ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HẢI SỸ
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VẬN ĐỘNG NGƯỜI DÂN
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ DƯƠNG THÀNH
HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Phát triển nông thôn
Khoa
: Kinh tế và Phát triển nông thôn
Khóa học:
: 2015 – 2019
THÁI NGUYÊN – 2019
: 2015 – 2019
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Cù Ngọc Bắc
Cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Thị Phương
THÁI NGUYÊN – 2019
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay em đã hoàn thành bài báo
cáo thực tập tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
với tên đề tài:"Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác tuyên truyền vận động người dân trong xây dựng nông thông mới tại xã
Dương Thành – huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên”. Có được kết quả này lời
đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo Thạc sĩ Cù Ngọc Bắc – Giảng
viên khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn – giáo viên hướng dẫn em trong quá trình
thực tập. Thầy đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cho em những kiến thức lý thuyết
và thực tế cũng như các kỹ năng trong khi viết bài, chỉ cho em những thiếu sót và
sai lầm của mình, để em hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp với kết quả tốt
nhất. Thầy luôn động viên và theo dõi sát sao quá trình thực tập và cũng là người
truyền động lực cho em, giúp em hoàn thành tốt đượt thực tập của mình.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các phòng, cán bộ UBND xã Dương
Thành đã nhiệt tình giúp đỡ em, cung cấp những thông tin và số liệu cần thiết để
phục vụ cho bài báo cáo. Ngoài ra, các cán bộ xã còn chỉ bảo tận tình, chia sẻ những
kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác, đó là những ý kiến hết sức bổ ích cho
em sau này khi ra trường. Đã tạo mọi điều kiện giúp em hoàn thành đợt thực tập tốt
nghiệp này.
Em cũng xin cám ơn người dân xã Dương Thành đã tạo điều kiện cho em
Bảng 4.12: Mức độ hài lòng của người dân về công tác tuyên truyền, vận động.....47
Bảng 4.14: Người dân tham gia tập huấn, ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất...........49
Bảng 4.15: Số hộ tham gia hiến đất xây dựng các công trình công cộng .................50
Bảng 4.16: Tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia lao động xây dựng công
trình công cộng ........................................................................................51
Bảng 4.17: Người dân đóng góp kinh phí xây dựng các công trình công cộng........52
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GIẢI NGHĨA
TỪ VIẾT TẮT
HĐND
Hội đồng nhân dân
MTQG
Mục tiêu quốc gia
MTTQ
Mặt trận tổ quốc
NTM
Nông thôn mới
PTNT
2.2.2. Xây dựng NTM ở Quảng Ninh .......................................................................24
2.2.3. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Tuyên Quang .................................25
2.2.4. Phát huy vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại Hòa Bình .....26
2.2.5. Tình hình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 –
2015 và bài học kinh nghiệm ....................................................................................28
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....31
3.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................31
3.2. Thời gian nghiên cứu .........................................................................................31
v
3.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................31
3.4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................31
3.4.1. Phương pháp điều tra chọn mẫu ......................................................................31
3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin ......................................................................32
3.4.2.2. Thông tin sơ cấp ...........................................................................................32
3.6. Phương pháp xử lý số liệu ..................................................................................33
3.6.1. Số liệu thu thập được ......................................................................................33
3.6.2. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự tham gia của người dân trong quá trình xây
dựng nông thôn mới ..................................................................................................33
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .....................................34
4.1. Đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu ...........................................................34
4.1.1. Điều kiện tự nhiên ...........................................................................................34
4.1.2. Hiện trạng sử dụng đất ....................................................................................35
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ................................................................................37
4.1.3. Tình hình thực hiện chương trình nông thôn mới của xã................................43
4.2. Vai trò của công tác tuyên truyền trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn nghiên cứu .............................................................................................44
4.2.1. Sự hiểu biết của người dân trong xây dựng nông thôn mới ............................44
4.2.2. Kết quả về công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia các mô hình
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nông thôn mới là vấn đề đã và đang được sự quan tâm của Đảng
và nhà nước trên diện rộng của nước Việt Nam. Kế thừa thành tựu sau 20 năm đổi
mới, nông thôn với vai trò của mình đã và đang liên tục phát triển góp phần quan
trọng trong tình hình kinh tế, chính trị xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời
sống của người dân kể cả vật chất lẫn tinh thần.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nông nghiệp, nông thôn và nông dân
vẫn còn nhiều thách thức ảnh hưởng đến quá trình phát triển bền vững cảu quá trình
công nghiệp hóa – hiện đại hóa như: chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh
thấp; quá trình đổi mới và tăng giá trị đang chậm lại; suy thoái môi trường, chênh
lệch giàu nghèo ngày càng tăng giữa các nhóm dân cư và vẫn tồn tại các cộng đồng
tách biệt.
