Đánh giá hiện trạng nghề nuôi ngao ven biển tại xã nam thịnh, huyện tiền hải, tỉnh thái bình - Pdf 65

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Đắc Thuyết. Các nội dung và kết quả nghiên
cứu trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào
trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ công việc phân tích,
nhận xét, đánh giá được chính tôi thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ
trong phần tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng số liệu của các tác giả khác, cơ
quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2018.
Sinh viên thực hiện

Lương Thị Tuyết

1


LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn các
thầy cô giáo công tác và làm việc tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi
trường Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Khoa học biển và Hải đảo
đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt kiến thức và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong
suốt những năm học tập tại trường.
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các cán bộ UBND xã Nam
Thịnh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đặc biệt cảm ơn anh Phạm Văn Chế cán bộ phát triển thủy sản và lâm sinh cùng người dân địa phương đã cung
cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ em trong suốt quá trình tìm hiểu,
nghiên cứu tại địa bàn.
Đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Bùi Đắc Thuyết, người
đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình định hướng, hướng dẫn và chỉ
bảo giúp em trong suốt thời gian thực tập cũng như từng bước hoàn thành

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU....................................................................4
1.1
1.2
1.3

Tình hình nuôi ngao ở Việt Nam.............................................................4
Tình hình nuôi ngao tại Thái Bình..........................................................6
Đặc điểm sinh học của ngao Trắng (hay ngao Bến Tre)..........................8

1.4

Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Nam Thịnh, huy ện Tiền H ải,

tỉnh Thái Bình....................................................................................................10
1.4.1 Đặc điểm tự nhiên...............................................................................10
1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội...................................................................14
CHƯƠNG II. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU.... 16
2.1
2.1.1
2.1.2
2.2
2.2.1
2.2.2
2.3
2.3.1
2.3.2

Địa điểm và thời gian nghiên cứu.........................................................16
Địa điểm nghiên cứu.............................................................................16

3.3.1 Đối với địa phương................................................................................42
3.3.2 Đối với các hộ nuôi ngao.......................................................................46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................................ 49
1.
2.

Kết luận.................................................................................................49
Kiến nghị...............................................................................................51

TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................... 53
PHỤ LỤC

4


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH

: Biến đổi khí hậu

ĐVT

: Đơn vị tính

GTSX

: Giá trị sản xuất

KHKT



DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Ngao Bến Tre (Meretrix lyrata)....................................................................8
Hình 2.1: Xã Nam Thịnh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.................................11
Hình 3.1: Nguồn giống ngao của các hộ nuôi tại xã Nam Thịnh.....................19
Hình 3.2: Diện tích nuôi ngao giống tại xã Nam Thịnh.......................................21
Hình 3.3: Diện tích nuôi ngao thương phẩm tại xã Nam Thịnh.....................22
Hình 3.4: Sản lượng và giá trị sản xuất ngao giống tại xã Nam Th ịnh........24
Hình 3.5: Sản lượng và giá trị sản xuất ngao thương phẩm............................25
Hình 3.6: Thị trường tiêu thụ ngao thương phẩm (%) của các nông hộ ở
xã Nam Thịnh........................................................................................................................ 27
Hình 3.7: Cách tiếp cận thị trường của các nông hộ nuôi ngao ở xã Nam
Thịnh........................................................................................................................................ 28
Hình 3.8: Kinh nghiệm ương nuôi ngao của các nông hộ ở xã Nam Thịnh.
30

6


Hình 3.9: Biến động diện tích nuôi ngao của các nông h ộ ở xã Nam Thịnh
trong thời gian tới.............................................................................................................. 35

