BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
***
***
CÔNG THỊ MAI THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI, PHÁT TRIỂN TÀI
CHÍNH ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC
NƯỚC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
********
CÔNG THỊ MAI THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI, PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (Hướng ứng dụng)
Mã ngành: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DIỆP GIA LUẬT
Dữ liệu nghiên cứu .....................................................................................3
4.2
Phương pháp nghiên cứu ............................................................................4
5. Cấu trúc luận văn ..............................................................................................4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỀU HỐI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI,
PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ..........................5
1.1
Cơ sở lý thuyết:..............................................................................................5
1.2
tế:
Lý thuyết tác động của kiều hối, phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh
.......................................................................................................................8
1.2.1
Tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế: .....................................8
1.2.2
Tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế: ..................13
1.2.3
Tác động của kiều hối, phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế: ...15
3.1
Xu hướng kiều hối ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: .......................36
3.2
Kết quả thống kê mô tả:...............................................................................42
3.3
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm .................................................................47
3.3.1. Kết quả kiểm định mô hình ......................................................................47
3.3.2. Thảo luận ..................................................................................................52
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ........................................57
4.1
Kết luận........................................................................................................57
4.2
Gợi ý chính sách ..........................................................................................58
4.3
Kết luận chung: ............................................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Bảng 3. 2 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu trong mô hình: ...............................42
Bảng 3. 3 Ma trận tương quan của các biến trong mô hình......................................44
Bảng 3. 4 Kiểm định VIF trong mô hình ..................................................................45
Bảng 3. 5 Kết quả thực hiện hồi quy biến công cụ ...................................................46
Bảng 3. 6 Kết quả của kiểm định Hausman .............................................................48
Bảng 3. 7 Kết quả hồi quy trên Stata của mô hình (1) .............................................49
Bảng 3. 8 Kết quả hồi quy trên Stata của mô hình (2) .............................................50
Bảng 3. 9 Kết quả hồi quy trên Stata của mô hình (3) .............................................51
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Hình 1 Các kênh kiều hối. ..........................................................................................6
Hình 3. 1 Dòng chảy kiều hối và các nguồn vốn khác ở các nước thu nhập trung
bình – thấp. ................................................................................................................36
Hình 3. 2 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất thế giới năm 2018 ............................39
Hình 3. 3 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
năm 2018 ...................................................................................................................40
Hình 3. 4 10 quốc gia có tỷ lệ kiều hối trên GDP lớn nhất khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương năm 2018 ..............................................................................................41
TÓM TẮT
Trong giai đoạn hiện nay kiều hối là nguồn ngoại tệ nhanh chóng trở thành
nguồn vốn quan trọng và ảnh hưởng đáng kể đến cán cân vãng lai cũng như các
hoạt động của nền kinh tế của một quốc gia. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi
xoay quanh về mối quan hệ giữa kiều hối và các chỉ số phát triển tài chính tới tăng
trưởng kinh tế của một quốc gia, dẫn đến việc nghiên cứu bản chất cũng như mức
độ tác động của kiều hối đến từng nền kinh tế của mỗi quốc gia là điều cần thiết. Để
thực hiện được điều này, bài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của 28 quốc gia thuộc
khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong giai đoạn 1995 đến 2018 để làm mẫu
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề nghiên cứu
Lượng kiều hối được chuyển về quê nhà bởi những người di cư –Nguồn vốn
tưởng chừng bị phớt lờ trong quá khứ, nay lại trở thành một trong những nguồn
cung ứng cho dòng chảy tài chính lớn nhất đến các quốc gia đang phát triển, dần
làm lu mờ các nguồn vốn truyền thống như viện trợ chính thức và dòng vốn tư nhân
(World Bank 2003, 2004; Aggarwal, Demirgüc¸ -Kunt, & Martínez Pería, 2010;
Giulia & Zazzaro, 2011; Giuliano & Ruiz-Arranz, 2009; Rao & Hassan, 2011. Một
số bằng chứng cho thấy rằng năm 2015, lượng kiều hối trên toàn thế giới ước đạt
trên 601 tỷ USD. Trong số đó, các nước đang phát triển ước tính nhận được khoảng
441 tỷ đô la, gấp gần ba lần số viện trợ phát triển chính thức.
