SKKN một số biện pháp rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2 - Pdf 63

DÀN Ý TÓM TẮT
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I/ Lí do chọn đề tài
II/ Mục đích nghiên cứu
III/ Đối tượng nghiên cứu
IV/ Phương pháp nghiên cứu
V/ Thời gian nghiên cứu
PHẦN II: NỘI DUNG
I/ Cơ sở lý luận
II/ Thực trạng
III/ Các biện pháp thực hiện
1. Tăng cường thực hành giao tiếp cho học sinh.
2. Giúp học sinh nắm được các bước khi viết đoạn văn.
3. Hướng dẫn học sinh phát triển ý cho đoạn văn.
4. Hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ và lựa chọn từ ngữ để viết câu văn hay.
5. Hướng dẫn học sinh viết câu văn sinh động gợi tả.
6. Khơi gợi cảm xúc của học sinh khi viết đoạn văn.

IV/ Kết quả
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
I/ Kết luận.
II/ Khuyến nghị

PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC

-1-

-


còn đổi mới không ngừng về phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng học
văn cho học sinh Tiểu học.
Song thực tế hiện nay, việc giảng dạy phân môn Tập làm văn vẫn còn nhiều hạn
chế. Đây là phân môn khó nhất khi dạy Tiếng việt cho học sinh. Dạy văn cho học
sinh làm văn hay, biết cảm thụ cái hay cái đẹp của văn học phải có người thầy giỏi
văn, yêu văn, có tâm hồn văn. Chính vì thế mà không phải giáo viên nào cũng làm
được. Và nếu thầy cô không đáp ứng được điều đó thì việc học văn của học sinh
càng khó hơn..

-2-

-


Đối với học sinh đầu cấp như học sinh lớp 2 thì việc làm quen với phân môn
Tập làm văn là hết sức mới mẻ đối với các em, bởi lứa tuổi các em vốn hiểu biết còn
hạn hẹp, vốn từ còn nghèo nàn điều này ảnh hưởng nhiều đến việc học tập phân môn
Tập làm văn, chính vì thế chất lượng học văn của học sinh lớp 2 còn rất nhiều hạn
chế.
Ý thức được vai trò của phân môn Tập làm văn, trong quá trình giảng dạy tôi đã
nghiên cứu tài liệu đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học, nghiên cứu một số vấn
đề về nội dung và phương pháp dạy phân môn Tập làm văn Tiểu học, với thực
nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi đúc rút cho mình một số kinh nghiệm và đã thu
được những kết quả nhất định trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn cho
học sinh lớp 2, tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp rèn kỹ năng viết đoạn văn cho
học sinh lớp 2” với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình để
nâng cao chất lượng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2.
II/ Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2.
- Nâng cao chất lượng dạy phân môn Tập làm văn ở lớp 2.

Chính vì thế đòi hỏi người giáo viên phải có bề dày kinh nghiệm, có lòng
nhiệt tình và thực sự có tâm huyết để là nhịp cầu dẫn dắt các em, khơi nguồn cho
dòng chảy ở các em được phát triển tốt thì khả năng viết văn của học sinh lớp 2 sẽ
đạt được kết quả như chúng ta mong muốn.
II- Thực trạng.
Phân môn Tập làm văn ở tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kỹ năng
nói, viết cho học sinh. Thế nhưng đến nay, đa số các em học sinh lớp 2 còn chưa
hứng thú với phân môn Tập làm văn. Một số em không biết nói gì, viết gì? Các em
còn rất lung túng, khi viết thường lặp từ trong câu, dùng từ sai, chưa biết chấm câu
ngắt câu. Có em còn viết không đúng với yêu cầu của đề bài. Một số bài viết ý hạn
hẹp nên không đủ số câu theo yêu cầu tối thiểu. Chính vì thế, chất lượng viết đoạn
văn còn rất hạn chế. Ngay cả bản thân giáo viên đôi khi cũng chưa tự tin khi dạy
phân môn này, nhất là một số giáo viên không có khiếu về văn. Thực tế ở lớp tôi sau
hai tuần thực học, tôi tiến hành khảo sát học sinh về phân môn Tập làm văn với đề
bài: Viết từ 3 đến 5 câu kể về thầy cô giáo cũ của em. Sau khi chấm bài tôi thống kế
kết quả như sau:
Kết quả
Sĩ số