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, xu hướng nuôi nhuyễn thể ở vùng ven biển Việt
Nam ngày càng phát triển mạnh. Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản, diện
tích và sản lượng nuôi nhuyễn thể trên cả nước đến hết năm 2016 lần lượt đạt

gặp phải không ít khó khăn như: hiện tượng ngao nuôi chết hàng loạt, khó
khăn về nguồn vốn, thị trường tiêu thụ nhiều biến động.... Trước thực trạng
đó, tháng 8/2011 tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể
phát triển nuôi ngao vùng ven biển tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 - 2015 và
tầm nhìn đến năm 2020, trong định hướng có nêu: “Quy hoạch chủ yếu diện
tích nuôi ngao thịt (95% diện tích)... tiến hành cải tạo để chuyên ương ngao
giống, dành một phần diện tích xây dựng khu bảo tồn giống ngao”.
Xã Nam Thịnh, huyện Tiền Hải nằm trong quy hoạch phát triển nghề
nuôi ngao của tỉnh Thái Bình. Từ năm 1989, nghề nuôi ngao nơi đây đã bắt
đầu hình thành, người dân địa phương đã biết dùng lưới khoanh vùng các bãi
ngao giống, chăm sóc để thu hoạch. Ngao từng được ví như nguồn “vàng
trắng” và nghề nuôi ngao được coi là nghề siêu lợi nhuận nhưng đến năm
2013, ngao rớt giá, môi trường nuôi ô nhiễm, dịch bệnh gia tăng khiến người
nuôi gặp không ít khó khăn. Với quyết tâm bám biển, coi nghề nuôi ngao là
nghề mưu sinh, cán bộ và nhân dân xã Nam Thịnh đã từng bước khắc phục
khó khăn, ổn định sản xuất và tập trung phát triển nghề nuôi ngao. Đến nay,
trên địa bàn xã đã có 808ha nuôi ngao bãi triều, năm 2017 cung cấp ra thị
trường hơn 13.000 tấn ngao thương phẩm và hơn 4.000 tấn ngao giống (Ủy
ban nhân dân (UBND) xã Nam Thịnh, 2018).
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng nghề nuôi
ngao ven biển tại xã Nam Thịnh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình” nhằm
đánh giá về hiện trạng nghề nuôi ngao ven biển tại địa phương, làm cơ sở để

2


đề xuất giải pháp góp phần phát triển ổn định nghề nuôi ngao ven biển trên
địa bàn xã Nam Thịnh.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài


TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nuôi ngao ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia ven biển có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển
nghề nuôi nhuyễn thể. Ngoài các điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, Việt
Nam còn sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km với nhiều cửa sông, đầm
phá cùng diện tích bãi triều rộng lớn, rất phù hợp để phát triển nuôi các loài
nhuyễn thể. Do vậy, diện tích và sản lượng nuôi nhuyễn thể trong những năm
gần đây liên tục tăng. Nếu như năm 2013 tổng diện tích nuôi nhuyễn thể trên
cả nước chỉ là gần 41.000ha, sản lượng đạt gần 190.000 tấn thì theo thống kê
mới nhất của Tổng cục Thủy sản, năm 2017 tổng diện tích nuôi nhuyễn thể đã
đạt 47.129ha với sản lượng đạt 294.472 tấn. Ngao là một trong những đối
tượng có sản lượng tăng nhiều nhất trong giai đoạn vừa qua, đã và đang trở
thành đối tượng nuôi chủ lực.
Có khoảng 40 loài thuộc họ ngao phân bố tại nước ta. Loài được lựa
chọn nuôi nhiều nhất là ngao Trắng hay ngao Bến Tre (Meretrix lyrata), tiếp
đó là ngao Dầu (Meretrix meretrix), ngao mật (Meretrix lusoria), ngao Giá
(Tapes literatus).... Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và đặc điểm của từng
vùng mà các địa phương khác nhau sẽ lựa chọn nuôi thả các loài ngao
khác nhau.
Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản năm 2017, trên cả nước có 17 tỉnh
thành đã và đang phát triển nghề nuôi ngao, trải dọc từ Bắc vào Nam gồm:
Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh, Tiền Giang,
Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Trong số đó, Bến Tre là tỉnh
dẫn đầu về diện tích nuôi thả ngao với khoảng 4.000ha (Hiệp hội Chế biến và
Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, 2017), tiếp đó là Trà Vinh với khoảng 3.500ha

