Bao cao ket qua nghien cuu, ung dung SKKN SÁNG KIẾN “Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIIIXIX qua một số tác phẩm tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn 11(Tự tình – Hồ Xuân Hương; Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ; Bài ca ngắn đi tên bã - Pdf 65

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. LỜI GIỚI THIỆU
Có ý kiến cho rằng, mọi sự thay đổi trong văn học đều bắt nguồn từ sự thay
đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người. Do vậy, đi sâu khám phá quan niệm
nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam là bước đi ngắn nhất để
chúng ta đến gần với cái bản chất nội tại của tác phẩm, nắm được sự thay đổi, cách
tân và vận động của cả một giai đoạn, một thời kì văn học trung đại, đồng thời nêu
bật được sức hấp dẫn của thời kì văn học này cũng như khẳng định những giá trị
không lỗi thời của nó về sau.
Nghiên cứu quan niệm con người trong văn học không giống với việc tìm
hiểu quan niệm con người trong các học thuyết triết học. Con người trong văn học
là sự ý thức về con người, là cách hiểu về con người và cuộc đời làm cơ sở cho
việc sáng tạo ra các hình tượng nghệ thuật, hòa tan trong sự miêu tả các hình tượng
sống động. Nhiệm vụ của người nghiên cứu là vạch ra quan niệm ấy như là cái lý
bên trong của hình tượng. Quan niệm con người trong văn học phong phú và sinh
động hơn nhiều so với quan niệm triết học. Tùy theo cách cảm nhận, đồng cảm của
nhà văn đối với các số phận, tính cách cá nhân mà quan niệm về con người cá nhân
được mở ra, mỗi tác giả, mỗi thời đại đều có thêm những đường nét mới. Xem xét
văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX qua một số hiện tượng chủ yếu,
tiêu biểu ta có thể hình dung được một quá trình phát triển của quan niệm cá nhân
trong văn học. Đó tuy không phải là vấn đề hoàn toàn mới đối với cảm thụ văn
học, nhưng là nhiệm vụ mới của lý luận văn học và lịch sử văn học.
Suốt mười thế kỉ trung đại, văn học Việt Nam đã kết tinh nhiều giá trị thâm
sâu, trở thành niềm tự hào cho hậu thế. Văn học trung đại Việt Nam đến nay vẫn là
một sức hút mãnh liệt đối những nhà nghiên cứu học thuật trong và ngoài nước, là
nơi thể nghiệm và đạt được nhiều thành tựu của nhiều hệ thống lí thuyết nghiên
cứu văn học. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó
với truyền thống cao đẹp của dân tộc. Bởi lẽ “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và
giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của
văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam”(Phạm Văn

khoa học xã hội, tính ứng dụng không cao, không thiết thực với cuộc sống, công
việc. Từ đó, dẫn đến tình trạng chán học văn, hoặc học mang tính đối phó.
Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có đổi mới phương
pháp, tìm hướng tiếp cận mới trong dạy học môn Ngữ văn, tạo hứng thú, nâng cao
năng lực học tập cho học sinh, giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp, biết
cảm thông, yêu thương chia sẻ với những số phận, cuộc đời thông qua mỗi trang
sách, thông qua từng tác phẩm là điều rất cần thiết. “Văn học là nhân học” học văn
là để hình thành nhân cách con người. Và Ngữ văn là môn học quan trọng giúp học
sinh có kỹ năng giao tiếp ứng xử trong cuộc sống. Tìm hướng tiếp cận, đổi mới
phương pháp, từ đó tạo hứng thú trong học tập cho học sinh, khơi gợi, đánh thức
niềm đam mê với văn học, tìm về với giá trị đời sống tâm hồn của con người là vấn
đề được đặt ra và cần phải giải quyết.
Luận ngữ có câu: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học
không bằng say mà học”. Yếu tố cảm xúc, say mê chính là động lực lớn thúc đẩy,
nuôi dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi chúng ta.
Với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của
học sinh, hơn ai hết giáo viên phải tìm, xây dựng hướng tiếp cận mới, phương pháp
mới để phát huy tính tích cực sáng tạo của người học, tạo hứng thú, hưng phấn,
khơi dậy đam mê học tập ở học sinh.
Có thể nói, cốt lõi của việc tạo hứng thú, tạo tâm thế hưng phấn, tích cực cho
học sinh trong học tập bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng là đổi mới
phương pháp dạy học, dạy học theo hướng lấy hoạt động học tập của học sinh làm
trung tâm, học trò là người chủ động khám phá, lĩnh hội kiến thức, người thầy
đóng vai trò là người tổ chức, chỉ đạo. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm những hướng
tiếp cận bài học linh hoạt, khoa học, hợp lí nhằm tạo hứng thú học tập của học sinh
trong dạy học Ngữ văn là rất cần thiết.
2


Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, kết hợp kinh nghiệm giảng dạy thực

cận mới, phương pháp dạy học tích cực nhằm tạo được hứng thú học tập môn Ngữ
văn của học sinh khi học môn Ngữ văn nói chung và Văn học trung đại Việt Nam
nói riêng. Đồng thời, qua thực trạng, tìm hiểu được nguyên nhân, các yếu tố ảnh
hưởng tới việc học văn của học sinh, từ đó đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú
học tập môn Ngữ văn, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng học tập môn Văn
cho học sinh THPT. Cụ thể:
* Kiến thức