Những khó khăn này tồn tại đã gây ra nhiều trở ngại cho tiến trình phát triển
của đất nước. trong nước vẫn còn nhiều vùng , tỉnh thành, địa phương có nền kinh
tế chậm phát triển, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ những hạn chế trên, để phát triển một cách toàn diện tất cả
các mặt của nông thôn hiện nay. Đảng và Nhà nước ta đề ra chương trình xây
dựng nông thôn mới (NTM) trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai
đoạn 2010 -2020, chương trình đã và đang được được thực hiện các vùng nông
thôn được triển khai trên toàn quốc.
Chương trình đã thực hiện và đạt được nhiều thắng lợi, tạo bước đột phá
trong phát triển nông nghiệp nông thôn, nâng cao đời sống cho người dân. Cùng với
sự thực hiện chung của đất nước, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành
thực hiện chương trình nông thôn mới theo chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước. Sau khi triển khai, thực hiện chương trình nông thôn mới huyện Phú Bình đã
đạt được nhiều kết quả tích cực, khơi dậy niềm tin của nhân dân vào sựu lãnh đạo
3
- Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn trong công tác tuyên truyền vận
động.
- Đề xuất được một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao công tác tuyên truyền,
vận động người dân tham gia thực hiện Nông thôn mới để đạt được kết quả cao.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên nâng cao năng lực và rèn luyện kỹ năng của mình trong việc
vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn một cách khoa học và sáng tạo.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho sinh viên khóa sau.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho xã Dương Thành có định
hướng nâng cao được hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động người dân.
- Giúp người dân nhận thức được vai trò của mình trong xây dựng nông thôn
mới để công tác tuyên truyền, vận động được nâng cao góp phần đẩy nhanh tiến độ
thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số vấn đề chung
2.1.1.1. Tuyên truyền, vận động là gì?
Tuyên truyền là công việc phổ biến,cung cấp thông tin, kiến thức cho người
dân.[7]
Thông qua công tác tuyên truyền, cán bộ cơ sở giúp cho người dân hiểu được
cộng đồng
dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
Tuyên truyền về kế hoạch hóa gia
Vận động các gia đình sử dụng các
đình
biện pháp phòng tránh thai
Tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe
Vận động các gia đình cho con em đi
và dinh dưỡng cho trẻ em
khám sức khỏe định kỳ
2.1.1.2. Nguyên tắc của tuyên truyền, vận động
- Nội dung tuyên truyền, vận động phải chính xác, đầy đủ, dễ hiểu, thiết thực;
5
- Công tác tuyên truyền, vận động phải thực hiện thường xuyên, kịp thời, có
trọng tâm, trọng điểm;
- Người làm công tác tuyên truyền, vận động phải có sự phối hợp chặt
thôn trong toàn bộ quá trình xây dựng NTM, đồng thời để thựchiện triệt để quan
điểm của Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung
ương khóa X trong đó nêu rõ “nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây
dựng NTM” và Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, từ đó phát
huy quyền làm chủ, động viên sức sáng tạo, sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn
của nhân dân trong tham gia thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai
đoạn 2016-2020.[1][7]
2.1.1.4. Trách nhiệm của người dân – đối tượng được tuyên truyền, vận động
Lực lượng nòng cốt đi tuyên truyền, vận động người dân trong xây dựng
NTM là BPT thôn. Đây vừa là vai trò, vừa là trách nhiệm của BPT thôn (như đã nêu
trong Phần 1). Nhưng khi thực hiện công việc này, ngoài các nội dung cần tuyên
truyền, vận động, BPT thôn cũng phải nắm được quyền hạn và trách nhiệm của đối
tượng mà mình đi tuyên truyền, vận động – đó là người dân.
Nói cách khác, xây dựng NTM là “của dân, do dân và phục vụ lợi ích của
nhân dân” thì bản thân người dân cũng phải có trách nhiệm phối hợp với BPT thôn
để cùng thực hiện các nội dung tuyên truyền, vận động. Cụ thể, trách nhiệm của
người dân là:
- Tích cực tham gia phát triển sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học - công
nghệ, nhằm giảm chi phí, tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm.