40

Số bài

40

Giỏi

Khá

Yếu


2

5,0

Qua kết quả khảo sát trên tôi thấy nhiều em kĩ năng viết đoạn văn còn hạn chế,
phần lớn thường hay sai ở phần lỗi dùng từ, chấm câu, ý câu còn lủng củng. trước
thực tế trên, tôi đã nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp cụ thể áp dụng trong các

-4-

-


giờ dạy phân môn Tập làm văn và trong các giờ học tăng cường nhằm rèn kỹ năng
viết đoạn văn cho học sinh. Để giúp học sinh viết đoạn văn được tốt, tôi đã thực
hiện bằng những biệp pháp sau:
III- Các biện pháp thực hiện:
1. Tăng cường thực hành giao tiếp cho học sinh.
Đối với học sinh lớp 2 vốn từ ngữ, vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống của các
em còn hạn hẹp vì thế khi học văn các em rất lung túng khi tìm và sử dụng vốn từ
trong nói và viết. Để khắc phục hạn chế này cho học sinh tôi thực hiện phương
pháp dạy học theo định hướng giao tiếp, để tăng cường khả năng ngôn ngữ cho các
em. Khi dạy học theo phương pháp này. Người giáo viên phải gắn nội dung dạy
học với các nhân tố giao tiếp như mục đích giao tiếp, nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh
giao tiếp, nội dung giao tiếp. Dạy văn cho học sinh theo định hướng giao tiếp chính
là dạy cho học sinh cách giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách có hiệu quả. Đây là con
đường ngắn nhất, có hiệu quả nhất giúp học sinh nắm được ngôn ngữ trong giao
tiếp, để có thể giao tiếp hiệu quả. Nội dung học tập theo phương pháp này thường
sinh động, thiết thực đối với học sinh lớp 2 nên các em rất hứng thú học tập.

biết ông bà bố mẹ bạn làm nghề gì, chưa biết bạn mình yêu mọi người trong gia
đình mình như thế nào? Trong giờ học hôm nay, các em sẽ được hỏi nhau, được
mời nhau kể về kể về gia đình của mình. Biết về gia đình của nhau, các em sẽ thấy
thân thiết gần gũi với nhau hơn đấy.
- Giáo viên viết lên bảng đề mục bài tập, mở bảng phụ( hoặc giấy khổ to) có
ghi phần gợi ý của bài tập1 và nói với học sinh: để giúp các em biết cách kể về gia
đình mình, SGK đã đưa ra những gợi ý cụ thể( mời 1 học sinh đọc phần gợi ý, các
học sinh khác nhìn vào SGK đọc thầm theo)
Bước 2: Hướng dẫn giao tiếp.
- Giáo viên nhắc học sinh chú ý: bài tập yêu cầu các em kể về gia đình chứ
không phải trả lời câu hỏi. Các câu hỏi này chỉ là gợi ý để kể. Các em có thể kể
nhiều hơn 5 câu, nhưng không cần kể nhiều quá để tất cả các bạn trong lớp đều
được kể về gia đình mình.
- Mời 1- 2 học sinh khá giỏi kể
- Giáo viên hướng dẫn học sinh trong lớp nhận xét, góp ý, động viên.
Bước 3: Thực hành giao tiếp trong nhóm nhỏ
- Giáo viên tổ chức hoạt động theo nhóm 4 hoặc nhóm 6
- Giáo viên hướng dẫn các nhóm làm việc; Một bạn trong nhóm xung phong
kể trước. Kể xong, bạn sẽ mời một bạn khác kể. các em nhớ nói đủ nghe trong
nhóm, đừng làm ảnh hưởng tới nhóm khác. Khi các bạn kể, cả nhóm chăm chú lắng
nghe. Khi tất cả đã kể xong, các em hãy bầu ra một bạn kể hay nhất trong nhóm của
mình.
- Giáo viên đến từng nhóm theo dõi uốn nắn, giúp đỡ những em nói còn kém.
Bước 4: Thực hành giao tiếp trong nhóm lớn( hoặc cả lớp)
- Giáo viên nói với cả lớp: Vừa rồi các nhóm kể về gia đình mình rất sôi nổi.
Cô thấy tất cả các bạn trong lớp đều rất yêu quý mọi người trong gia đình. Bây giờ,
cô mời đại diện các nhóm kể về gia đình mình cho cả lớp cùng nghe.
- Đại diện một số nhóm kể.
Giáo viên và lớp nhận xét.
- Giáo viên chốt lại nội dung bài tập 1 và hướng dẫn học sinh chú ý thực hành

Kể (tả ) về đối tượng có thể dựa theo gợi ý, mỗi gợi ý có thể diễn đạt từ 2 đến 3
câu tùy theo năng lực của bản thân học sinh
- Câu kết đoạn ( câu kết thúc)
- Có thể viết 1 câu thường là nói về tình cảm, suy nghĩ, mong ước của em về
đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi của đối tượng đối với
cuộc sống, với mọi người.
Ví dụ: viết về một con vật
GV đưa câu hỏi gợi ý giúp học sinh phát triển đoạn:
- Con vật em định tả là con gì?
- Nó sống ở đâu? Hình dáng nó như thế nào?
-

Hoạt động của nó có gì nổi bật?