3


- Giúp học sinh: Nắm được những biểu hiện của con người cá nhân trong
Văn học trung đại thế kỉ XVIII – XIX thông qua một số tác phẩm thơ được học
trong chương trình Ngữ văn 11.
* Năng lực
- Giúp hình thành ở các em các năng lực: Năng lực tự học. Năng lực tự giải
quyết vấn đề, thu thập thông tin liên quan đến văn bản. Năng lực sáng tạo. Năng
lực giao tiếp, trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.
Năng lực hợp tác, trao đổi, thảo luận. Năng lực sử dụng ngôn ngữ bày tỏ quan
điểm, cảm nhận sau khi đọc văn bản. Năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm
mĩ. Năng lực vận dụng kiến thức liên môn: lịch sử, địa lý…; Tích hợp kiến thức
sách vở và đời sống; Tích hợp tự thân: Đọc văn - Tiếng việt - Làm văn.
* Kĩ năng
- Biết cách đọc - hiểu một tác phẩm thơ trữ tình trung đại.
- Biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc làm bài văn nghị luận văn học.
* Thái độ
- Biết trân quý những giá trị văn học truyền thống.
- Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong thơ trung đại Việt
Nam.
- Tình yêu và cảm xúc trước vẻ đẹp của các đối tượng thẩm mĩ.

- Phương pháp điều tra và khảo sát: Khảo sát sách giáo khoa, sách giáo
viên, sách tham khảo; các bài viết, bài phân tích của một số nhà giáo, nhà nghiên
cứu về văn học trung đại Việt Nam, về các tác phẩm được học trong chương trình
ngữ văn ở trường phổ thông. Dự giờ lên lớp của thầy giáo, cô giáo ở trường để
nắm bắt tình hình dạy học văn nói chung cũng như dạy học các bài thơ trung đại
nói riêng.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dùng để xử lý các tư liệu và ý kiến
nghiên cứu của các nhà giáo, nhà phê bình, nghiên cứu nhằm làm rõ các quan điểm
trong việc giảng dạy tác phẩm thơ trung đại.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án thực nghiệm, hướng
dẫn học sinh chữa các dạng đề nhằm tìm ra phương pháp tốt nhất cho việc giảng
dạy thơ trung đại trong nhà trường phổ thông…
7.1.5. Giới hạn về không gian của phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề được đề cập với đồng nghiệp và thực nghiệm sư phạm qua các
em học sinh lớp 11C, 11D và các em học sinh tham gia dự kì thi chọn học sinh
giỏi môn Ngữ văn lớp 11 năm học 2018-2019.
7.2.

MÔ TẢ NỘI DUNG SÁNG KIẾN

7.2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
7.2.1.1. Giới thuyết về Văn học trung đại
Trung đại là một thời đại văn hoá lớn trong lịch sử nhân loại. Đó là thời đại
ra đời những quốc gia châu Âu, những nhà nước hiện đại. Những ngôn ngữ hiện
đại mà các nước châu Âu đang sử dụng cũng hình thành vào thời trung đại. Có thể
nói, nhiều giá trị văn hoá làm nền tảng cho văn minh hiện đại cũng bắt nguồn từ
thời trung đại. Với nhiều đặc điểm loại hình, khái niệm thời trung đại cũng được
vận dụng vào lịch sử phương Đông, có tính đến những nét đặc thù ở từng quốc gia
cũng như trong toàn khu vực.
Thời trung đại Việt Nam không phải là “đêm trường trung cổ” như quan

Văn học trung đại Việt Nam rất khó xác định cụ thể năm bắt đầu và năm kết
thúc mà chỉ nên nói bắt đầu vào TK X và kết thúc vào những năm cuối TK XIX.
Đây là quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu văn học hiện nay quy ước và đang chờ
đợi sự bàn bạc sâu thêm.
7.2.1.2. Con người cá nhân và con người cá nhân trong Văn học trung đại Việt
Nam
7.2.1.2.1. Những tiền đề xã hội ảnh hưởng đến việc xây dựng hình tượng con
người cá trong Văn học Việt Nam trung đại.
a. Cơ sở lịch sử, xã hội, kinh tế, văn hoá
Năm 1497 (cuối TK XV), vị minh quân Lê Thánh Tông băng hà, nhà Lê bắt
đầu bước vào thời kỳ khủng hoảng. Bước vào TK XVI, những mâu thuẫn trong
lòng chế độ phong kiến đã bộc lộ một cách dữ dội, dẫn đến sự bùng nổ phong trào
nông dân khởi nghĩa và những cuộc xung đột triền miên giữa các tập đoàn phong
kiến nhà Lê. Quốc gia phong kiến bước vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng
và kéo dài.
Ba mươi năm (1497 - 1527), có đến sáu hoàng đế nhà Lê thay nhau ở ngôi.
Không có ai để lại dấu ấn gì trên vũ đài chính trị, có chăng là một Lê Uy Mục
nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, người đương thời gọi đó là Vua
6


