loại hàng rào phi thuế quan/biện pháp phi thuế quanMạnh hơn Yếu hơn
thuế quan
Phụ thu hải quan *
Thuế tiêu thụ đặc biệt *
Danh mục giá tối thiểu *
Chuyển đổi ngoại tệ hạn chế *
Chuyển đổi ngoại tệ không cần yêu cầu *
Giấy phép thơng mại *
Hạn ngạch và cấm đoán *
Các biện pháp độc quyền *

hơn ba biện pháp hạn chế nhập khẩu thuộc nhóm bảo vệ thơng mại tạm thời, đó là
biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.
Sau khi vòng đàm phán Urugoay chấm dứt với sự ra đời của Tổ chức Thơng
mại Thế giới WTO vào năm 1995, các qui định liên quan tới việc áp dụng ba biện
pháp này cũng khá chặt chẽ. Tuy nhiên, xu hớng từ năm 1995 đến nay cho thấy
biện pháp chống bán phá giá đã đợc sử dụng một cách thái quá và dờng nh đã trở
thành một công cụ bảo hộ quan trọng cho nhiều nớc. Loại rào cản này đợc các n-
ớc phát triển sử dụng chủ yếu. Đối tợng chịu tỷ lệ lớn trong các vụ kiện chống bán
phá giá là các nớc đang phát triển, một phần là các nớc phát triển, một phần là các
nớc có nền kinh tế chuyển đổi. Các quốc gia đang phát triển do hạn chế về thông
tin và trình độ kĩ thuật nên ít có cơ hội sử dụng các biện pháp này. Biện pháp này
cũng hay đợc các quốc gia áp dụng dựa trên thế và lực trong kinh tế thơng mại
quốc tế để ép các nớc nhỏ.
CHƯƠNG II
Nội dung chủ yếu về hàng rào phi thuế quan
I- Các hàng rào phi thuế quan trên thế giới hiện nay:
Trên thế giới hiện nay, các nớc đã dựng lên rất nhiều hàng rào phi thuế
quan nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nớc. Từ đó ngời ta có thể phân chia làm
sáu nhóm lớn:
1- Nhóm biện pháp hạn chế định lợng:
Hạn chế định lợng là những biện pháp phi thuế quan điển hình gây cản trở
luồng di chuyển tự do của hàng hóa giữa các nớc. Đây là những biện pháp nhằm
trực tiếp giới hạn khối lợng hoặc giá trị hàng hóa nhập khẩu vào một quốc gia, do
đó có tính chất bảo hộ rất cao. Đây thờng là những biện pháp mang tính chất võ
đoán, ít dựa trên cơ sở khoa học mà chủ yếu nhằm bảo hộ sản xuất trong nớc.
WTO coi những biện pháp này làm hạn chế rõ rệt tác dụng của tự do hoá thơng
mại, đồng thời lại không thể tính toán, dự đoán đợc trớc cho nên yêu cầu xóa bỏ
chúng. Thay vào đó, nhu cầu bảo hộ, nếu có, sẽ đợc thể hiện thành thuế quan.
1.1- Cấm nhập khẩu
Biện pháp hạn chế định lợng đầu tiên là cấm nhập khẩu. Các nớc trên thế