- Vì sao em thích con vật đó?

-7-

-


Câu mở đầu
- Giới thiệu về chim chào mào
Các câu phát triển đoạn
- Kể và tả về chim chào mào

Câu kết thúc
- Tình cảm của em đối với loài chim
này


Một đoạn văn hay là đoạn văn bảo đảm về bố cục, nội dung sau đó là câu từ
hình ảnh và các biện pháp tu từ mà học sinh vận dụng được. Học sinh lớp 2, vốn từ
ngữ còn nghèo nàn, khả năng mở rộng ý cho bài viết còn rất hạn chế. Để học sinh
viết được một đoạn văn hay, phong phú về ý thì việc gợi mở hướng dẫn của giáo
viên là vô cùng cần thiết. Đối với mỗi kiểu bài khác nhau kể hoặc tả giáo viên cần
-8-

-


có hệ thống câu hỏi gợi ý cụ thể để dẫn dắt và gợi mở cho học sinh. Giáo viên càng
khéo gợi mở bao nhiêu thì ý đoạn văn của học sinh càng phong phú.
Các bước tiến hành:
- Đưa hệ thống câu hỏi, hướng dẫn học sinh làm miệng, trả lời từng câu hỏi. Gọi
ý cho học sinh trả lời bằng nhiều cách khác nhau.
- Nhận xét, sửa chữa những câu trả lời chưa đúng; cung cấp và gợi ý để các em
có thể cách trả lời khác , dùng từ khác hoặc có thể hướng dẫn mẫu các câu có
hình ảnh so sánh nhân hóa để bài văn sinh động hơn ( không bắt buộc chỉ
khuyến khích học sinh giỏi vì đây là phần kiến thức chưa học )
- Hướng dẫn học sinh sắp xếp các câu trả lời đó theo một trật tự hợp lý để hoàn
chỉnh bài làm miệng.
- Cho một số học sinh làm miệng cả bài. Sau đó hướng dẫn học sinh viết liền
mạch các câu trả lời thành một đoạn văn.
- Giáo viên có thể giói thiệu những bài văn hay của học sinh ở năm học trước
nhằm kích thích tinh thần học tập của học sinh.
Ví dụ:
* Bài viết kể về gia đình
- Gia đình em gồm có những ai?
- Những người trong gia đình em làm công việc gì?
- Tình cảm của em đối với những người trong gia đình như thế nào?( GV có thể

vốn từ giúp học sinh có vốn từ để nói và viết, từ đó biết lựa chọn và sử dụng từ
ngữ đúng và hay trong viết văn là việc làm hết sức cần thiết. Để viết được những
câu văn hay học sinh phải sử dụng từ ngữ sao cho sát nghĩa và mang tính gợi tả, gợi
cảm.
Vì vậy, để nâng cao khả năng và chất lượng viết đoạn văn cho học sinh việc
hướng dẫn học sinh sử dụng từ đúng và từ hay là mục tiêu tôi luôn coi trọng.
Tôi chú ý tăng cường rèn luyện cho các em biết cách mở rộng vốn từ và lựa chọn
từ ngữ thông qua các dạng bài tập được tiến hành trong các giờ hướng dẫn học.
Giáo viên đưa ra yêu cầu của bài trên cơ sở có định hướng rõ ràng để học sinh tự
suy nghĩ nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. Giáo viên tổ chức cho
các nhóm học sinh thảo luận để cùng nhau tìm từ ngữ sau đó giáo viên tổng hợp từ
ngữ của các nhóm, bài của các nhóm lần lượt được gắn lên bảng. Trên cơ sở bài
của các nhóm, giáo viên cùng học sinh nhận xét đánh giá chọn lọc từ ngữ. Giáo
viên sẽ tổng hợp được lượng từ ngữ hay và chính xác.
Ví dụ: Đề bài tả ngắn về biển.
Phần câu hỏi gợi ý trong SGK:
- Bức tranh vẽ cảnh gì?
- Sóng biển như thế nào?
- Trên mặt biển có những gì?
- Trên bầu trời có những gì?
Trên cơ sở đề bài này tôi đưa bài tập hướng dẫn học sinh kết hợp quan sát tranh
và vốn hiểu biết để tìm từ như sau:
Hãy tìm các từ ngữ để miêu tả
- Sóng biển……………….
- 10 -