Quỷ [Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ thực lục, kỉ nhà Lê, quyển 14, tờ 39-a], hay
Lê Tương Dực chơi bời vô độ, xây dựng liên miên, dân nghèo mất cơ nghiệp, trộm
cướp nổi lên, nguy cơ bị diệt vong bắt đầu ở đây [Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ
thực lục, kỉ nhà Lê, quyển 15, tờ 1-a], sự khủng hoảng trầm trọng trong cung đình
và hiện tượng xung đột diễn ra gay gắt (nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân do Lê
Hy, Trịnh Hưng và Lê Minh Triệt lãnh đạo ở Nghệ An, năm 1512; khởi nghĩa của
Trần Công Ninh ở Yên Lãng - Vĩnh Phúc, năm 1516, …) đã đẩy nhà Lê lao nhanh
xuống vực thẳm của sự diệt vong.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, lập nên nhà Mạc. Nhưng rồi nhà

chấn động dữ dội khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra còn có các cuộc khởi
nghĩa lớn khác của Hoàng Công Chất (1739 - 1769), Lê Duy Mật (1738 - 1770).
Đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của ba anh em nhà Tây Sơn (1771 - 1802). Hơn một
thế kỷ thanh gươm yên ngựa, anh em nhà Nguyễn Tây Sơn mà tiêu biểu là vị anh
hùng áo vải Nguyễn Huệ đã ghi những dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc. Năm
7


1785, Nguyễn Huệ chỉ huy đội chiến thuyền phá tan tành hơn 5 vạn quân Xiêm tại
Rạch Gầm - Xoài Mút. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh phò Lê, cưới
công chúa Ngọc Hân (con vua Lê Hiển Tông). Năm 1789, Nguyễn Huệ xưng
hoàng đế rồi kéo quân ra Bắc phá tan tành 29 vạn quân Thanh xâm lược bằng trận
Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử.
Phong trào nông dân đã liên tục nổ ra như bão táp. Một mặt nó làm lay động
đến tận gốc rễ nền thống trị vốn đã mục nát của triều đình nhà Lê, góp phần đẩy
nhanh triều đại này tới chỗ diệt vong. Nhưng mặt khác, nó cũng góp phần làm thức
tỉnh ở người dân ý thức, dân chủ, tự do, tinh thần đấu tranh vì công bằng xã hội,
đồng thời cũng làm cho họ ngày càng hiểu rõ hơn về vai trò và sứ mạng của mình
trước lịch sử.
Sau khi Quang Trung Nguyễn Huệ đột ngột qua đời, triều đình Tây Sơn lại
lục đục mâu thuẫn. Điều kiện đó đã tạo cơ hội cho Nguyễn Ánh nhanh chóng giành
lại quyền cai trị đất nước. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt quốc hiệu
Việt Nam, lãnh thổ nước ta thống nhất hoàn toàn và có hình dạng cơ bản giống như
ngày nay. Do sự bảo thủ, bế quan toả cảng nghiêm ngặt, năm 1858 bằng nhiều lý
do khác nhau, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Lịch sử dân tộc bước sang trang
mới.
Về kinh tế và văn hoá cũng có nhiều biến động.
Với tiềm lực lao động mạnh mẽ của nhân dân lao động cùng với chính sách
khuyến khích thương nghiệp của các chúa Trịnh, nền kinh tế hàng hóa nước ta
ở TK XVII đã có nhiều chuyển biến; thành thị trở nên phồn thịnh, sầm uất.

thật sự uyên thâm, đa văn quảng kiến nhưng không chịu đi thi. Số này không nhiều
và trong thực tế, ảnh hưởng xã hội của họ cũng không rộng lắm. Hai là những
người từng đỗ đạt, từng được bổ nhiệm làm quan nhưng chỉ trong một thời gian
ngắn thì buồn nản, trao trả chức tước cho triều đình rồi trở về. Số này đông hơn và
ảnh hưởng của họ đối với xã hội cũng rộng lớn hơn.
Nho giáo suy thoái, Phật giáo lại có cơ hội phát triển. Từ đầu TK XV, ngay
sau khi rút khỏi vũ đài chính trị và tư tưởng (nhường chỗ cho Nho giáo), Phật giáo
đã tìm cách phát triển và củng cố vị trí của mình trong lòng xã hội. Từ TK XVI trở
đi, ở Đàng Ngoài, chùa chiền được trùng tu và xây dựng liên tiếp, người xuất gia tu
hành ngày một đông. Trong số họ nhiều khi có cả những người đã từng là môn đồ
của cửa Khổng sân Trình trước đây (Phạm Thái là một ví dụ điển hình; Nguyễn
Du; Nguyễn Gia Thiều ảnh hưởng từ Phật giáo cũng không ít).
Một số dòng Thiền tông cũ hồi sinh, nổi bật nhất là dòng Lâm Tế, dòng
Thiền tông mới là Lân Giác ra đời; trong đời sống tư tưởng của đông đảo xã hội
Đàng Ngoài, những quy phạm có nguồn gốc đạo đức từ Phật giáo ngày càng được
đề cao và chùa chiền thực sự trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá có sức cuốn hút
mạnh mẽ đối với mọi tầng lớp.
Ở Đàng Trong, ngay từ đầu Phật giáo rất được đề cao. Và từ đó đến mãi các
thế kỷ sau, Phật giáo chiếm vai trò quan trong về mặt tư tưởng của cư dân xứ
hoang hoá này.
Cũng có thể nói, ở thời kỳ này có cuộc hội nhập giữa Đạo giáo với văn hoá
dân tộc. Ở Đàng Ngoài, vua Lê - chúa Trịnh nhiều lần đến viếng hoặc cầu đảo ở
các đền, miếu và Đạo quán. Ở Đàng Trong chúa Nguyễn cũng rất cởi mở với Phật
giáo và Đạo giáo. Tóm lại, lúc bấy giờ nhiều người lên tiếng quảng bá cho quan
điểm Tam giáo đồng nguyên hoặc Tam giáo đồng quy nhưng đời sống tư tưởng
cũng chẳng phải vì thế mà có được cuộc hội nhập thực sự hài hoà giữa Nho, Phật
và Đạo.
b. Cơ sở văn học
Trước hết cần nói đến lực lượng sáng tác.
Trong văn học Việt Nam trung đại, nhà Nho vẫn là lực lượng sáng tác cơ