nhóm hàng trên và cam kết lịch trình loại bỏ đối với các mặt hàng còn lại muộn
nhất là đến 01/ 01/ 2005.
Tuy nhiên, đến nay hạn ngạch vẫn đợc áp dụng phổ biến trong hai lĩnh vực
mà Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu là dệt may và nông nghiệp.
Theo Hiệp định dệt may ATC của WTO từ 01/01/1996 đến 01/01/2005, các
nớc sẽ dần dần hòa nhập toàn bộ hàng dệt may vào thực hiện GATT 1994, nghĩa
là sẽ xóa bỏ chế độ hạn ngạch đối với mặt hàng này. Tuy nhiên theo tổng kết của
Hiệp hội Dệt may quốc tế, đã hơn bảy năm, các nớc mới chỉ hòa nhập đợc một số
lợng hạn chế các sản phẩm hàng dệt may. Đến nay, Hoa Kì vẫn duy trì chế độ hạn
ngạch đối với 841 mặt hàng trong tổng số 932 mặt hàng. Các số liệu ứng với EU
và Canada là 222/303 và 292/368 mặt hàng.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, WTO cũng cho phép các nớc thành viên duy
trì hạn ngạch thuế quan. Hàng nhập khẩu nằm trong mức hạn ngạch này sẽ đợc h-
ởng thuế suất thấp. Tuy nhiên, nếu vợt quá mức hạn ngạch qui định này, mặt hàng
đó sẽ phải chịu mức thuế suất rất cao. Ví dụ trong khi thuế suất trong hạn ngạch
của EU đối với gạo nhập khẩu là 88 EURO/ tấn thì thuế suất ngoài hạn ngạch dao
động từ mức 264 EURO/ tấn đến 416 EURO/ tấn
Thực chất hạn ngạch thuế quan nhằm giới hạn lợng nhập khẩu ở mức hạn
ngạch đã qui định. Vì thế hàng nông sản của Việt Nam rất khó thâm nhập vào thị
trờng các nớc áp dụng biện pháp này. Chẳng hạn nh Trung Quốc áp dụng mức hạn
ngạch thuế quan năm 2001với gạo là 1.662.500 tấn (tơng đơng 1% lợng gạo sản
xuất trong nớc) trong khi mức thuế suất ngoài hạn ngạch là77%. Điều này đã
khiến lợng gạo nhập khẩu vào Trung Quốc năm này chỉ đạt hai triệu tấn, tơng đ-
ơng mức hạn ngạch. Ngoài ra, Trung Quốc còn duy trì hạn ngạch thuế quan đối
với một số mặt hàng nông sản khác nh lúa mì, ngô, dầu cọ, dầu đậu nành, dầu hạt
cải, đờng, len, bông đến thời hạn tối đa là 01/ 01/ 2005
1.3- Giấy phép nhập khẩu
Biện pháp hạn chế định lợng thứ ba thờng đợc các nớc sử dụng đó là giấy
phép nhập khẩu. Theo chế độ này, hàng hóa muốn thâm nhập vào lãnh thổ một n-
ớc phải xin giấy phép nhập khẩu của cơ quan chức năng. Đôi khi các nớc sử dụng

định giá tính thuế hải quan có thể đợc sử dụng nh một công cụ gián tiếp bảo hộ
sản xuất trong nớc. Trị giá tính thuế hải quan cao hay thấp sẽ tác động trực tiếp
đến khoản thuế nhập khẩu mà các doanh nghiệp phải nộp và qua đó tác động lên
giá bán của sản phẩm của Việt Nam trên thị trờng nớc nhập khẩu.
Trớc đây, các nớc đang phát triển thờng không sử dụng giá thực tế ghi trên
hoá đơn để tính thuế mà dùng trị giá tính thuế tối thiểu hoặc giá tham khảo. Thậm
chí Hải quan Thái Lan còn sử dụng giá hóa đơn cao nhất của sản phẩm cùng loại
nhập khẩu từ bất kì nớc nào trong thời gian trớc đó để xác định giá tính thuế. Cách
xác định tuỳ tiện này đôi khi khiến nhà xuất khẩu phải chịu thuế cao một cách vô
lí và không thể dự đoán đợc khả năng cạnh tranh về giá của sản phẩm của mình.
Đến nay hầu hết các nớc đã sử dụng Hiệp định về định giá hải quan của
WTO để tính thuế nhập khẩu. Theo đó, giá tính thuế nhập khẩu là giá thực trả
hoặc sẽ đợc trả khi hàng đợc bán từ nớc xuất khẩu sang nớc nhập khẩu.
Hiệp định trị giá hải quan (ACV) mà tên đầy đủ là Hiệp định thực hiện
Điều VII của GATT 1994. Nội dung cơ bản của ACV là yêu cầu cơ quan hải
quan xác định giá hàng hóa bị đánh thuế trên cơ sở giá ghi trên hợp đồng, hóa đơn
(gọi là trị giá giao dịch).
Trị giá giao dịch không chỉ bao gồm giá ghi trên hợp đồng mà còn có thể
bao gồm một số chi phí khác: tiền hoa hồng, tiền môi giới, tiền đóng gói, lệ phí
giấy phép, chi phí vận chuyển và bảo hiểm (nếu căn cứ theo giá CIF)
ACV không cho phép tính các chi phí sau vào trị giá giao dịch: cớc vận tải
nội địa sau khi nhập khẩu, chi phí lắp ráp, duy tu, bảo hành sau khi nhập khẩu,
các loại thuế sau khi nhập khẩu.
Khi có sự cố tình khai giá hàng hóa thấp xuống để giảm số thuế phải nộp
của thơng nhân thì ACV cho phép cơ quan hải quan từ chối chấp nhận giá hàng do
thơng nhân khai khi có lí do để nghi ngờ tính trung thực và đúng đắn của các chi
tiết hoặc chứng từ do thơng nhân xuất trình trong một số trờng hợp sau:
+ Khi hàng hóa không thực sự diễn ra
+ Khi giá hàng hóa bị hạ thấp do mối quan hệ giữa ngời mua và ngời bán
+ Khi hợp đồng mua bán đặt ra một số điều kiện hạn chế việc sử dụng hàng