4





cung cấp trên 70% tổng nhu cầu giống đảm bảo chất lượng nuôi thương
phẩm. Định hướng đến năm 2030, diện tích và sản lượng nuôi ngao trên cả
nước lần lượt đạt 24.550ha và 393.120 tấn; hoàn thiện hệ thống sản xuất
giống gắn với các vùng nuôi nhuyễn thể (ngao) trọng điểm, tập trung để chủ
động cung cấp con giống đảm bảo chất lượng, số lượng cho nuôi thương
phẩm; khoanh vùng bảo vệ, bảo tồn các giống loài nhuyễn thể (ngao) tự nhiên
đồng thời tổ chức quản lý khai thác sử dụng hiệu quả.
1.2 Tình hình nuôi ngao tại Thái Bình
Thái Bình là tỉnh có diện tích và sản lượng nuôi ngao bãi triều lớn nhất
khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Năm 2017, tổng diện tích nuôi ngao trên
địa bàn tỉnh đạt 3.000ha, tập trung chủ yếu tại các xã Thái Đô, Thái Thượng,
Thụy Trường (huyện Thái Thụy) và xã Đông Minh, Đông Hoàng, Nam Thịnh,
Nam Hưng, Nam Phú (huyện Tiền Hải). Tổng sản lượng ngao toàn tỉnh đạt
90.000 tấn/năm, chiếm 50% sản lượng ngao toàn quốc (Sở Nông nghiệp và
phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình, 2017). Không những được tiêu thụ nội
địa, ngao Thái Bình còn được xuất khẩu sang một loạt các thị trường lớn như:
EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... thu về mỗi năm hàng trăm tỷ đồng.
Sở hữu trên 54 km đường bờ biển, vùng bãi triều rộng khoảng 25.000ha
(trong đó có 6.178ha vùng trung triều và 18.822ha vùng hạ triều), tỉnh Thái
Bình đã tận dụng để phát triển nghề nuôi ngao. Cùng với đó là hệ thống các
cồn, bãi trước cửa sông như những lá chắn giúp giảm thiểu ảnh hưởng tiêu
cực từ sóng, gió biển đến các vùng bãi triều nuôi ngao, hạn chế tối đa tác
động xấu từ các yếu tố ngoại cảnh. Nguồn lực lao động dồi dào vả người dân
địa phương có kinh nghiệm trong ương nuôi ngao cũng góp phần không nhỏ
giúp nuôi ngao trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Bên cạnh những thuận lợi có được, Thái Bình vẫn còn gặp phải nhiều
khó khăn trong quá trình phát triển bởi nghề nuôi ngao dễ bị ảnh hưởng bởi
các yếu tố tự nhiên như nhiệt độ, độ mặn, độ muối... cùng các hiện tượng thời

13.200 tấn, trị giá 128,2 tỷ đồng; sản lượng ngao giống khoảng 4.250 tấn, giá
trị khoảng 92,5 tỷ đồng (UBND xã Nam Thịnh, 2017). Những năm tới, xã

7


Nam Thịnh sẽ tiếp tục chỉ đạo quy hoạch, phân vùng nuôi ngao đồng thời
khuyến cáo, vận động nhân dân cải tạo bãi triều, giảm mật độ nuôi, đảm bảo
phát triển bền vững nghề nuôi ngao; tiếp tục mở rộng diện tích ương ngao
giống, đáp ứng nhu cầu con giống của thị trường trong và ngoài tỉnh.
1.3 Đặc điểm sinh học của ngao Trắng (hay ngao Bến Tre)
Đặc điểm cấu tạo
Ngao Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerbi, 1851) có hai vỏ to bằng nhau,
hình tam giác, dày và chắc. Đỉnh vỏ nhô lên uốn cong về phía bụng. Hai vỏ
gắn với nhau bằng một bản lề, ở mặt lưng có dây chằng để mở vỏ. Mặt vỏ
phồng lên, nhẵn bóng, trên có nhiều vòng sinh trưởng đồng tâm. Mặt trong
của vỏ màu trắng, vết cơ khép vỏ trước nhỏ, hình bán nguyệt; vết cơ khép vỏ
phía sau lớn hơn, hình mặt nguyệt (Chu Chí Thiết, 2008).