dại dột, ngu hèn, tăm tối (chỉ là một cách nói phản ngữ). Hình tượng nhà Nho giữ
Tiết là hình tượng đẹp nhất trong sáng tác của tác giả ẩn dật.
Khác với hai loại trên, nhà Nho tài tử ra đời muộn (từ TK XVIII), khi trong
xã hội đã xuất hiện những yếu tố mới: đô thị, tư tưởng thị dân. Con người phát
hiện ra mình là một thực thể tồn tại thực sự với những nhu cầu, khát vọng sống cá
nhân. Nhà Nho tài tử, gốc, dĩ nhiên vẫn là Nho nhưng càng ngày càng xa rời những
quy phạm, chuẩn mực khắt khe, giáo điều của đạo lý Nho giáo. Giá trị cao nhất
trong quan niệm về con người, về nhân sinh đối với họ là Tài (nhất là tài văn
chương nghệ thuật cầm, kỳ, thi, hoạ) và Tình (đặc biệt là tình đối và giai nhân). Tài
gắn liền với Tình, với Sắc, với hưởng thụ. Chính họ là lớp nhà Nho tạo nên trào
lưu nhân đạo chủ nghĩa độc đáo trong văn học nửa sau TK XVIII - nửa đầu TK
XIX. Kiểu tác gia này rất nhạy cảm với các vấn đề mới nảy sinh, trong đó tự ý thức
về bản thân mình, khẳng định cái tài hoa, độc đáo, sự sáng tạo trong nghệ thuật là
khát vọng vươn tâm thời đại lúc bấy giờ.
Thứ hai, truyền thống trữ tình của văn học dân tộc và sự trỗi dậy của những
tư tưởng, tình cảm mới, văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học trung đại, đậm tính
trữ tình. Đây là cơ sở tốt nhất để các tác giả tự bộc lộ tư tưởng, tình cảm cá nhân
của riêng mình.
Từ TK XVI, đặc biệt là từ TK XVIII, con người luôn sống trong tâm trạng lo
âu, phấp phỏng, sầu buồn, họ chìm trong triền miên đau khổ bởi nhiều nguyên
nhân, mà nguyên nhân sâu xa gây nên là các thế lực thống trị Chính vì thế chưa
bao giờ hình tượng con người cá nhân xuất hiện trong văn học nhiều như thế.
Thời kỳ này, con người phát hiện ra mình là một thực thể tồn tại thực sự với
tất cả những nhu cầu khát vọng cao nhất của nó.
10


Như vậy cơ sở để xây dựng hình tượng con người cá nhân trong văn học
trung đại có thể hiểu ngắn gọn là:
Thứ nhất, ở thời kỳ ổn định và phát triển của nhà nước phong kiến, mối

đặc biệt quan tâm đến hình tượng con người công dân đến chỗ đặc biệt quan tâm
đến hình tượng con người cá nhân thể hiện rõ nét đặc trưng của văn học Việt Nam
trung đại.
- Nói đến văn học Việt Nam thời trung đại, một trong những vấn đề quan
trọng cần được đặc biệt lưu tâm là vấn đề thể hiện con người. Giáo sư Trần Đình
Sử cho rằng, “Con người trong văn học chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng triết
học, thần học mỗi thời”
Văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của ba hệ tư tưởng
Nho - Phật – Lão; con người trong văn học trung đại, do đó cũng mang đậm dấu ấn
11


của ba triết thuyết này ở chủ trương phi ngã của Nho giáo, vong ngã của Lão Trang và vô ngã của Phật giáo...
Tuy nhiên “cả Đạo, Phật, Nho, tam giáo đều chủ trương lý thuyết phá ngã,
vô ngã, vô kỷ, nhưng không hề là một sự diệt ngã tuyệt đối. Trái lại, tất cả đều dựa
vào phẩm chất cá nhân để giải phóng cho cái ngã nội tại khao khát tự do được
bước sang một thế giới khác, không gò bó, tạm bợ”.
Điều này khiến văn học trung đại, tuy chịu sự quy định chặt chẽ của tính quy
phạm nhưng con người cá nhân vẫn được thể hiện một cách phong phú, sinh động.
Văn học trung đại Việt Nam tồn tại trong thế lưỡng phân thành hai thành phần
chính: Văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Sự song hành của hai thành phần
văn học này tạo nên hiện tượng song ngữ khiến văn học trung đại phát triển với
những biểu hiện vừa đối lập, vừa bổ sung cho nhau, tạo nên một thế giới nghệ
thuật phong phú, đa dạng: vừa mang tính qui phạm, vừa phá vỡ qui phạm; vừa cao
nhã, quý phái vừa bình dị, đơn sơ; vừa tiếp thu lại vừa từ bỏ dần các yếu tố văn hóa
Hán, văn học Hán.
Chịu sự chi phối của hệ thống thi pháp trung đại, đồng thời không ngừng
sáng tạo theo tiếng gọi của cảm xúc bản ngã, nhà sáng tác thời trung đại giống như
“người nghệ sĩ múa một tay còn tay kia bị cột vào truyền thống”.
Con người trong văn học trung đại theo đó cũng có sự thay đổi theo nhiều

