BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
***
***
CÔNG THỊ MAI THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI, PHÁT TRIỂN TÀI
CHÍNH ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC
NƯỚC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
********
CÔNG THỊ MAI THẢO
TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI, PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (Hướng ứng dụng)
Mã ngành: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Dữ liệu nghiên cứu........................................................................................................ 3
4.2
Phương pháp nghiên cứu............................................................................................. 4
5. Cấu trúc luận văn.................................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỀU HỐI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI,
PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.................................... 5
1.1
Cơ sở lý thuyết:................................................................................................................... 5
1.2 Lý thuyết tác động của kiều hối, phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh
tế:............................................................................................................................................................ 8
1.2.1
Tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế:.......................................... 8
1.2.2
Tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế:..................13
1.2.3
Tác động của kiều hối, phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế:
15
1.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây:.......................................................................... 17
Xu hướng kiều hối ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương:........................36
3.2
Kết quả thống kê mô tả:................................................................................................ 42
3.3
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.............................................................................. 47
3.3.1. Kết quả kiểm định mô hình..................................................................................... 47
3.3.2. Thảo luận......................................................................................................................... 52
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH................................................... 57
4.1
Kết luận................................................................................................................................ 57
4.2
Gợi ý chính sách................................................................................................................ 58
4.3
Kết luận chung:................................................................................................................. 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Bảng 3. 3 Ma trận tương quan của các biến trong mô hình......................................... 44
Bảng 3. 4 Kiểm định VIF trong mô hình............................................................................... 45
Bảng 3. 5 Kết quả thực hiện hồi quy biến công cụ......................................................... 46
Bảng 3. 6 Kết quả của kiểm định Hausman........................................................................ 48
Bảng 3. 7 Kết quả hồi quy trên Stata của mô hình (1).................................................... 49
Bảng 3. 8 Kết quả hồi quy trên Stata của mô hình (2).................................................... 50
Bảng 3. 9 Kết quả hồi quy trên Stata của mô hình (3).................................................... 51
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Hình 1 Các kênh kiều hối................................................................................................................ 6
Hình 3. 1 Dòng chảy kiều hối và các nguồn vốn khác ở các nước thu nhập trung
bình – thấp............................................................................................................................................ 36
Hình 3. 2 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất thế giới năm 2018............................. 39
Hình 3. 3 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
năm 2018............................................................................................................................................... 40
Hình 3. 4 10 quốc gia có tỷ lệ kiều hối trên GDP lớn nhất khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương năm 2018................................................................................................................... 41
TÓM TẮT
Trong giai đoạn hiện nay kiều hối là nguồn ngoại tệ nhanh chóng trở thành
nguồn vốn quan trọng và ảnh hưởng đáng kể đến cán cân vãng lai cũng như các hoạt
động của nền kinh tế của một quốc gia. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi xoay
quanh về mối quan hệ giữa kiều hối và các chỉ số phát triển tài chính tới tăng trưởng
kinh tế của một quốc gia, dẫn đến việc nghiên cứu bản chất cũng như mức độ tác
động của kiều hối đến từng nền kinh tế của mỗi quốc gia là điều cần thiết. Để thực
hiện được điều này, bài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của 28 quốc gia thuộc khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương trong giai đoạn 1995 đến 2018 để làm mẫu quan sát
kết hợp với việc sử dụng phương pháp OLS và TSLS với các kiểu hồi quy gộp, hồi
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề nghiên cứu
Lượng kiều hối được chuyển về quê nhà bởi những người di cư –Nguồn
vốn tưởng chừng bị phớt lờ trong quá khứ, nay lại trở thành một trong những nguồn
cung ứng cho dòng chảy tài chính lớn nhất đến các quốc gia đang phát triển, dần làm
lu mờ các nguồn vốn truyền thống như viện trợ chính thức và dòng vốn tư nhân
(World Bank 2003, 2004; Aggarwal, Demirgüc¸ -Kunt, & Martínez Pería, 2010; Giulia
& Zazzaro, 2011; Giuliano & Ruiz-Arranz, 2009; Rao & Hassan, 2011. Một số bằng
chứng cho thấy rằng năm 2015, lượng kiều hối trên toàn thế giới ước đạt trên 601 tỷ
USD. Trong số đó, các nước đang phát triển ước tính nhận được khoảng 441 tỷ đô
la, gấp gần ba lần số viện trợ phát triển chính thức.