- Có ý chí chủ động vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng.
- Thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mới; động viên con em
trong độ tuổi đi học đến trường và học hành chăm chỉ, không có tình trạng bỏ
học giữa chừng.
- Chỉnh trang nơi ở của gia đình như: nhà ở sạch sẽ, có nước sạch để dùng,
có nhà vệ sinh, bố trí chăn nuôi xa khu dân cư; đảm bảo vệ sinh môi trường; cải tạo
vườn tạp, ao hồ, làm tường rào quanh nhà để tạo cảnh quan đẹp; có trách nhiệm duy
tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng, giữ đường thôn, ngõ xóm trước nhà sạch, đẹp;
thực hiện tốt các quy định của Nhà nước khi tham gia giao thông, góp phần bảo
mình không? (Đây chính là sức lan tỏa của tuyên truyền, vận động hay nông dân
hướng dẫn/vận động nông dân).
Để nâng cao nâng cao chất lượng tuyên truyền, vận động, người làm công tác
tuyên truyền, vận động cần nắm một số vấn đề cơ bản sau:[7]
8
1) Nắm vững yêu cầu và nội dung của vấn đề cần tuyên truyền gắn với
những thực tiễn sinh động đang diễn ra
- Nắm vững yêu cầu và nội dung tuyên truyền, nhạy bén với thực tiễn cuộc
sống là yêu cầu cốt lõi của người tuyên truyền. Khi nắm vững nội dung và kết hợp
với thực tiễn cuộc sống thì người tuyên truyền có thể tự tin trình bày vấn đề một
cách rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, gắn với với ví dụ thực tiễn.
- Để nắm vững những nội dung cần nói, trước hết phải nghiên cứu kỹ nội
dung, chủ đề mà mình định tuyên truyền cho người nghe. Đọc kỹ, ghi chép tài
liệu liên quan để bổ sung cho nội dung chính là một vấn đề quan trọng đối với
người nói.
- Cần nắm bắt thực tiễn một cách nhạy bén, có hệ thống, cần bổ sung ngay
khi tuyên truyền làm cho người nghe tiếp cận ngay với những vấn đề thời sự chính
trị đang diễn ra.[7]
2) Nắm vững và tìm hiểu đối tượng tuyên truyền
- Nắm vững đối tượng tuyên truyền là việc không hề đơn giản, bởi hiểu một
người đã khó, hiểu nhiều người càng khó hơn. Nhưng có hiểu được đối tượng thì
người nói mới có nội dung và phương pháp tuyên truyền thích hợp.
- Người nói cần tìm hiểu trình độ chính trị văn hóa, tuổi tác, giới tính, nghiệp
vụ và tâm tư nguyện vọng, suy nghĩ của đối tượng mình định tuyên truyền để nói
cho sát, cho thích hợp.
- Có nhiều cách nắm bắt thông tin về đối tượng nhưng cách tốt nhất là tìm
hiểu trực tiếp, tự tìm hiểu, tự điều tra, nghiên cứu qua tiếp xúc, quan sát khi mình
phương án tuyên truyền, vận động phù hợp để người dân có thể lắng nghe và thuyết
phục.[7]
2.1.2. Các hình thức tuyên truyền, vận động
Có rất nhiều biện pháp tuyên truyền và vận động như: treo băng rôn, khẩu
hiệu, tranh ảnh; phát tờ rơi; sử dụng loa phát thanh; sử dụng phương tiện thông tin
như tivi, đài, báo; thăm mô hình trình diễn; tổ chức các cuộc họp, văn nghệ, thể
thao, hội thi, lễ ra quân…
Mỗi hình thức, phương tiện tuyên truyền, vận động có những ưu, nhược điểm
khác nhau. Trong đó, hình thức tuyên truyền miệng thông qua trao đổi trực tiếp hai
chiều là hình thức phát huy hiệu quả tốt nhất khi thực hiện tuyên truyền, vận động
đối với người dân.[7]
10
2.1.2.1. Tuyên truyền miệng
Là hình thức tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói để thuyết phục người nghe
nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và tổ chức họ hành động theo đúng chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các vấn đề trong
xây dựng NTM. Hình thức này thường được sử dụng trong các bài giảng, báo cáo,
bài thuyết trình, trong các buổi nói chuyện thời sự, qua các buổi trao đổi, đối thoại,
tọa đàm, tranh luận, hỏi đáp…
Khi sử dụng hình thức này, báo cáo viên, tuyên truyền viên sẽ trực tiếp nói với