Lúc này văn học nói lên tiếng nói của mình để bênh vực, ngợi ca, yêu
thương, trân trọng con người. Chính vì thế văn học chuyển từ cảm hứng yêu nước
sang cảm hứng nhân văn, nhân đạo. Con người được đề cao trong văn học là con
người cá nhân.
Những con người có sự cựa quậy về cái tôi bản ngã, phản ứng lại lễ giáo
phong kiến; những con người mất dần niềm tin vào những giá trị của đạo đức nhà
Nho, cảm nhận được sự cô độc, lạc lõng đồng thời không ngừng khát khao về tình
yêu và hạnh phúc.
Có thể kể ra một số hình ảnh con người nổi bật như: con người bi kịch, con
người khát vọng trong “Truyện Kiều, “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm”, thơ
Nôm Hồ Xuân Hương…; con người khủng hoảng niềm tin trong thơ chữ Hán
Nguyễn Du, thơ Cao Bá Quát; con người tự phản tỉnh trong “Cung oán ngâm”, thơ
Nguyễn Công Trứ….
Lúc này văn học nói lên tiếng nói của mình để bênh vực, ngợi ca, yêu
thương, trân trọng con người. Chính vì thế văn học chuyển từ cảm hứng yêu nước
sang cảm hứng nhân văn, nhân đạo. Con người được đề cao trong văn học là con
người cá nhân.
Những con người có sự cựa quậy về cái tôi bản ngã, phản ứng lại lễ giáo
phong kiến; những con người mất dần niềm tin vào những giá trị của đạo đức nhà
Nho, cảm nhận được sự cô độc, lạc lõng đồng thời không ngừng khát khao về tình
yêu và hạnh phúc.
Có thể kể ra một số hình ảnh con người nổi bật như: con người bi kịch, con
người khát vọng trong “Truyện Kiều, “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm”, thơ
Nôm Hồ Xuân Hương…; con người khủng hoảng niềm tin trong thơ chữ Hán
Nguyễn Du, thơ Cao Bá Quát; con người tự phản tỉnh trong “Cung oán ngâm”, thơ
Nguyễn Công Trứ….
Riêng đối với văn học trung đại con người cá nhân cũng được thể hiện ở
mức độ đậm nhạt và qua nhiều bình diện khác nhau. Cụ thể, ý thức về con người
cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam trải qua hai giai đoạn với những hình
thái khác nhau. Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII về cơ bản con người cá nhân được

chồng nhưng đề là lẽ, để đến cuối cùng vẫn sống một mình, cô độc.
- Hồ Xuân Hương xinh đẹp, thông minh đi niều nơi, giao thiệp với rộng
(quen biết nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Du).
- Con người bà phóng túng, tài hoa, có cá tính mạnh mẽ, sắc sảo.
* Sự nghiệp văn học
Tác phẩm chính
- Sáng tác của Hồ Xuân Hương gồm cả chữ Nôm và chữ Hán.
- Theo giới nghiên cứu hiện có khoảng trên dưới 40 bài thơ tương truyền là
của Hồ Xuân Hương.
- Nữ sĩ còn có tập thơ Lưu hương kí (phát hiện năm 1964) gồm 24 bài chữ
Hán và 26 bài chữ nôm.
Phong cách nghệ thuật
- Trong lịch sử văn học Việt Nam, Hồ Xuân Hương là hiện tượng rất độc
đáo: nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm đà chất văn học
dân gian từ đề tài, cảm hứng đến ngôn ngữ, hình tượng.
- Nổi bật trong sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương là tiếng nói thương cảm đối
với người phụ nữ, là sự khẳng định, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ
=> Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa Thơ Nôm”.
* Vị trí và tầm ảnh hưởng của tác giả
- Nét phóng túng và tiềm ẩn trong thơ của Hồ Xuân Hương luôn gây nguồn
cảm hứng vô tận cho hậu thế.
b. Con người cá nhân bản năng trong thơ Hồ Xuân Hương.
Con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương được thể hiện một cách toàn
diện và sâu sắc.
- Con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương là con người có cái “tôi” ý
thức về mình, cá tính và đầy bản lĩnh.
- Con người cá nhân bản năng đã trở thành hình tượng điển hình, xuất hiện
xuyên suốt trong các tác phẩm thơ Nôm của bà. Một con người hội tụ đầy đủ vẻ
đẹp từ hình thể đến tâm hồn, và nhu cầu trần tục rất con người:
“Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,



phải
thì thắm lại,

như lá, bạc

Đừng xanh
như vôi.”
(Mời trầu)