Tuy nhiên lượng kiều hối thực sự, bao gồm kiều hối thông qua các kênh
chính thức và phi chính thức, được cho là lớn hơn đáng kể. Theo Nyamongo và
Misati, (2011); Aggarwal et al., (2010); kiều hối được chuyển về thông qua các
kênh chính thức đã tác động đến sự phát triển tài chính. Thông qua các con đường
chính thức tác động đến tăng trưởng của khu vực tài chính. Điều này xảy ra khi
người nhận kiều hối mở tài khoản với các ngân hàng thương mại. Thêm vào đó,
khi người nhận đến ngân hàng họ có thể thu thập thông tin về các sản phẩm vay
ngân hàng hiện có mà họ có thể sử dụng. Nếu tác động này lên ngành tài chính là
đáng kể thì sự phát triển tài chính được kỳ vọng là cao hơn.
Theo Deodat (2011), Mundaca (2009), Misati & Nyamongo (2010, 2011),
Sufian & Siridopoulos (2010); phát triển tài chính cũng liên quan đến đầu tư tư nhân
và tăng trưởng kinh tế. Cũng có một số bằng chứng cho rằng sự phát triển tài chính
là quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một số lý thuyết ủng hộ cho
vai trò phát triển tài chính được tìm thấy trong nghiên cứu của Bagehot, (1873);
Schumpeter, (1911) và gần đây hơn là Hicks, (1969). Theo Schumpeter, (1911); các
2
3
cứ vào tầm quan trọng và tính cần thiết của kiều hối ở các quốc gia trên thế giới,
đặc biệt là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, và các tranh cãi về kết quả tác
động của kiều hối và phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế của một số
nghiên cứu trước đây nên học viên lựa chọn chủ đề “ Tác động của kiều hối, phát
triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương
” làm luận văn để có thể đưa ra một số bằng chứng thực nghiệm xác đáng cho
vấn đề đáng quan tâm này.
2. Mục tiêu luận văn nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm ra bằng chứng nghiên cứu thực
nghiệm về tác động của kiều hối cùng với các chỉ số phát triển tài chính đến tăng
trưởng kinh tế ở 28 quốc gia khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong khoảng
thời gian từ năm 1995 - 2018.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đề tài, luận văn phải trả lời được các
câu hỏi nghiên cứu sau:
- Kiều hối có phải là một kênh phát triển tài chính có vai trò quan trọng hay
không, đồng thời kiều hối giúp thúc đẩy hay kìm hãm sự tăng trưởng kinh
tế của một quốc gia?
- Sự biến động của kiều hối và các chỉ số phát triển tài chính có tác động
tiêu cực đến nền kinh tế khu vực này không?
4. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Dữ liệu nghiên cứu
- Nguồn dữ liệu được thu thập từ ngân hàng thế giới (WB) và quỹ tiền tệ thế giới
(IMF), do vậy đảm bảo tính đồng nhất và đáng tin cậy để thực hiện kiểm
định
- Để thực hiện nghiên cứu, luận văn sử dữ liệu bảng của 28 quốc gia khu vực
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỀU HỐI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI,
PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1 Định nghĩa, tổng quan về kiều hối:
Nói một cách tổng quát, theo Nyamongo (2012), kiều hối có thể định nghĩa
là phần thu nhập được người lao động ở nước ngoài gửi về quê nhà. Theo định
nghĩa hẹp của Devesh Kapur (2003) kiều hối là một khoản chuyển giao nhưng
không hoàn lại, chủ yếu là tiền gửi của người di cư cho gia đình và bạn bè mà
không có bất cứ yêu cầu hay đòi hỏi nào từ người gửi, không giống như các dòng
tài chính khác điển hình là nợ hoặc vốn cổ phần.
Kiều hối của người cư trú theo định nghĩa của IMF trong “The Balance of
Payments Manual (IMF 2010)” là chuyển giao tài sản tư nhân từ các lao động di cư
được xem là cư dân của quốc gia nhập cư đến người nhận ở quê hương. Nếu người di
cư sống ở quốc gia nhập cư từ một năm trở lên thì được xem là người cư trú. Nếu
người di cư sống ở quốc gia nhập cư dưới một năm, toàn bộ thu nhập của người này
ở quốc gia nhập cư được xem là thu nhập của lao động ở nước ngoài.