-


- Mặt biển……………….

biết dùng từ ngữ gợi tả, biết vận dụng các biện pháp tu từ đơn giản song ở lớp 2 các
em chưa được học về nhân hóa so sánh. Vì thế, giáo viên phải có biện pháp để
giúp các em nhận biết các từ ngữ hay và biết vận dụng các từ ngữ đó vào viết đoạn
văn.

- 11 -

-


Thông qua các dạng bài tập nhận biết và các bài luyện tập để rèn luyện cho các
em cách sử dụng từ ngữ.
Dạng 1: Hãy đọc đoạn văn( thơ) sau và gạch chân dưới những từ ngữ mà
em thấy hay và yêu thích.
Mùa xuân đến, Bầu trời ngày thêm xanh. Nắng vàng này càng rực rỡ. Vườn
cây lại đâm chồi, nảy lộc. Rồi vườn cây ra hoa. Hoa bưởi nồng nàn . Hoa nhãn
ngọt. hoa cau thoảng qua. Vườn cây lại đầy tiếng chim và bóng chim bay nhảy.
Những thím chích chòe nhanh nhảu. những chú khướu lắm điều. Những anh chào
mào đỏm dáng. Những bác cu gáy trầm ngâm.
Học sinh đã gạch được các từ ngữ sau: nắng vàng, rực rỡ, đâm chồi, nảy lộc,
nồng nàn, bay nhảy, thím chích chòe, chú khướu, nhanh nhảu, chào mào đỏm dáng,
bác cu gáy trầm ngâm….
Sau đó giáo viên có thể hỏi một số em vì sao con thấy từ đó hay và hay ở chỗ
nào? Từ đó giáo viên củng cố thêm cho học sinh để học sinh được hiểu sâu và thêm
yêu thích các từ ngữ hay, từ đó có ý thức học tập cách viết văn hay của các nhà
văn, vận dụng và sử dụng từ ngữ hay sinh động gợi tả khi viết văn.
Dạng 2: Hãy đọc các câu văn sau thay thế các từ được in đậm bằng các từ
khác hay hơn.
- Em bé chạy lững thững đến với mẹ.
- Cây phượng ở cổng trường bắt đầu nở hoa đỏ.

- Mùa đông…………..
- Hoa cúc…………….
- Hoa hồng………..
- Hoa đào……………
- Vườn cây…………..
- Bầu trời…………….
- Mặt trời……………..
- Chim chóc …………….
Các dạng bài tập này giáo viên có thể vận dụng với nhiều kiểu bài khác nhau
và nhất là đối với thể loại văn miêu tả. Các dạng bài này rất dễ cho học sinh luyện
trong các tiết hướng dẫn học, phù hợp với tất cả đối tượng học sinh. Học sinh khá,
giỏi không hạn chế khả năng viết câu và tìm từ còn học sinh trung bình có thể tìm
được ít hơn tùy khả năng của các em. Bên cạnh đó các em được học hỏi lẫn nhau.
Vì vậy vốn từ của học sinh càng được nâng lên rõ rệt và việc viết câu văn hay đến
đoạn văn hay sinh động không còn là việc khó đối với các em.
Rất nhiều học sinh đã viết được rất nhiều câu văn hay khi tả về mặt trời mùa
hè.
Ví dụ:
- Mặt trời tỏa những tia nắng chói chang.
- Mặt trời như quả cầu lửa.
- Mặt trời như quả bóng khổng lồ.
- Mặt trời nhăn nhó tỏa những tia nắng gắt.

- 13 -

-


Ví dụ: Đoạn văn tả ngắn về mùa hè của em Trần Nguyễn Mai Phương.
Mùa hè bắt đầu từ tháng tư và kết thúc vào tháng sáu âm lịch. Mặt trời mùa

trăm tuổi. Con chúc bố mẹ luôn mạnh khỏe công tác tốt. Con sẽ cố gắng học tập
thật giỏi để cả nhà ta luôn sống trong hạnh phúc bình an.
Tạo cảm xúc cho đoạn văn không nhất thiết cả đoạn cả bài mà có khi chỉ cần
cách mở đoạn và kết đoạn gây cảm xúc cho người đọc. Mở đoạn hay giàu cảm xúc
đã lôi cuốn người đọc.