hội viên, nông dân trong các lớp học, hội nghị; trực tiếp tiếp xúc, trao đổi, thảo luận với
người dân và trực tiếp nghe nông dân trao đổi lại qua đó thuyết phục người dân tin và
làm theo. Vì thế, hình thức tuyên truyền này có tính chất dân chủ, dễ thực hiện nhất và
cũng là hình thức tuyên truyền rẻ nhất, hiệu quả nhất. [7]
2.1.2.2. Tuyên truyền thông qua sử dụng hệ thống thông tin đại chúng
Hình thức này được thực hiện qua hệ thống truyền thông của Đảng, Nhà
nước như báo, đài phát thanh, truyền hình của Trung ương và địa phương… nên nó
Hình thức tuyên truyền này sử dụng triệt để phương pháp nêu gương như: tổ
chức cho nông dân đi tham quan, học tập những điển hình, mô hình tốt để họ học
tập, làm theo. Qua đó hướng dẫn, khuyến khích động viên nông dân học tập, làm
theo gương điển hình, mô hình tiên tiến. Do vậy, cần sớm phát hiện, nhân rộng mô
hình, điển hình tiên tiến, những nhân tố mới để tuyên truyền, giáo dục hội viên,
nông dân.[7]
2.1.3. Các nội dung tuyên truyền, vận động người dân trong xây dựng NTM
Chúng ta đã đề cập đến nhiệm vụ, trách nhiệm của người dân khi tham gia
xây dựng NTM. Đó cũng chính là những nội dung cần tuyên truyền, vận động
người dân. Để cụ thể và có hệ thống hơn, chúng ta phân loại các nội dung tuyên
truyền, vận động người dân trong xây dựng NTM theo các nội dung sau:[7]
Thứ nhất, tuyên truyền, vận động người dân tham gia ý kiến vào xây dựng
NTM: Cần giúp cho người dân hiểu được họ có vai trò chủ thể, có quyền ra quyết
định lựa chọn các công trình, các hoạt động cần ưu tiên trong xây dựng NTM. Vì
thế, người dân cần chủ động, tích cực, mạnh dạn tham gia ý kiến của mình (dù đúng
hay sai, dù được cộng đồng nhất trí hay không) đối với các nội dung xây dựng
NTM.[7]
Thứ hai, tuyên truyền, vận động người dân tham gia góp sức, góp vốn, góp
tài sản, kêu gọi con em ở xa cùng đóng góp cho xây dựng NTM: lưu ý rằng đây là
12
việc vận động hoàn toàn tự nguyện chứ không được ép buộc. Cán bộ tuyên truyền
cần phải làm cho người dân hiểu được những đóng góp của họ là phục vụ cho chính
lợi ích của họ. Việc vận động phải có sức thuyết phục, hợp tình, hợp lý, tạo ra sự
đồng thuận giữa những người dân trong cộng đồng.[7]
Thứ ba, tuyên truyền, vận động người dân tham gia trực tiếp vào các hoạt
động xây dựng NTM: cần giúp cho người dân hiểu được xây dựng NTM gồm những
nội dung gì, từ việc xây dựng cơ sở hạ tầng, tổ chức sản xuất, phát triển văn hóa –
đích, ý nghĩa, nội dung Chương trình; nâng cao ý thức trách nhiệm cho mỗi thành
viên tự giác tham gia phong trào một cách tích cực phù hợp với điều kiện của
mình.[7]
Vai trò vận động
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp vận động thành viên, nhân dân tích cực
tham gia thực hiện các nội dung cụ thể thông qua các phong trào do Trung ương
Mặt trận tổ quốc Việt Nam phát động. Trong thời gian qua, Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam đã phát động nhiều cuộc vận động xây dựng nông thôn mới như
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người
nghèo”…
Từ năm 2016, Mặt trận tập trung vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây
dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” với năm nhóm nội dung:
Toàn dân đoàn kết, giúp nhau giảm nghèo bền vững, tích cực tham gia phát
triển kinh tế, ổn định đời sống, khuyến khích làm giàu chính đáng.
Toàn dân đoàn kết, xây dựng nếp sống văn hóa; chăm lo sự nghiệp giáo dục, đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực; chăm sóc sức khỏe nhân dân, xây dựng gia đình văn
hóa, hạnh phúc; phát huy truyền thống đền ơn đáp nghĩa, tương thân tương ái.