Tuy nhiên lượng kiều hối thực sự, bao gồm kiều hối thông qua các kênh
chính thức và phi chính thức, được cho là lớn hơn đáng kể. Theo Nyamongo và
Misati, (2011); Aggarwal et al., (2010); kiều hối được chuyển về thông qua các
kênh chính thức đã tác động đến sự phát triển tài chính. Thông qua các con đường
chính thức tác động đến tăng trưởng của khu vực tài chính. Điều này xảy ra khi
người nhận kiều hối mở tài khoản với các ngân hàng thương mại. Thêm vào đó, khi
người nhận đến ngân hàng họ có thể thu thập thông tin về các sản phẩm vay ngân
hàng hiện có mà họ có thể sử dụng. Nếu tác động này lên ngành tài chính là đáng kể
thì sự phát triển tài chính được kỳ vọng là cao hơn.
Theo Deodat (2011), Mundaca (2009), Misati & Nyamongo (2010, 2011),
Sufian & Siridopoulos (2010); phát triển tài chính cũng liên quan đến đầu tư tư
nhân và tăng trưởng kinh tế. Cũng có một số bằng chứng cho rằng sự phát triển tài
chính là quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một số lý thuyết ủng hộ
cho vai trò phát triển tài chính được tìm thấy trong nghiên cứu của Bagehot, (1873);
Schumpeter, (1911) và gần đây hơn là Hicks, (1969). Theo Schumpeter, (1911); các
2
3
cứ vào tầm quan trọng và tính cần thiết của kiều hối ở các quốc gia trên thế giới,
đặc biệt là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, và các tranh cãi về kết quả tác động
của kiều hối và phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế của một số nghiên
cứu trước đây nên học viên lựa chọn chủ đề “ Tác động của kiều hối, phát triển tài
chính đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương ” làm luận
văn để có thể đưa ra một số bằng chứng thực nghiệm xác đáng cho vấn đề đáng
quan tâm này.
2. Mục tiêu luận văn nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm ra bằng chứng nghiên cứu thực
nghiệm về tác động của kiều hối cùng với các chỉ số phát triển tài chính đến tăng
trưởng kinh tế ở 28 quốc gia khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong khoảng thời
gian từ năm 1995 - 2018.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đề tài, luận văn phải trả lời được các câu
hỏi nghiên cứu sau:
- Kiều hối có phải là một kênh phát triển tài chính có vai trò quan trọng hay
không, đồng thời kiều hối giúp thúc đẩy hay kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế
của một quốc gia?
- Sự biến động của kiều hối và các chỉ số phát triển tài chính có tác động tiêu
cực đến nền kinh tế khu vực này không?
4. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Dữ liệu nghiên cứu
- Nguồn dữ liệu được thu thập từ ngân hàng thế giới (WB) và quỹ tiền tệ thế
giới (IMF), do vậy đảm bảo tính đồng nhất và đáng tin cậy để thực hiện kiểm
định
- Để thực hiện nghiên cứu, luận văn sử dữ liệu bảng của 28 quốc gia khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương trong khoảng thời gian từ năm 1995 - 2018.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỀU HỐI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI,
PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1 Định nghĩa, tổng quan về kiều hối:
Nói một cách tổng quát, theo Nyamongo (2012), kiều hối có thể định nghĩa
là phần thu nhập được người lao động ở nước ngoài gửi về quê nhà. Theo định
nghĩa hẹp của Devesh Kapur (2003) kiều hối là một khoản chuyển giao nhưng
không hoàn lại, chủ yếu là tiền gửi của người di cư cho gia đình và bạn bè mà
không có bất cứ yêu cầu hay đòi hỏi nào từ người gửi, không giống như các dòng
tài chính khác điển hình là nợ hoặc vốn cổ phần.
Kiều hối của người cư trú theo định nghĩa của IMF trong “The Balance of
Payments Manual (IMF 2010)” là chuyển giao tài sản tư nhân từ các lao động di cư
được xem là cư dân của quốc gia nhập cư đến người nhận ở quê hương. Nếu người
di cư sống ở quốc gia nhập cư từ một năm trở lên thì được xem là người cư trú. Nếu
người di cư sống ở quốc gia nhập cư dưới một năm, toàn bộ thu nhập của người này
ở quốc gia nhập cư được xem là thu nhập của lao động ở nước ngoài.
WB đã cho rằng kiều hối được tạo nên từ ba thành phần sau:
• Kiều hối của người cư trú (workers’s remittances category) là dòng tiền được
chuyển theo phương thức vãng lai bởi những người đang làm việc hoặc đã
trở thành công dân của quốc gia khác. Kiều hối của người cư trú được xem là
một phần trong chuyển giao hiện tại của tài khoản vãng lai.
