LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép
của ai. Trong nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, sách báo, thông
tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham
khảo của luận văn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Quốc Hưng, người đã tận tình
hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ tôi về chuyên môn trong suốt thời gian hoàn thành
luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo đang công tác tại Khoa Kinh tế và
Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu để tôi thực hiện tốt luận văn này. Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn các
cán bộ đang làm việc tại Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi trong
quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất.
Trong quá trình thực hiện, luận văn khó tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương
công chứng ................................................................................................................28
1.4.2. Chất lượng và đạo đức nghề nghiệp của Công chứng viên ............................30
1.4.3. Hiệu quả hoạt động của các cơ quan QLNN về công chứng. .........................31
1.4.4. Tình hình kinh tế - xã hội và dân cư trên địa bàn ...........................................32
iii
1.5. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng................... 33
1.5.1. Nguyên tắc bảo đảm sự quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của các tổ
chức hành nghề công chứng......................................................................................... 33
1.5.2. Nguyên tắc bảo đảm sự độc lập và tự chịu trách nhiệm của Công chứng viên
trong thực hiện hoạt động công chứng ..................................................................... 33
1.5.3. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa trong quản lý hoạt động của
các tổ chức hành nghề công chứng ............................................................................... 33
1.6. Các bài học kinh nghiệm về công tác QLNN đối với các tổ chức hành nghề công
chứng ........................................................................................................................... 34
1.6.1. Kinh nghiệm về công tác QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng
tại một số nước trên thế giới ..................................................................................... 34
1.6.2 Kinh nghiệm về công tác QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng tại
một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam ........................................................................... 36
1.7. Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu ............................................. 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .............................................................................................. 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC
HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH TỈNH THÁI NGUYÊN 40
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên ......................... 40
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành
nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ........................................................ 45
2.2.1. Hệ thống các văn bản QPPL liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với
các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh ................................................ 45
2.2.2. Chất lượng đội ngũ công chứng viên trên địa bàn tỉnh................................... 46
KIẾN NGHỊ .................................................................................................................101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................102
v
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên ........................................................... 40
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
`
Bảng 2.1. Quy hoạch phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên ..................................................................................................................53
Bảng 2.2. Danh sách các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ......54
Bảng 2.3. Số liệu thu phí công chứng và nộp ngân sách nhà nước tại các tổ chức hành
nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2014 .........................................59
Bảng 2.4. Số liệu thu phí công chứng và nộp ngân sách nhà nước tại các tổ chức hành
nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2015 .........................................60
Bảng 2.5. Số liệu thu phí công chứng và nộp ngân sách nhà nước tại các tổ chức hành
nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2016 .........................................61
vii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
Xã hội chủ nghĩa
viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mỗi giai đoạn xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thì hoạt động
công chứng đều luôn gắn liền với đời sống của mỗi người dân Việt Nam thông qua các
hoạt động về mua bán, chuyển giao bất động sản, kinh doanh, lao động, các quan hệ
gia đình về thừa kế, phân chia tài sản...
Trong cơ chế hành chính, bao cấp trước đây, nhà nước quản lý và điều hành nền kinh
tế đất nước theo phương thức mệnh lệnh hành chính. Các giao dịch dân sự hầu như
không phát triển, chủ yếu dựa trên sự tin cậy, các thỏa thuận được thực hiện phần lớn
bằng lời nói, viết tay hoặc do cơ quan hành chính nhà nước thị thực. Vì vậy, quản lý
nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về công chứng nói riêng chưa được quan tâm
một cách thấu đáo, làm ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động giao dịch dân sự,
kinh tế và xã hội.
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm
gần đây đã làm gia tăng các giao dịch dân sự, đòi hỏi nhà nước phải có những biện
pháp hữu hiệu để quản lý các giao dịch dân sự, kinh tế, cũng như bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân, góp
phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội.
Cùng với sự ra đời của Luật Công chứng năm 2006 là sự xuất hiện của các tổ chức
hành nghề công chứng (gồm phòng công chứng do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định thành lập và các Văn phòng công chứng (VPCC) do công chứng viên thành lập).