Hình 1.1: Ngao Bến Tre (Meretrix lyrata).
(Nguồn: Viện Nông nghiệp và Tài nguyên, 2017).
Phân bố
Ngao Bến Tre (Meretrix lyrata) phân bố chủ yếu ở vùng biển ấm phía
Tây Thái Bình Dương, từ biển Đài Loan đến Việt Nam (Habe, 1966). Là loài

8


động vật thân mềm nhiệt đới nên chúng chủ yếu phân bố ở những vùng có độ
muối dao động từ 0 - 34%0 và nhiệt độ trong khoảng từ 15 - 32 0C. Ngao phân

Thời gian đẻ của ngao cách nhau nửa tháng, có khi một tháng, mỗi đợt kéo
dài khoảng 1 giờ (Chu Chí Thiết, 2005).
Trong điều kiện thuận lợi, sự phát triển từ trứng đến ngao “cám” (25.000
con/kg) là 2 tháng, từ ngao “cám” đến ngao “tấm” (loại 10.000 con/kg) 2
tháng, từ ngao “tấm” đến Ngao “cúc” (loại 800 - 1.000con/kg) là 3 - 5 tháng.
Ngao cúc trở thành ngao giống đạt tiêu chuẩn và được chuyển sang nuôi
thương phẩm, từ ngao giống đến ngao thịt (cỡ 50 con/kg) qua 10 - 11 tháng
nữa. Ngao lớn nhanh vào tháng 4 - 9 và thời gian đầu, sau đó chậm dần.
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Nam Thịnh, huy ện Tiền
Hải, tỉnh Thái Bình.
1.4.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lí
Nam Thịnh là một xã nằm ở phía Nam của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái
Bình; cách trung tâm huyện 15 km và cách trung tâm thành phố 40 km. Nơi
đây có vùng bãi triều rộng 1.700ha thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, đặc biệt
là nuôi ngao.
Xã nằm ở vị trí địa lí có tọa độ 20020’57”Bắc, 106035’47”Đông, bao gồm
5 thôn. Trong đó có hai thôn Quang Thịnh và Đồng Lạc chuyên về hoạt động
khai thác và nuôi trồng thủy sản, 3 thôn Hợp Châu, Thiện Châu và Thiện
Tường nông ngư hỗn hợp.
- Tiếp giáp:
Phía Đông giáp biển Đông
Phía Tây giáp các xã Nam Thắng và Nam Thanh
Phía Nam giáp các xã Nam Hưng và Nam Phú
Phía Bắc giáp các xã Đông Minh và Nam Cường

10


Hình 1.2: Xã Nam Thịnh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

đông nơi đây có độ ẩm khá cao là 86 - 87%, thấp nhất là 82% và cao nhất là
94% ( Mai Thị Yến, 2017). Độ ẩm cao gây ảnh hưởng đến ngành chế biến, đặc
biệt là việc bảo quản các mặt hàng thủy sản khô. Mặt hàng ngao thường được
đông lạnh và xuất khẩu tươi sống nên không bị ảnh hưởng nhiều bởi
độ ẩm.
Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23 - 24 0 C. Số giờ nắng trong
năm: 1600 - 1800 giờ. Độ ẩm tương đối trung bình 85 - 90% (Lâm Quang
Dốc và Tống Thị Bích, 2010).
Thủy văn
Xã Nam Thịnh có sông Lân chảy qua, vùng bãi triều rộng lớn nằm ở hai
bên lạch Cửa Lẹ rất thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản. Do đặc điểm
đất đai và địa hình nên nguồn nước mặt trên địa bàn xã rất phong phú. Trên