- 14 -

-


Ví dụ: cách mở đoạn khi viết đoạn văn nghe kể “Sự tích hoa dạ lan
hương” của em Lê Phương Thảo
Các bạn đã bao giờ nghe kể về sự tích hoa dạ lan hương chưa? Đó là một câu
chuyện vô cùng cảm động.
Cách kết bài hay, sinh động cũng rất quan trọng, tạo sự lưu luyến gây ấn tượng
sâu sắc cho người đọc.
Ví dụ cách viết câu kết đoạn giàu cảm xúc của em Phương Dung
Hoa dạ lan hương thật giàu lòng hiếu thảo phải không các bạn!
Rất nhiều cách kết bài khi tả cảnh mùa hè của các em.
- Em rất yêu mùa hè!
-Em nhớ mãi mùa hè yêu dấu!
-Mùa hè thú vị biết bao!
-Mùa hè thật đáng yêu!
-Mùa hè ơi mãi yêu mùa hè!
Dạy các em biết yêu quý trân trọng từng quyển sách cái bút, những đồ vật gần
gũi hàng ngày với các em. Những tình cảm yêu quý người thân, bạn bè, thầy cô,
biết giúp đỡ bạn bè… chính những tình cảm ấy sẽ tạo nên một mạch ngầm làm cho
đoạn văn viết của các em thêm sinh động lôi cuốn hấp dẫn người đọc.
IV. Kết quả

Yếu

TB

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

Giữa học kỳ I

40

40

17

41,5


0

0

Giữa học kỳ II

40

40

32

80,0

8

20,0

0

0

0

0

Qua các đợt kiểm tra định kỳ tỉ lệ học sinh khá giỏi Tiếng Việt của lớp tôi cũng
đều đứng đầu trong khối, nhiều em đạt điểm tuyệt đối trong phần viết đoạn văn như
các em Mai phương, Đoàn Anh Sơn, Lê Phương Thảo, Lê Thùy Dung, Nguyễn
Phương Mai, Lê Khánh Hiền, Phạm Việt Dũng, Nguyễn Phương Quỳnh Anh,

nhiều phương diện. Học sinh lớp 2 văn viết văn hay là tiền đề để các em học tốt
văn ở lớp 3 và các lớp trên. Viết văn hay góp phần giáo dục thẩm mỹ lòng yêu
các đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ ở trẻ. Viết văn là sự thống nhất giữa tư
duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên với xã hội để
khơi gợi cho các em những tình cảm xúc cảm cao đẹp.
III. Khuyến nghị.
Để tăng cường rèn kỹ năng viết văn cho học sinh Tiểu học nói chung tôi nghĩ
rằng các biện pháp nêu trên không chỉ áp dụng với học sinh lớp 2 mà các khối khác
đều áp dụng được. Nếu giáo viên tích cực vận dụng các biện pháp trên thì hiệu quả
Phân môn Tập làm văn sẽ nâng cao rõ rệt.
Để không ngừng nâng cao chất lượng viết văn cho học sinh lớp 2 cần:
- Tăng cường thêm giờ học ngoại khóa để các em được tiếp xúc với thực tế.

- 17 -

-


- Tiếp tục đầu tư thêm tư liệu giảng dạy phân môn Tập làm văn như đoạn phim,
vi deo,…
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi trong việc rèn kỹ năng viết đoạn
văn cho học sinh lớp 2. Rất mong được các cấp lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp gần
xa đóng góp ý kiến cho tôi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nam Hồng, ngày 22 tháng 4 năm 2013
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)

7. 180 Câu hỏi giải đáp dạy học Tiếng Việt Tiểu học.
- Nhiều tác giả
8. Phương pháp dạy học Tiếng việt ở Tiểu học.
- Lê Phương Nga
- Nguyễn Trí
9. Sách thiết kế bài giảng Tiếng việt Tập 1 và Tập 2
10. Sách Giáo viên Tiếng Việt 2

- 20 -

-


MỤC LỤC
Mục

Nội dung

Trang

DÀN Ý TÓM TẮT

1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

2

PHẦN II: NỘI DUNG



5. Hướng dẫn học sinh viết câu văn sinh động gợi tả

11

6. Khơi gợi cảm xúc của học sinh khi viết văn

14

IV. Kết quả

15

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

17

I. Kết luận

17

II. Khuyến nghị

18

PHỤ LỤC ( các đoạn văn hay của học sinh lớp 2c)

19

DANH MỤC THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status