Cách
đáo với “cau
“trầu hôi” là
thành, trân
phát từ một
khát hạnh
đôi. Xuân
không chỉ là
nữ tài năng,
người chân
sống
thật

mời trầu độc
nho nhỏ”,
lời mời chân
trọng xuất
trái tim khao
phúc

kích quan niệm cố hữu để đòi quyền tự do cho con người trong đó có người phụ
nữ.
c. Con người cá nhân trong bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương
* Giới thiệu bài thơ
- Bài thơ Tự tình 2 nằm trong chùm thơ Tự tình gồm 3 bài của Hồ Xuân
Hương Chùm thơ “làm nên tiếng lòng chân thật của người đàn bà tự nói về tình
cảm bản thân của đời mình trong văn học cổ điển Việt Nam” (Xuân Diệu).
* Con người cá nhân thể hiện ở nội dung.
Một Xuân Hương cô đơn, tủi hổ, bẽ bàng trước cuộc đời (trong hai câu đề):
– Đêm khuya: là khoảng thời gian con người đối diện với chính mình trong
những suy tư, trăn trở về cuộc đời, số phận. Đồng thời nó cũng gợi lên không gian
vắng vẻ, yên tĩnh.
- Từ láy “ văng vẳng”: càng làm cho không gian thêm quạnh hiu, gợi cảm
giác cô đơn, lẻ loi của nhân vật trữ tình.
- Tiếng “trống canh dồn”: báo hiệu bước đi dồn dập, gấp gáp của thời gian.
Bước đi ấy kéo theo tuổi trẻ, nhan sắc tàn phai mà tình duyên lỡ dở, khiến cho
nhân vật trữ tình rơi vào tâm trạng lo âu, rối bời.
- “Trơ”: cô đơn, trơ trọi, tủi hổ, trơ lì, như thách thức cùng tạo hóa.
17


- Cách dùng từ “cái hồng nhan”: cụ thể hóa, đồ vật hóa, rẻ rúng hóa cuộc đời
của chính mình.
- Nghệ thuật đối lập (cái hồng nhan >< nước non) và đảo ngữ (đặt từ “trơ”
lên đầu câu): nhấn mạnh sự bẽ bàng, phẫn uất và sự bền gan thách đố cùng số phận
của người nữ sĩ.
=> Hai câu thơ đầu là cảm giác cô đơn trống vắng trước vũ trụ, tủi hổ bẽ
bàng trước cuộc đời, đồng thời thể hiện ý thức cá nhân cao độ của nhân vật trữ
tình.
Một Xuân Hương xót xa cho duyên phận dở dang,lỡ làng (trong hai câu

18


- Câu thơ nát vụn ra, vật vã đến nhức nhối vì cái duyên tình hẩm hiu, lận đận
của nhà thơ. Càng gắng gượng vươn lên càng rơi vào bi kịch.
=> Hai câu thơ thể hiện tâm trạng ngán ngẩm, buông xuôi, Xuân Hương nỗ
lực kiếm tìm hạnh phúc nhưng cuối cùng vẫn đắng cay chấp nhận thua cuộc.
* Con người cá nhân thể hiện ở nghệ thuật.
- Thơ đường luật đã được Việt hóa bằng thứ ngôn ngữ bình dân, tự nhiên, đa
nghĩa.
+ Sử dụng các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc, đường nét với sắc thái
đặc tả mạnh: những động từ chỉ tình thái (dồn, trơ, xế, xiên ngang, đâm toạc,…),
những tính từ chỉ trạng thái (say, tỉnh, khuyết, tròn,…).
+ Phối hợp, tổ chức ngôn ngữ một cách sáng tạo: nghệ thuật đối, đảo ngữ,
cách ngắt nhịp,…
=> Bằng cách sử dụng, tổ chức ngôn ngữ sáng tạo, tài tình, Hồ Xuân Hương
đã bộc lộ được tâm trạng bất mãn với cuộc đời, số phận và niềm khát khao hạnh
phúc lứa đôi.
- Hình ảnh giàu sức gợi (trăng, rêu, đá…) có khả năng diễn đạt những biểu
hiện phong phú, tinh tế của tâm trạng.
- Giọng điệu với đầy đủ các sắc thái tình cảm: ngậm ngùi, ai oán, tủi hổ,
phiền muộn, bực dọc, phản kháng và cuối cùng là chua chát, chán chường.
d. Đánh giá
- Từ ngôn ngữ đến hình tượng nghệ thuật trong thơ, Hồ Xuân Hương đã thể
hiện cái tôi cá nhân hết sức độc đáo, mới mẻ, đầy bản lĩnh.
- Xuân Hương đã đi từ nghịch cảnh riêng để nói hộ tâm tư, nỗi lòng của
những người phụ nữ trong xã hội phong kiến bất công. Vì vậy, tiếng thơ của bà vừa
là lời than thân trách phận, vừa là tiếng nói tố cáo phản kháng đòi quyền hạnh phúc
cho người phụ nữ, vừa là lời trân trọng vẻ đẹp của họ.
- Đằng sau những tiếng nói đả kích với giọng điệu mỉa mai là một tâm hồn