• Thu nhập của người lao động ở nước ngoài (Employee compensation): trong
một số trường hợp, thu nhập của người lao động không phải là công dân
quốc gia khác bao gồm cả đại sứ quán, tổ chức quốc tế, cơ quan ngoại giao,
sẽ tác động đáng kể đến dữ liệu kiều hối. Khi công dân nước này làm việc
cho người nước ngoài thì tiền lương và thu nhập khác của họ sẽ được coi là
thu nhập của người lao động ở nước ngoài. Trong trường hợp này, tổng thu
6
Mạng lưới liên kết/
Kiểu vận chuyển
• Tin nhắn và hệ thống
thanh toán
• SWIFT
• Chuyển tiền
• Tin nhắn điện thoại
• WEB
• Vận chuyển theo dạng
tiền mặt và hàng hoá
Điểm chuyển kiều hối
(Tại quê nhà)
• Ngân hàng thương
mại
• Công ty chuyển tiền
• Tổ chức tín dụng
• Bưu điện
• Công ty chuyển phát
nhanh
• Đại lý Hawala
• Địa điểm người nhận
Nguồn: IMF
Hiện nay có nhiều cách phân chia, tùy theo căn cứ khác nhau mà nguồn tiền
kiều hối được phân loại khác nhau. Sự xác định kênh chuyển kiều hối sẽ giúp người
nghiên cứu có thể đánh giá được mức độ bao phủ nguồn dữ liệu kiều hối mà mình
7
Theo Barajas, Chami, Full enkamp, Gapen, & Montiel (2009) tính đến thời
điểm hiện tại kênh phi chính thức vẫn chiếm ưu thế hơn hẳn bởi vì:
• Dễ tiếp cận vì không cần mở tài khoản ngân hàng, không phức tạp, quan liêu,
chỉ cần các thủ tục cần thiết.
• Không cần giấy tờ chứng minh.
• Chi phí rẻ, giao dịch rẻ hơn so với các kênh chính thức.
• Nhanh chóng và đáng tin cậy vì nó được dựa vào mối quan hệ người thân và
bạn bè, những người tuyên xưng chung một niềm tin tôn giáo.
Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại các mặt trái của kênh chính thức như:
• Gây cản trở việc thu thập dữ liệu có giá trị của chính phủ như bản chất và
kích thước của kiều hối.
• Làm tăng nguy cơ lạm dụng tiền gửi về cho hoạt động rửa tiền và các hoạt
động bất hợp pháp, trong đó có khủng bố. Điều này có thể trái với việc
phòng, chống rửa tiền theo pháp luật chống khủng bố tại nơi ở nhiều nước
trên thế giới.
1.2 Mối quan hệ của kiều hối, phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế:
1.2.1 Kiếu hối có phải một dòng vốn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế:
-
Kiếu hối tác động một cách tích cực đến tăng trưởng kinh tế:
Một số nghiên cứu thực nghiệm (Solimano, 2003; World Bank, 2006) cho thấy
kiều hối có thể có khả năng ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của một
quốc gia. Nghiên cứu của Aggarwal et al., 2006; Giuliano và Ruiz-Arranz, 2005
cũng xác nhận tác động tích cực đáng kể của kiều hối đối với cả tiền gửi ngân hàng
và tín dụng ngân hàng đối với khu vực tư nhân. Họ cho rằng kiều hối đóng vai trò
thay thế cho các phương tiện tài chính khác như tín dụng và bảo hiểm, vốn không
nhất thiết tồn tại ở các nước đang phát triển. Kích thích tiêu dùng và đầu tư, kiều hối
có thể có khả năng giảm quy mô suy thoái ở một số quốc gia và thúc đẩy nền kinh
ngân hàng. Điều này dẫn đến nâng cao sự phát triển của thị trường tài chính và giảm
chi phí tài trợ bên ngoài vì vậy mà tăng trưởng kinh tế sẽ cao hơn thông qua hai
10
kênh (1) kinh tế theo quy mô, (2) ảnh hưởng kinh tế chính trị, với quy mô lớn hơn
có thể tạo áp lực để chính phủ thực hiện cải cách tài chính.