WB đã cho rằng kiều hối được tạo nên từ ba thành phần sau:
•
Kiều hối của người cư trú (workers’s remittances category) là dòng tiền
được chuyển theo phương thức vãng lai bởi những người đang làm việc
hoặc đã trở thành công dân của quốc gia khác. Kiều hối của người cư trú
được xem là một phần trong chuyển giao hiện tại của tài khoản vãng lai.
•
Thu nhập của người lao động ở nước ngoài (Employee compensation): trong
Ngân hàng thương mại v
Công ty chuyển tiền
• Tổ chức tín dụng
• Bưu điện
• Công ty chuyển phát nhanh
• Đại lý thu
• Tổ chức Hawala
Bạn bè / Người thân
Mạng lưới liên kết/
Kiểu vận chuyển
• Tin nhắn và hệ thống
thanh toán
• SWIFT
• Chuyển tiền
• Tin nhắn điện thoại
• WEB
• Vận chuyển theo dạng
tiền mặt và hàng hoá
Điểm chuyển kiều hối
(Tại quê nhà)
• Ngân hàng thương
mại
• Công ty chuyển tiền
• Tổ chức tín dụng
• Bưu điện
viên trong gia đình, bạn bè hoặc một số hình thức vận chuyển tư nhân; tiền
hay hiện vật được người di cư vận chuyển thông qua những lần về thăm
quê hương; sử dụng các quỹ gửi tiền của các tổ chức chuyển tiền không
đăng ký giấy phép nhưng sử dụng mạng lưới truyền thống như hawala,
Fei Ch’ien, Hundi (Nyamongo-2012).
Tuy nhiên các kênh kiều hối chỉ được phân loại là chính thức hay không chính
thức một cách tương đối, lý do được đưa ra ở đây là mỗi kênh kiều hối được xem
xét theo nhiều quan điểm khác nhau, dựa trên các quy định, cơ cấu tổ chức, hệ thống
pháp luật của mỗi quốc gia. Một số kênh kiều hối có thể được xem là chính thức ở
quốc gia này nhưng theo quy định của quốc gia khác, nó là bất hợp pháp.
Sự lựa chọn của người chuyển tiền giữa các kênh chuyển tiền khác nhau có
thể bị ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng của các
quốc gia chuyển và nhận kiều hối, khả năng tiếp cận với các tổ chức tài chính chính
thức, tốc độ chuyển tiền, chi phí chuyển tiền, các quy định của chính phủ, ưu đãi của
nhà nước dưới hình thức thuế nhượng bộ và lãi suất hay gánh nặng về thủ tục.
8
Theo Barajas, Chami, Full enkamp, Gapen, & Montiel (2009) tính đến thời
điểm hiện tại kênh phi chính thức vẫn chiếm ưu thế hơn hẳn bởi vì:
•
Dễ tiếp cận vì không cần mở tài khoản ngân hàng, không phức tạp, quan
liêu, chỉ cần các thủ tục cần thiết.
•
Không cần giấy tờ chứng minh.
kiều hối có thể có khả năng ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của một
quốc gia. Nghiên cứu của Aggarwal et al., 2006; Giuliano và Ruiz-Arranz, 2005 cũng
xác nhận tác động tích cực đáng kể của kiều hối đối với cả tiền gửi ngân hàng và tín
dụng ngân hàng đối với khu vực tư nhân. Họ cho rằng kiều hối đóng vai trò thay thế
cho các phương tiện tài chính khác như tín dụng và bảo hiểm, vốn không nhất thiết
tồn tại ở các nước đang phát triển. Kích thích tiêu dùng và đầu tư, kiều hối có thể có
khả năng giảm quy mô suy thoái ở một số quốc gia và thúc đẩy nền kinh
9
tế địa phương. Ngoài mức tiêu thụ hàng ngày thông thường, kiều hối có thể cho
phép các hộ gia đình tham gia vào các hoạt động kinh tế và rủi ro cao nhưng đem
lại lợi nhuận cao hơn. Gần đây, Ratha (2013) báo cáo rằng kiều hối tăng tiết
kiệm trong nước và cải thiện phương tiện trung gian tài chính, từ đó có thể gia
tăng triển vọng tăng trưởng của các nước nhận kiều hối. Tương ứng, Yasseen
(2012) cho thấy mối tương quan tích cực giữa kiều hối và sự phát triển của hệ
thống tài chính ở các nước đang phát triển, chủ yếu ở Trung Đông và Bắc Phi.