12


địa bàn xã có khá nhiều ao, đầm, mương máng là nguồn dự trữ nước cung cấp
cho một phần diện tích đất nông nghiệp. Tuy nhiên chủ yếu là các ao, đầm
nhỏ, nằm xen kẽ với làng xóm hoặc ven đê, ven biển do lấy đất đắp đê hoặc
do vỡ đê tạo thành các điểm trũng, tích nước. Những năm gần đây, diện tích
một số ao đầm được cải tạo, có xu hướng tập trung thành quy mô trang trại để
nuôi tôm cá theo quy trình bán công nghiệp. Bước đầu một số ao, đầm nuôi
tôm cá đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là các ao đầm nuôi tôm vùng ven
biển (tôm sú, tôm thẻ) và mở rộng quy mô nuôi ngao giống.
Nguồn nước ngầm của xã cũng vô cùng phong phú. Do vị trí nằm sát
biển, địa hình thấp, ảnh hưởng thủy triều vào các cửa sông, tạo nên mạch
nước ngầm với độ mặn cao. Theo thăm dò cho thấy, nước khoan từ dưới lòng
đất có tổng độ khoáng hóa dao động trong khoảng 600 - 2.500 mg/l, nước
thuộc loại Natri Clorua (NaCl), bị nhiễm mặn nên không đạt tiêu chuẩn dùng
cho nước sinh hoạt (Mai Thị Yến, 2017).

nhập bình quân đạt 38,12 triệu/người/năm.
Giáo dục
Hiện trên địa bàn xã có 1 trường Mầm non, 1 trường Tiểu học và 1
trường Trung học cơ sở đều đạt danh hiệu trường chuẩn quốc gia cấp độ II.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị tương đối đầy đủ. Chất lượng giáo dục đại trà
được giữ vững. Tỷ lệ giáo viên có chất lượng chuyên môn đạt 100%. Tỷ lệ
học sinh thi đỗ các trường cấp 3 hàng năm từ 80 - 85%, số lượng học sinh giỏi
và đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi, thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại
học ngày càng tăng. Công tác khuyến học, khuyến tài luôn được triển khai
mạnh mẽ. Hội khuyến học xã cũng đã triển khai kế hoạch thực hiện Quyết
định 281/QĐ-TTg và Thông tư 44/2014/TT-BGDĐT về đề án xây dựng xã
hội học tập, cộng đồng học tập cấp xã và đã được ban chỉ đạo của tỉnh, huyện
công nhận cộng đồng học tập cấp xã (UBND xã Nam Thịnh, 2017).

14


15


Y tế
Hiện nay, trên địa bàn xã có 1 trạm y tế, đã và đang giữ vững danh hiệu
trạm chuẩn quốc gia giai đoạn 2. Những năm qua, trạm y tế xã đã làm tốt
công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, tuyên truyền công tác vệ sinh
phòng ngừa dịch bệnh, thực hiện các chương trình y tế và làm công tác tham
mưu cho cấp ủy Đảng và chính quyền. Trong năm 2017, trạm y tế xã Nam
Thịnh đã khám và chữa bệnh cho 4.242 lượt người, công tác tiêm phòng các
loại bệnh cho bà mẹ mang thai và trẻ em dưới 1 tuổi tiêm đủ mũi đều đạt tỉ lệ
100% (UBND xã Nam Thịnh, 2017).
Văn hóa văn nghệ - thể dục thể thao (VHVN - TDTT)

Số liệu được thu thập từ năm 2013 - 2017.
Thời gian nghiên cứu của đề tài là từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018.
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ nuôi ngao tại xã Nam Thịnh,
huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu trong thời gian từ tháng 1/2018 đến
tháng 5/2018. Do thời gian nghiên cứu hạn chế nên khóa luận này ch ỉ
tập trung vào đánh giá hiện trạng nghề nuôi ngao tại khu v ực bãi triều
xã Nam Thịnh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các luận văn, đề tài khoa học, các trang
web liên quan đến hiện trạng nghề nuôi ngao. Thu thập thông tin, số liệu từ
các báo cáo thống kê hàng năm của xã Nam Thịnh về tình hình chung, cũng
như về kết quả sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong nuôi ngao.

17


18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status