Kiều hối giúp xóa đói giảm nghèo: kiều hối vốn dĩ là khoản thu nhập trực tiếp
của đa số người lao động ở nước đang phát triển, nước đói nghèo, nên nó có tác
động hỗ trợ gia đình thoát nghèo. Cụ thể, với các nước đang phát triển khu vực châu
Á Thái Bình Dương nếu kiều hối tăng 10%, sẽ làm giảm đói nghèo 2,8% (Ravallion
và Chen, 1997). Với nghiên cứu áp dụng cho 74 quốc gia đang phát triển có mức
thu nhập thấp và trung bình, cho thấy 10% số lượng người di cư thì sẽ làm giảm đi
1,9% số lượng người sống với mức thu nhập thấp hơn 1 USD/ một ngày (Adams và
Page, 2005). Tác động của di dân với vấn đề đói nghèo thay đổi với từng nhóm
nước, có tầm quan trọng đối với nhóm nước Đông Nam Á và các nước Mỹ La tinh,
nhưng không có ý nghĩa nhiều đối với các nước thuộc khu vực phát triển. Nếu coi
kiều hối là một biến ngoại sinh được tính vào thu nhập hiện hành của hộ gia đình,
và kiều hối được coi là nguồn bổ sung cho thu nhập của người lao động ở nhà nếu
anh ta không di cư. Nếu thay thế thu nhập từ nguồn kiều hối bằng thu nhập của
người lao động ở nhà, thì kiều hối sẽ có tác động giảm đói nghèo bởi dòng kiều hối
rõ ràng thể hiện thu nhập cao hơn so với thu nhập ở nhà và còn góp phần làm tăng
thu nhập tính theo đầu người của hộ gia đình nhận kiều hối.
Dòng kiều hối còn có tác dụng gián tiếp xóa giảm đói nghèo thông qua việc
phát triển nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế, là hai kênh quan trọng
thoát nghèo. Nghiên cứu của Taylor và các cộng sự (2005) cho vùng nông thôn của
Mexico với dữ liệu được khảo sát năm 2002 cho thấy mối quan hệ giữa kiều hối và
khoảng cách đói nghèo là ngược chiều trong dài hạn. Trong dài hạn, kiều hối là
dòng vốn giúp tích lũy các tài sản sinh lời, làm tăng sức sản xuất trong nông nghiệp,
nhập vĩnh viễn. Thật vậy, Jadotte (2009) cho thấy những tác động tiêu cực như vậy
ở Haiti tới giờ làm việc và thị trường lao động. Theo đó, kiều hối có thể làm giảm
khả năng làm việc của người nhận và tăng mức tiêu thụ tư nhân của hàng hóa
(thường được nhập khẩu) thay vì tài trợ cho các khoản đầu tư hoặc tiết kiệm trong
nước (Azam và Gubert, 2006; Chami et al., 2003). Một nghiên cứu có liên quan của
Alper và Neyapti (2006) về kiều hối của Thổ Nhĩ Kỳ chỉ ra rằng trong khi tiêu dùng
đề cập đến động cơ ngắn hạn để chuyển tiền, thì nguyện vọng đầu tư dài hạn có thể
12
chưa được nhiều người nghĩ đến. Cùng quan điểm, de Haas (2007) nhấn mạnh khía
cạnh thời gian tác động của kiều hối, tuyên bố rằng tiềm năng phát triển đầy đủ của
di cư và do đó kiều hối không nên được đề xuất trong thập kỷ đầu hoặc hai sau khi
bắt đầu kế hoạch di cư quy mô lớn.
Ngoài ra, Barajas et al., (2011); El-Sakka, (1999) đã nhận thấy rằng mức tiêu
thụ ngày càng tăng của người nhận có thể làm tăng giá thị trường địa phương và
đánh giá cao tỷ giá hối đoái. Trong khi đó, áp lực ngày càng tăng đối với tiền lương
có thể dẫn đến mất việc làm trong lĩnh vực có thể giao dịch, trong khi giá tăng đột
ngột sẽ làm tăng chi phí lao động trong khu vực phi thương mại, do đó dẫn đến mất
khả năng cạnh tranh quốc gia. Những phát hiện này đã được quan sát ở Châu Mỹ
Latinh và Cape Verde (Bourdet và Falck, 2006). Do những tác động bất lợi của kiều
hối, chính quyền địa phương nên nhận thức được những cạm bẫy do hành vi tiêu
dùng của người nhận và đưa ra các khuyến khích kinh doanh sẽ thúc đẩy đầu tư dài
hạn, từ đó có thể mang lại lợi ích lớn hơn cho toàn xã hội.
Kiều hối có thể là kênh rửa tiền cho các hoạt động phi pháp: kiều hối có được
từ nguồn lao động chân chính, đây có thể nói là những thu nhập có nguồn gốc sạch,
có thể chứng minh được, do đó việc chuyển về để sử dụng trong nước là hợp pháp.