Đặc biệt từ khi Luật Công chứng năm 2014 được ban hành (thay thế Luật Công chứng
năm 2006) thì các quy định đối với hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng,
của công chứng viên ... đã có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu
quản lý của nhà nước đối với hoạt động công chứng cũng như đáp ứng yêu cầu công
thông qua ban hành văn bản quản lý, tổ chức thực hiện, thanh tra kiểm tra trên thực tế
tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Chính vì lý do trên tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công
tác Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế.
2
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề
công chứng và thực tiễn quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên để chỉ ra được các mặt đạt được, chưa đạt được đồng
thời tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối
với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phương pháp so sánh,
phương pháp đánh giá, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng và thực
tiễn quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên.
b. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề
công chứng từ khi có Luật Công chứng năm 2014;
Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công
chứng trong thời gian tới.
Về không gian: Nghiên cứu các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái
hành nghề công chứng
4
Chương 2: Thực trạng QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
1.1. Khái niệm, chức năng, vai trò, đặc điểm về công chứng và các tổ chức hành
nghề công chứng
1.1.1. Tổng quan về các mô hình công chứng trên thế giới
Công chứng đã có lịch sử hình thành, phát triển hàng ngàn năm và gắn bó chặt
chẽ với đời sống dân sự. Cho đến nay, công chứng tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên
thế giới và hình thành nên ba hệ thống công chứng sau:
Mô hình công chứng La tinh tương ứng với hệ thống luật La Mã - còn gọi là mô hình
pháp luật dân sự (Civil Law); Ở các nước theo hệ La tinh, Công chứng viên được Nhà
nước uỷ thác một phần quyền lực và trao cho con dấu riêng có khắc tên công chứng
viên đó. Với tư cách là uỷ viên công quyền, công chứng viên có nhiệm vụ cung cấp
dịch vụ công, thể hiện ở việc chính họ được người đứng đầu Nhà nước hoặc Bộ trưởng
Tư pháp bổ nhiệm và được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Với tư cách là người bảo vệ quyền lợi của các cá nhân và an toàn pháp lý
của các quan hệ hợp đồng, Nhà nước uỷ quyền cho công chứng viên-một nhà chuyên
nghiệp do chính Nhà nước bổ nhiệm và giám sát để thực hiện chức năng công vụ đó.
đã thấy những viên thư lại tiến hành soạn thảo các khế ước (hợp đồng) theo một trình
tự, thủ tục chặt chẽ, khó có thể bị thay đổi về sau, khác hẳn với những khế ước không
thành văn theo truyền thống (giao kết miệng). Một số tác giả nghiên cứu về công
chứng cho rằng, có hai loại hình thực hiện công chứng là tư chứng thư và công chứng
thư.
Tư chứng thư (chỉ người làm chứng tự do): Trong nhân dân ta tồn tại một truyền thống
là mỗi khi có các giao dịch quan trọng đều phải nhờ những người có uy tín trong gia
tộc, trong thôn xóm đứng ra làm chứng để xác nhận. Khi có tranh chấp xảy ra, các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền dựa vào hình thức chứng nhận trên để chứng minh sự
thật, lấy đó làm cơ sở để giải quyết vụ việc tranh chấp. Những văn tự được lập ra do
các cá nhân công dân thực hiện và có người thứ ba làm chứng với tư cách cá nhân nên
được gọi là "tư chứng thư". Như vậy, cho đến nay vẫn tồn tại một loại hoạt động
chứng nhận, xác nhận, cung cấp chứng cứ của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nhằm
phản ảnh một sự kiện, hiện tượng mà họ cho là có thật, ví dụ: Cung cấp chứng cứ cho
7
Tòa án, xác nhận thời gian công tác, làm chứng cho việc giao tiền mua bán nhà… Đây
là một loại chứng nhận vẫn tồn tại và có ý nghĩa thiết thực trong đời sống xã hội,
nhưng không phải là hoạt động công chứng với danh nghĩa là một tổ chức được nhà
nước công nhân hoặc cho phép hoạt động.
Công chứng thư (do nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền): Đây là hoạt động chứng
nhận, chứng thực, xác nhận có tính chất công, phục vụ lợi ích công, do nhà nước trực
tiếp hoặc gián tiếp quản lý, vì vậy được gọi là công chứng. Tổ chức công chứng và
người thực hiện hành vi công chứng được nhà nước ra quyết định công nhận và cho
phép hoạt động nhằm bảo đảm tính xác thực trong hoạt động giao dịch và các quan hệ
khác theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của công dân, tổ chức, được thể
hiện bằng các hình thức nhà nước trực tiếp thực hiện (công chứng nhà nước) hoặc nhà
nước ủy quyền (công chứng tự do).