Toàn dân đoàn kết tham gia bảo vệ môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu,
xây dựng cảnh quan môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp. Toàn dân đoàn kết, chấp
hành pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.
Toàn dân đoàn kết, phát huy dân chủ, tích cực tham gia giám sát và phản biện
xã hội, góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh.[7]
14
2.1.4.2. Hội Nông dân Việt Nam
Vai trò tuyên truyền
Hội Nông dân tích cực tham gia tuyên truyền, phổ biến trong hội viên và nông
dân chủ trương, chính sách xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước. Các
dân thoát nghèo bền vững nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn qua các
phương thức thiết thực, hiệu quả; tổng kết thực tiễn, đánh giá các mô hình xóa đói,
giảm nghèo do Hội hướng dẫnđể nhân rộng mô hình; vận động nông dân tham gia
các tổ hợp tác, hợp tác xã, liên kết “bốn nhà”…nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
nông nghiệp.[7]
2.1.4.3. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Vai trò tuyên truyền
Các cấp bộ Đoàn tích cực tham gia tuyên truyền, phổ biến trong đoàn viên,
thanh niên chủ trương, chính sách xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước;
qua đó làm cho đoàn viên, thanh niên hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, nội dung Chương
trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; giáo dục nâng cao ý thức trách
nhiệm cho mỗi đoàn viên, thanh niên tự giác tham gia phong trào một cách tích cực
phù hợp với điều kiện của mình.[7]
Vai trò vận động
Vận động đoàn viên, thanh niên tích cực thực hiện những phần việc trong Bộ
tiêu chí phù hợp với khả năng của mình. Thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày
05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010-2020, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã triển khai phong trào “Tuổi
trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới”; xây dựng đề án “Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh tham gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2013-2020” đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 324/QĐ-TTg (18/2/2013). Trong đó,
các cấp bộ đoàn tham gia những công việc cụ thể, thiết thực xây dựng nông thôn
mới như:
Vận động đoàn viên, thanh niên tham gia phát triển kinh tế - xã hội trên địa
bàn nông thôn. Tổ chức Đoàn các cấp hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế thông qua
các hoạt động: Tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ trong sản xuất nông - lâm
- ngư nghiệp; trao đổi kinh nghiệm, tham quan học hỏi các mô hình sản xuất, kinh
doanh tiêu biểu, tổ chức tư vấn, hướng nghiệp, giới thiệu việc làm cho thanh niên;
nhật xanh; hướng ứng các phong trào Tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi
trường, ngày môi trường thế giới… Thành lập và duy trì các mô hình thanh niên
bảo vệ môi trường như: “Đội thanh niên xung kích bảo vệ môi trường”, “Thanh
17
niên tình nguyện vì môi trường xanh - sạch - đẹp”, “Tuyến đường thanh niên tự
quản”… [7][8]
2.1.4.4. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Vai trò vận động
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam vận động cán bộ, hội viên, phụ nữ tích cực
tham gia xây dựng nông thôn mới thông qua các chương trình của mình và các
phong trào do Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) phát động. Hiện nay, Trung ương Hội
Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đang phát động phong trào xây dựng “Gia đình 5 không
3 sạch” trên phạm vi toàn quốc. Đây là cuộc vận động có nhiều nội dung thiết thực
góp phần xây dựng nông thôn mới.[7]
Vai trò tuyên truyền
Hội Phụ nữ các cấp tích cực tham gia tuyên truyền, phổ biến trong cán bộ, hội
viên, phụ nữ chủ trương, chính sách xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà
nước. Các cấp hội tuyên truyền để hội viên, phụ nữ hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, nội
dung Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Giáo dục nâng cao
ý thức trách nhiệm cho mỗi hội viên, phụ nữ tự giác tham gia phong trào một cách
tích cực phù hợp với điều kiện của mình.[7]
2.1.4.5. Hội cựu chiến binh Việt Nam
Vai trò tuyên truyền
Các cấp Hội tích cực tham gia tuyên truyền, phổ biến trong hội viên, cựu
chiến binh chủ trương, chính sách xây dựng nông thôn mới; qua đó làm cho hội
viên, cựu chiến binh hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, nội dung Chương trình; giáo dục
nâng cao ý thức trách nhiệm cho mỗi hội viên, cựu chiến binh ý thức trách nhiệm,