Mặc dù có những quan điểm tích cực về kiều hối, nhưng bằng chứng về kiều
hối có thể duy trì tăng trưởng kinh tế quốc gia cũng như việc làm dường như là
không thuyết phục. Ví dụ, Stratan et al. (2013) cho thấy ngay cả trong trường hợp của
Moldova, nơi kiều hối thay đổi từ 14% đến 19,1% GDP từ năm 2006 đến 2011, mối
tương quan giữa thu nhập từ kiều hối và tăng trưởng quốc gia vẫn còn mơ hồ. Trong
khi Barajas et al. (2012) cho rằng khối lượng kiều hối có thể thay đổi tùy thuộc vào
suy thoái kinh tế ở các quốc gia gửi tiền, Giuliano và Ruiz-Arranz (2005) tìm thấy
kiều hối tác động tích cực đến tăng trưởng GDP khi thị trường tài chính tương đối
kém phát triển. Chami và Fullenkamp (2013) chỉ ra rằng tác động kinh tế ròng của
kiều hối đối với tăng trưởng quốc gia sẽ phụ thuộc mạnh mẽ, một mặt, vào các
chính sách của chính phủ để tăng cường tiềm năng của họ và, mặt khác (và thậm chí
lao động ở nhà, thì kiều hối sẽ có tác động giảm đói nghèo bởi dòng kiều hối rõ ràng
thể hiện thu nhập cao hơn so với thu nhập ở nhà và còn góp phần làm tăng thu nhập
tính theo đầu người của hộ gia đình nhận kiều hối.
Dòng kiều hối còn có tác dụng gián tiếp xóa giảm đói nghèo thông qua việc
phát triển nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế, là hai kênh quan trọng thoát
nghèo. Nghiên cứu của Taylor và các cộng sự (2005) cho vùng nông thôn của
Mexico với dữ liệu được khảo sát năm 2002 cho thấy mối quan hệ giữa kiều hối
và khoảng cách đói nghèo là ngược chiều trong dài hạn. Trong dài hạn, kiều hối
là dòng vốn giúp tích lũy các tài sản sinh lời, làm tăng sức sản xuất trong nông
nghiệp, giảm đói nghèo.
Nếu coi kiều hối không đơn thuần chỉ là dòng tiền và tăng thu nhập khả dụng,
mà coi kiều hối là dòng tích lũy tài sản chống các cú sốc do thiếu hụt tài chính của
11
gia đình nhận kiều hối, từ đó tăng khả năng tiếp cận giáo dục và y tế đảm bảo cuộc
sống an toàn và ổn định (Hulme và các cộng sự, 2001). Do đó, tác động trong trung và
dài hạn là phải đánh giá phạm vi ảnh hưởng của kiều hối tới quá trình thoát nghèo,
hơn là chỉ sử dụng mô hình đơn giản chi tiêu. Theo cách tiếp cận này, tác động của
kiều hối tới người nhận sẽ là khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội.
Khi người nghèo có tiền từ kiều hối tham gia hoạt động đào tạo để phát triển nguồn
nhân lực thì người nghèo có cơ hội tăng thu nhập (Berg và Krueger, 2003).
-
Kiều hối có thể tạo ra các ưu đãi tiêu cực theo góc nhìn và cách
đầu tư của hộ gia đình.
Nếu coi kiều hối là khoản thu nhập có được lâu dài, hộ gia đình có xu hướng
sẽ làm tăng chi phí lao động trong khu vực phi thương mại, do đó dẫn đến mất khả
năng cạnh tranh quốc gia. Những phát hiện này đã được quan sát ở Châu Mỹ Latinh
và Cape Verde (Bourdet và Falck, 2006). Do những tác động bất lợi của kiều hối,
chính quyền địa phương nên nhận thức được những cạm bẫy do hành vi tiêu dùng
của người nhận và đưa ra các khuyến khích kinh doanh sẽ thúc đẩy đầu tư dài hạn,
từ đó có thể mang lại lợi ích lớn hơn cho toàn xã hội.