Luật Công chứng năm 2014 quy định: Công chứng là việc công chứng viên của một tổ
nếu các giao dịch đó đã được công chứng.
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm về các tổ chức hành nghề công chứng
Theo khoản 5 điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định: Tổ chức hành nghề công
chứng bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng.
1.1.3.1. Khái niệm phòng công chứng
Hệ thống công chứng nhà nước của Việt Nam được hình thành trên cơ sở Thông tư số 574/
QLTPK ngày 10/ 10/ 1987 của Bộ Tư pháp về công tác công chứng nhà nước và Thông tư
số 858/ QLTPK ngày 15/ 10/ 1987 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn thực hiện các việc công
chứng; Quyết định số 90/ HĐBT ngày 19/ 7/ 1989 của Hội đồng Bộ trưởng về con dấu
của phòng công chứng nhà nước. Trước khi có các phòng công chứng, mọi việc có tính
chất công chứng đều do ủy ban nhân dân thực hiện theo sắc lệnh số 59/ SL ngày 15/ 11/
1945 về " ấn định thể lệ việc thị thực các giấy tờ" và sắc lệnh số 85/ SL ngày 29/ 2/ 1952 "
Ban hành thể lệ trước bạ về các việc mua bán, cho và đổi nhà cửa, ruộng đất" do Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký ban hành.
9
Như vậy, suốt thời gian dài hơn 40 năm kể từ khi thành lập nước, người dân Việt Nam
chỉ biết đến hoạt động thị thực của các cấp chính quyền và hình thành ý thức cho đó là
hoạt động của Nhà nước, chỉ có thể do Nhà nước thực hiện.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xóa bỏ triệt để cơ chế kế
hoạch hóa tập trung, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường với việc thừa nhận sự tồn
tại của đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế, đặc biệt là việc thừa nhận sự tồn tại
của thành phần kinh tế tư nhân đã khơi dậy mọi tiềm năng của xã hội. Kinh tế xã hội
đã có nhiều biến đổi sâu sắc, các nhu cầu, lợi ích hợp pháp của cá nhân, của xã hội
được tôn trọng. Trong điều kiện đó, các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại ngày
càng trở nên sống động và phát triển mạnh mẽ, đặt ra nhu cầu về một thiết chế công
chứng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sự an toàn pháp lý cho
các chủ thể tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại. Thiết chế công chứng của
trong quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay, là bước
ngoặt quan trọng trong lĩnh vực công chứng. Luật Công chứng là cơ sở pháp lý để nhà
nước quản lý các giao dịch dân sự và thúc đẩy chủ trương xã hội hóa hoạt động công
chứng.
Điều 22. Luật Công chứng năm 2014 quy định:
1. Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và
các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh.
Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên. Văn phòng
công chứng không có thành viên góp vốn.
2. Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng.
Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng
công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên.
Từ quy định của pháp luật trên đây, có thể hiểu một cách khái quát: Văn phòng công
chứng là doanh nghiệp hoạt động theo loại hình công ty hợp danh, trong đó có ít nhất
11
hai công chứng viên hợp danh trở lên thành lập, Văn phòng công chứng không có
thành viên góp vốn, thực hiện các hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật.
Có thể nói, VPCC ra đời đánh dấu một bước phát triển xã hội hóa, xoá bỏ độc quyền
của nhà nước trong lĩnh vực công chứng. Trong quá trình đó, nhà nước rút dần khỏi
việc trực tiếp cung ứng dịch vụ công chứng, tiến tới chuyển giao hẳn cho các chủ thể
phi nhà nước thực hiện, nhà nước chỉ đóng vai trò duy nhất là người thực hiện QLNN.
Trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, để vừa đảm bảo sự quản lý của nhà nước
đối với hoạt động công chứng, thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội đồng thời tiến
đến xu hướng xã hội hóa các hoạt động dịch vụ công cũng như xã hội hóa các đơn vị
sự nghiệp công lập thì việc duy trì song song hai hệ thống Phòng Công chứng nhà
nước và các VPCC đặt dưới sự quản lý bằng pháp luật của nhà nước là điều cần thiết.