- Ông là người kiên quyết bảo vệ trật tự xã hội phong kiến vì thế ông có
nhiều công trạng đối với nhà Nguyễn trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa (chủ
yếu là của nông dân) chống lại triều đình.
- Ngược lại trong thời gian làm Dinh điền sứ ở Thái Bình và Ninh Bình ông
đã chiêu mộ nông dân lưu vong ở các nơi đến để khai khẩn đất hoang ở hai tỉnh
này và đã lập nên hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình).
Hai việc làm này mới nhìn vào có vẻ trái ngược nhau nhưng trong thâm tâm,
trong nhận thức bao giờ Nguyễn công Trứ cũng đinh ninh rằng việc làm của ông là
trên vì vua, dưới vì dân.
* Sự nghiệp sáng tác
- Sáng tác của Nguyễn Công Trứ hầu hết bằng chữ Nôm và bị thất lạc nhiều.
Hiện nay sưu tầm được khoảng 150 bài gồm thơ, ca trù, phú.
- Ngoài ra ông còn có một số tác phẩm thơ văn chữ Hán.
- Thơ văn ông bao hàm nội dung khá phức tạp, kết tinh trạng thái ý thức của
một thế hệ nhà nho như Nguyễn Công Trứ. Nhưng tổng quát, thơ ông tập trung vào
ba chủ đề chính:
+ Chí nam nhi.
+ Cái nghèo và thế thái, nhân tình.
+ Triết lí hưởng lạc.
- Đặc điểm nghệ thuật:
+ Hoạt động thơ văn không phải là hoạt động chính, hoạt động chủ yếu của
cuộc đời Nguyễn Công Trứ (hoạt động chính là quân sự, chính tri, kinh tế). Thơ
20


văn cũng chỉ nhằm phục vụ cho sự nghiệp kinh bang tế thế của ông. Vì thế nhà thơ
ít chú trọng gia công về nghệ thuật nên thơ ông có cái mộc mạc, nôm na.
+ Ông rất kiên trì sáng tác chữ Nôm.
+ Nhà thơ thành công nhất với thể ca trù (là loại bài hát phổ nhịp cho các cô
đào hát trong các hành viện), ông nâng nó thành một thể thơ dân tộc độc đáo.

dưới hình thức ngôn ngữ nhà nho, Nguyễn Công Trứ đã diễn đạt một ý thức cá
nhân mới – thích chí, hành lạc.
Trong bài Chí khí anh hùng, cái nổi lên hàng đầu là một vũ trụ dọc ngang,
ngang dọc, tự do, không quân thần, cương thường, đối diện với trang nam nhi hùng
tâm tráng chí. Hầu như ngoài cái ta của nhà thơ và vũ trụ ra không còn có gì khác
nữa. Những nợ tang bồng, chí nam nhi, khát vọng như cánh buồm giữa trận cuồng
phong, xẻ núi lấp sông,… không còn mang ý vị của câu thơ Phạm Ngũ Lão (1255
– 1320) : “Nam nhi vị liễu công danh trái – Tu thính nhân gian thuyết Vũ
21


hầu” (Thuật hoài), mà chỉ là ý vị cá nhân : lập công danh cho mình, tự khẳng định
mình trong vận hội chung – “Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”. Đây quả là một
tư tưởng mới mẻ của con người thời đại.
Công danh là một phạm trù lưỡng tính, vừa mang nội dung quốc gia xã hội,
vừa mang nội dung cá nhân. Từ xưa đã nhiều trang anh hùng hào kiệt sát thân để
thành danh. Lưu danh là in dấu của mình vào lịch sử, vào nơi bất tử : “Nhân sinh
thế thượng thuỳ vô tử – Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” (Người ở trên đời ai là
không chết – Để lại tấm lòng son soi vào sách sử – Chí nam nhi). Lưu danh là hình
thức tự khẳng định cao nhất của cá nhân, trước hết là cá nhân lỗi lạc. Nguyễn Công
Trứ đã ý thức rõ rệt : “Đã mang tiếng ở trong trời đất – Phải có danh gì với núi
sông”, “Không công danh thì nát với cỏ cây”. Ông còn nói thích công danh cũng là
đặc tính của con người, hoạ may chỉ có hoá công mới không có ý thức công danh.
Nguyễn Du trước đó cũng đã nói “Công danh ai dứt lối này cho qua…“.
Chí công danh có thể tầm thường, mà có thể không tầm thường. “Danh bất
phù thực” là tầm thường, đốt đền để thành danh là tầm thường, nhưng lập nên công
nghiệp là cái danh cao cả, chính đáng. Nguyễn Công Trứ muốn nên danh trong sự
nghiệp dân giàu, nước yên nên ông hăng hái theo đuổi, không trốn tránh, ẩn dật.
Nhưng điều thú vị là Nguyễn Công Trứ không chỉ có chí công danh. Hẳn
ông biết rõ công danh là đường vinh nhục. Nguyễn Trãi xưa đã nói : “Dưới công