Để thực hiện trót lọt quá trình rửa tiền, đối tượng rửa tiền thường chuyển tiền đan
xen tiền bẩn với các nguồn tiền hợp pháp và chuyển qua lại giữa các hoạt động kinh
tăng trưởng kinh tế vì một vài lý do.
-
Đầu tiên, một hệ thống tài chính phát triển hơn cung cấp một mảnh đất màu
mỡ để phân bổ nguồn lực, giám sát tốt hơn, ít bị bất cân xứng thông tin hơn và tăng
trưởng kinh tế (Shen và Lee, 2006). Hệ thống tài chính có thể đóng góp vào tăng
trưởng GDP thông qua hai kênh. Một mặt, nó huy động tiết kiệm; điều này làm tăng
nguồn vốn có sẵn để đầu tư tài chính. Mặt khác, nó sàng lọc và giám sát các dự án
đầu tư (nghĩa là giảm chi phí thu thập thông tin); góp phần tăng hiệu quả của các dự
án được thực hiện (Greenwood và Jovanovic 1990; Levine 1991). Hệ thống tài
chính trong nước càng phát triển càng có khả năng huy động tiết kiệm, sàng lọc và
giám sát các dự án đầu tư, góp phần tăng trưởng kinh tế.
14
-
Thứ hai, hệ thống tài chính ảnh hưởng đến lượng phân bổ tín dụng trên thị
trường tài chính và hạn chế các doanh nghiệp tiềm năng, từ đó quyết định tăng
trưởng kinh tế. Điều này đặc biệt đúng khi sự xuất hiện của một công nghệ hoàn
toàn mới mang đến tiềm năng khai thác không chỉ thị trường trong nước mà cả thị
trường xuất khẩu (Alfaro et al. 2004).
-
Thứ ba, ngành tài chính cũng có thể xác định mức độ mà các công ty nước
ngoài sẽ có thể vay để mở rộng các hoạt động đổi mới của họ ở nước sở tại làm tăng
phép người di cư gửi tiền về nhà nhanh hơn, an toàn hơn và rẻ hơn, nhưng lượng
kiều hối lớn kích thích sự quan tâm của các tổ chức tài chính và cơ quan công
quyền, mang lại mức độ cạnh tranh cao hơn giữa các trung gian tài chính, cũng như
cải cách thể chế nhằm mục đích chuyển kiều hối theo hướng đầu tư sản xuất. Ngoài
ra, một hệ thống tài chính phát triển hơn ở nước sở tại sẽ đòi hỏi chi phí chuyển tiền
thấp hơn (Freund và Spatafora, 2008), những điều này sẽ làm giảm số lượng các hộ
gia đình bị ngăn chặn chuyển tiền do hạn chế ngân sách và tăng lượng kiều hối tối
ưu được chuyển theo từng người gửi tiền. Cuối cùng, tại các quốc gia nơi hệ thống
ngân hàng phát triển tốt, kiều hối có thể bổ sung cho tín dụng ngân hàng hoặc có thể
đóng vai trò là tài sản thế chấp để có quyền truy cập vào nó. Người di cư sau đó có
thể được khuyến khích chuyển tiền cho gia đình với hy vọng rằng nó sẽ không bị
lãng phí trong việc tiêu dùng lãng phí, kém hiệu quả (Chami et al. 2005).
Mặt khác, khi thị trường tín dụng trong nước phát triển kém, một số lượng lớn
các hộ gia đình có dự án đầu tư sản xuất có khả năng không tiếp cận được với tài
chính bên ngoài hoặc chỉ có thể vay với mức lãi suất cao. Trong trường hợp này,
kiều hối có thể được sử dụng như một nguồn tài chính thay thế cho phép các hộ gia
đình nhận tài trợ cho các hoạt động sản xuất hoặc có thể được cam kết là tài sản thế
chấp, giúp người nhận tiếp cận thị trường tín dụng chính thức. Ngoài ra, họ có thể
cho các hộ gia đình khác trong làng vay, vượt qua các hạn chế tín dụng và bắt đầu
với kinh doanh của mình. (Bettin và Zazzaro, 2012).
Các tài liệu thực nghiệm về mối quan hệ giữa kiều hối và phát triển tài chính
tập trung kiểm định theo hai giả thuyết; giả thuyết thay thế nhau và giả thuyết bổ
sung nhau. Sự thay thế giữa kiều hối và tài chính dường như rất mạnh đối với mẫu