này có hiệu lực đến 30/ 09/ 2003. Mỹ cũng áp dụng phí bảo dỡng cảng biển
(HTM cho các hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ bằng đờng biển với mức bằng 0,125%
giá trị lô hàng. Theo ớc tính, đến năm 1999, khoản tiền dôi ra từ quỹ này lên tới
1,6 tỷ USD. Không dừng lại ở đó, đến 30/04/1999. Chính quyền B.Clinton thậm
chí còn thay thế HTM bằng phí dịch vụ cảng biển. Loại phí này không những bao
gồm phí hoạt động và bảo dỡng cảng biển mà gồm cả phí xây dựng cảng. Tổng
mức phí lên tới 1 tỷ USD/ năm.
Về phía Việt Nam, Việt Nam sử dụng các biện pháp giá cả sau để quản lí
nhập khẩu:
Giá nhập khẩu tối thiểu:
Việt Nam sử dụng một kế hoạch giá nhập khẩu tối thiểu bớc đầu trong đánh
giá nhập khẩu.. Danh mục của 34 hạng mục của hàng hóa dới sự quản lí chính
phủ trong các điều kiện giá nhập khẩu đối với giá hải quan (975/ TC/ QĐ/ TCT,
ngày 29/10/1996), đợc thay thế bằng danh mục của 21 hạng mục hàng hóa
(918/TC/QĐ/TCT, ngày 11/11/97)
Ngày 27/5/ 1998, Quyết định 155/1998/QĐ- TCQH đợc ban hành để xác
đinh quá trình đánh giá. Giá hợp đồng sẽ đợc sử dụng nếu giá là giá trên giá tối
thiểu, và giá tối thiểu sẽ đợc sử dụng trong các trờng hợp khác. Nhng khi đó, đối
với hàng hóa đợc nhập khẩu cho việc sử dụng trực tiếp nh nguyên liệu và cung
cấp trong sản xuất và lắp đặt, nếu giá CIF cao hơn 60% của giá tối thiểu trong
phụ lục giá, giá trị đánh thuế sẽ là giá CIF. Điều này làm giảm sút đáng kể trong
thuế quan thu đợc đối với nhập khẩu các sản phẩm trung gian, mặc dù tỉ lệ thuế
quan đối với nhiều mặt hàng đã là rất thấp. Tỷ lệ thuế quan đối với các hoạt động
lắp đặt tuy nhiên là cao cho nên Quyết định này bao hàm sự giảm giá rõ rệt trong
nỗ lực bảo vệ một cách hiệu quả các ngành công nghiệp này.
Việt Nam đã cam kết với ASEAN thực hiện hệ thống đánh giá của GATT
vào năm 2000. Điều này đòi hỏi một chơng trình các hoạt động toàn diện, nhng
mới chỉ đạt đợc một chút cho tới nay. Điều đó hầu nh có vẻ rằng một số hình thức
của hệ thống giá tối thiểu sẽ tiếp tục trong một vài năm.
Giá nhập khẩu tối đa.

triển của việc sản xuất hàng hóa cùng loại trong nớc;
Hàng hóa đợc nhập khẩu vào Việt Nam với giá quá thấp do sự trợ cấp của
nớc xuất khẩu, gây cản trở sự phát triển của việc sản xuất hàng hóa cùng loại
trong nớc;

Trích đoạn Các biện pháp bảo vệ thơng mại tạm thờ Các biện pháp khác Hành động chống bán phá giá các thủ tục và nguyên tắc Các hạn chế về trợ cấp và biện pháp bù trừ Sự bảo vệ khẩn cấp chống hàng nhập khẩu “tự bảo vệ “
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status