đôi cô gái trẻ là hành động chướng tai gai mắt đối với thói tục, là một sự thách
thức, buộc người đời phải thừa nhận cái “ngất ngưởng” của cá nhân. Cái ý nghĩa
đời người của cá nhân, chỉ có cá nhân biết :
 Thú yên hà trời đất để riêng ta,
Nào ai ai biết chăng là.
 Trần ai ai dễ biết ai
 Trần ai ai có kém ai
 Thú sao dễ mấy ai hay
Nếu so chữ “ai” Nguyễn Du hay dùng trong Truyện Kiều thì Nguyễn Công
Trứ nói đến “ai” để khẳng định mình là một cá nhân hơn người, hết sức riêng tư,
không được và không cần người đời biết, không khớp với khuôn thước có sẵn.
Tóm lại, với Nguyễn Công Trứ, ý thức cá nhân được khẳng định với ba
phạm trù : công danh, hưởng lạc và cái ta hơn người, cái ta riêng tư, tự hào, tự cho
là đủ, tự trào. Chúng tạo cho con người một sự hài hoà, tự tin, phong lưu, tự do,
đứng trên mọi được mất, khen chê. Đó là bước phát triển cao nhất của ý thức cá
nhân mang nội dung phong phú, hài hoà trong văn học Việt Nam.
c. Con người cá nhân Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng:
* Giới thiệu bài thơ
Bài ca ngất ngưởng thuộc thể hát nói, được sáng tác sau 1848, khi ông đã
cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do nhàn tản. Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ
sống của Nguyễn Công Trứ giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm đắng cay
của cuộc sống quan trường. Bài thơ là sự ý thức rất rõ tài năng và nhân cách sống
của một nhà nho có tài, có nhân cách.
* Biểu hiện của con người cá nhân Nguyễn Công Trứ trong bài thơ.
Con người cá nhân với lối sống Ngất ngưởng
–Từ ngất ngưởng xuất hiện 4 lần: câu 4,8,12 và câu cuối.
–Tư thế: một con người, một sự vật có chiều cao hơn con người hoặc sự vật khác
nhưng ngả nghiêng trực đổ nhưng ko đổ. Gây cảm giác khó chịu cho người xung
quanh, như trêu chọc, trêu ngươi.
–Thái độ sống:

Giọng điệu: lúc khoe khoang, phô trương; lúc tự cao tự đại, khinh đời.

NCT muốn chơi ngông với thiên hạ dựa trên tài năng và sự nghiệp của bản
thân. Khoe khoang chỉ là cái vỏ để dấu bên trong một cái tôi ý thức về tài năng và
danh vị của bản thân
- Nguyễn Công Trứ đã khoe hết, phô diễn hết những cái danh vị của bản
thân mình, khoe hết cả cái tài văn võ song toàn của bản thân với một thái độ đầy tự
hào của một con người ý thức rõ tài năng, danh vị của mình. Những cái tài mà ông
khoe ra với mọi người mang một nội hàm ý nghĩa khá rộng, xét đến cùng nó gắn
với chuyện kinh bang tế thế. Những gì ông kể, từ chức "Hi Văn tài bộ" rồi "Thủ
khoa", "Tham tán", "Tổng Đốc đông",...đều là những danh tước, những địa vị,
những chiến tích mà ông đã từng tham gia và để lại những tiếng vọng lớn cho đời
sau. Những gì mà ông khoe không phải là cách nói sáo rỗng mà nó đều là sự thật
bởi lẽ ông là một người thực tài, thực danh trong suốt cuộc đời của mình. Và như
vậy, việc ông thị tài khoe tài không chỉ là cách ông thể hiện cái ngông, cái ngất
ngưởng của mình mà hơn thế nữa đấy còn là cách thị tài, khoa tài của một con
người tự ý thức một cách rõ nét về tài năng và những cống hiến, nỗ lực của bản
thân mình.
Cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ còn thể hiện ở phong cách sống
khác đời, khác người khi ông "gác gươm rửa kiếm" để tìm về với lối sống
khác giữa cuộc đời - lối sống trần tục nhưng tự do, phóng túng.

Ko yến tiệc linh đình, tặng phẩm vua ban mà thay vào đó là: cưỡi bò cái về
hưu, đeo đạc ngựa cho bò, đi chùa lại mang theo một vài cô đầu khiến Bụt cũng
phải cười => làm việc trái khoáy, khác người, như muốn trêu ngươi người khác.
24



Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng: thủ pháp liệt kê khiến mạch thơ trở nên dồn

Thêm vào đó, cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ còn được thể hiện rõ nét
ở bản lĩnh sống của một con người tài năng, không để ý, quan tâm tới việc được mất, khen - chê.
Được mất dương dương người thái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
- Với hai câu thơ, nhưng dường như Nguyễn Công Trứ đã thể hiện một cách rõ nét
trước mắt bạn đọc bản lĩnh sống của mình. Dẫu ông có một phong cách sống, một
lối sống khác người, khác đời nhưng ông chưa một lần quan tâm, để ý tới việc
người đời sẽ khen chê mình như thế nào và mình có thể dành được hay mất đi
những gì. Thái độ sống ấy của Nguyễn Công Trứ cho thấy một bản lĩnh sống vững
vàng, không màng danh lợi của ông. Hơn nữa, Nguyễn Công Trứ là một nhà nho
chân chính bởi vậy tư tưởng nhà Nho vẫn luôn sống mãi trong ông, đó chính là tư
tưởng trung quân ái quốc như ông đã từng nói:
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.
Và để rồi, đến cuối cùng ông tổng kết lại cuộc đời mình, tổng kết lại cái ngông của
mình bằng một câu thơ chắc nịch đầy vẻ ngông nghênh, ngạo nghễ, đầy thách thức.
Trong triều ai ngất ngưởng được như ông
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status