Kiều hối có thể là kênh rửa tiền cho các hoạt động phi pháp: kiều hối có
được từ nguồn lao động chân chính, đây có thể nói là những thu nhập có nguồn
gốc sạch, có thể chứng minh được, do đó việc chuyển về để sử dụng trong nước
là hợp pháp. Để thực hiện trót lọt quá trình rửa tiền, đối tượng rửa tiền thường
chuyển tiền đan xen tiền bẩn với các nguồn tiền hợp pháp và chuyển qua lại giữa
các hoạt động kinh doanh bằng nhiều tài khoản khác nhau, hoặc giữa tài khoản
trong nước với tài khoản nước ngoài… Và tất nhiên, giới tội phạm có thể nhân
danh hoặc trà trộn vào các khoản kiều hối thông thường để chuyển tiền về trong
nước. Khi đó, các ngân hàng thường được chọn lựa không những vì khả năng có
thể giao dịch với các khoản tiền rất lớn, mà còn vì một khi đồng tiền lọt được
vào tài khoản của ngân hàng, nó lập tức trở thành một đồng tiền sạch, từ đó có
thể thực hiện được ngay các lệnh thanh toán với số lượng lớn đến bất kỳ đâu,
mà không gây ra bất cứ một sự nghi ngờ gì về tính hợp pháp của đồng tiền.
13
Kiều hối hiển nhiên là nguồn thu nhập thường xuyên, ổn định của một số hộ
gia đình nhận kiều hối. Song một vấn đề đạo đức được đặt ra mang tính tiêu cực
về cách thức sử dụng nguồn tiền này. Chammi và các cộng sự (2003) cho thấy
nghịch lý về nhận kiều hối. Nếu kiều hối được sử dụng đúng cách thì kinh tế
phát triển. Song có một bộ phận nhận kiều hối, dựa vào nguồn tiền họ nhận
được, coi đó là khoản bảo hiểm cho gia đình mình, một khoản phúc lợi kinh tế
Thứ hai, hệ thống tài chính ảnh hưởng đến lượng phân bổ tín dụng trên thị
trường tài chính và hạn chế các doanh nghiệp tiềm năng, từ đó quyết định tăng
trưởng kinh tế. Điều này đặc biệt đúng khi sự xuất hiện của một công nghệ hoàn
toàn mới mang đến tiềm năng khai thác không chỉ thị trường trong nước mà cả
thị trường xuất khẩu (Alfaro et al. 2004).
-
Thứ ba, ngành tài chính cũng có thể xác định mức độ mà các công ty nước
ngoài sẽ có thể vay để mở rộng các hoạt động đổi mới của họ ở nước sở tại làm
tăng thêm phạm vi lan tỏa công nghệ cho các doanh nghiệp trong nước. Do đó,
quá trình khuếch tán có thể hiệu quả hơn khi thị trường tài chính ở nước sở tại
được phát triển tốt, vì điều này cho phép công ty con của một tập đoàn đa quốc
gia xây dựng khoản đầu tư (Hermes và Lensink 2003). Demetriades và
Andrianova (2004) đã giải thích: sự tồn tại của một hệ thống tài chính phát triển
là tiền đề để đất nước thực hiện các cải tiến mới và khai thác tài nguyên một
cách hiệu quả. Theo cách này, tài chính được coi là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, chứ không phải là yếu tố quyết định mạnh mẽ đến tăng trưởng GDP.
-
Cuối cùng, hiệu quả của thị trường tài chính là vấn đề đối với tăng trưởng
kinh tế. Trên thực tế, một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các quốc gia có hệ
thống tài chính hiệu quả sẽ ít chịu rủi ro về một cuộc khủng hoảng tài chính sẽ nổ
ra sau những xáo trộn kinh tế thực sự và khi những khủng hoảng xảy ra (Bordo
và Meissner 2006; Beck và cộng sự 2000). Thật vậy, các quốc gia có hệ thống tài
chính phát triển tố, tức là thị trường tài chính và các tổ chức xây dựng hiệu quả
việc tiết kiệm xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhanh hơn (Bekaert và cộng sự
phép các hộ gia đình nhận tài trợ cho các hoạt động sản xuất hoặc có thể được
cam kết là tài sản thế chấp, giúp người nhận tiếp cận thị trường tín dụng chính
thức. Ngoài ra, họ có thể cho các hộ gia đình khác trong làng vay, vượt qua các
hạn chế tín dụng và bắt đầu với kinh doanh của mình. (Bettin và Zazzaro, 2012).
Các tài liệu thực nghiệm về mối quan hệ giữa kiều hối và phát triển tài chính
tập trung kiểm định theo hai giả thuyết; giả thuyết thay thế nhau và giả thuyết bổ
sung nhau. Sự thay thế giữa kiều hối và tài chính dường như rất mạnh đối với mẫu