Mặc dù còn nhiều khó khăn trong tổ chức, hoạt động, song VPCC thực sự đã góp phần
pháp có thể lập đề án đề nghị UBND tỉnh quyết định giải thể hoặc chuyển Phòng Công
chứng thành Văn phòng Công chứng.
Phòng công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công
chứng viên hành nghề tại tổ chức mình;
Phòng công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá
nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là
cộng tác viên của phòng mình gây ra trong quá trình công chứng.
Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải
hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền
bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn
trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
c. Nguồn tài chính của Phòng công chứng
Phòng Công chứng hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính và biên chế theo quy
định của Chính phủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Kinh phí của Phòng Công
chứng từ nguồn ngân sách nhà nước cấp (đối với đơn vị tự chủ một phần kinh phí hoặc
13
đơn vị do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động), từ nguồn thu phí
công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác, bao gồm:
Phí công chứng: Là phí được áp dụng đối với việc công chứng các hợp đồng, giao
dịch, bản dịch, nhận lưu giữ di chúc, cấp bản sao văn bản công chứng, phí chứng thực
bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản theo quy định của Luật
công chứng.
Mức thu phí công chứng được áp dụng thống nhất đối với Phòng Công chứng và
VPCC. Theo quy định tại Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài
chính thì Phòng công chứng tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư thì được trích
75% số tiền phí thu được để trang trải chi phí phí cho các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP. Nộp 25% số tiền phí thu được còn lại vào
ngân sách nhà nước; Phòng công chứng tự bảo đảm một phần chi thường xuyên thì
thiết duy trì Phòng công chứng thì Sở Tư pháp lập đề án chuyển đổi Phòng công
chứng thành Văn phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết
định”.
Như vậy với quy định trên có thể thấy rõ quan điểm của nhà nước trong việc chủ
trương thực hiện xã hội hóa công chứng, giải thể hoặc chuyển đổi những Phòng Công
chứng hoạt động không hiệu quả hoặc không cần thiết duy trì sang hình thức hoạt
động của Văn phòng Công chứng. Việc này sẽ làm giảm gánh nặng về biên chế và
kinh phí cho ngân sách nhà nước.
1.1.3.4. Đặc điểm của Văn phòng công chứng
a. Về tổ chức của Văn phòng công chứng
Theo quy định tại điều 22 của Luật Công chứng năm 2014, Văn phòng công chứng
được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp
luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh; Văn phòng công chứng phải
có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên. Văn phòng công chứng không có thành
viên góp vốn.
15
Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng.
Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng
công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên.
Văn phòng công chứng phải có trụ sở đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định.
Văn phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự
chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn
thu hợp pháp khác.
b. Về hoạt động của Văn phòng công chứng
Hoạt động của VPCC vừa mang tính công quyền (nhân danh nhà nước vì lợi ích Nhà
nước), vừa mang tích chất dịch vụ công (nhằm mục đích phục vụ ngày càng tốt hơn
cho lợi ích của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu công chứng, trên cơ sở phù hợp với lợi
VPCC. Theo quy định tại Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài
chính thì phí công chứng, phí chứng thực thu được tại VPCC là khoản thu không thuộc
ngân sách nhà nước. Tiền phí thu được là doanh thu của đơn vị thu phí. Đơn vị thu phí
có quyền quản lý, sử dụng số tiền phí thu được sau khi đã nộp thuế theo quy định của
pháp luật. Hàng năm, đơn vị thu phí phải thực hiện quyết toán với cơ quan thuế đối với
số tiền phí thu được theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.
Thù lao công chứng: Là khoản tiền do VPCC thu từ việc soạn thảo hợp đồng, giao
dịch, đánh máy, sao chụp và các việc khác liên quan đến công việc công chứng theo
yêu cầu của người yêu cầu công chứng.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành mức trần thù lao công chứng áp dụng đối với các
tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương. Tổ chức hành nghề công chứng xác
định mức thù lao đối với từng loại việc không vượt quá mức trần thù lao công chứng
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và niêm yết công khai các mức thù lao tại trụ sở
của mình.
Các nguồn thu khác: Là khoản tiền do VPCC thu từ việc người yêu cầu công chứng đề
nghị xác minh, giám định hoặc thực hiện công chứng ngoài trụ sở của VPCC.
17