thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở đường lâm hiện nay - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THÀNH NAM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT LÀNG CỔ
Ở ĐƯỜNG LÂM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THÀNH NAM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT LÀNG CỔ
Ở ĐƯỜNG LÂM HIỆN NAY

Ngành: Chính sách công
Mã số: 834 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. CAO THU HẰNG

HÀ NỘI - 2020


và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Việt Nam
hiện nay ..................................................................................................... 26
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT
LÀNG CỔ Ở ĐƯỜNG LÂM HIỆN NAY................................................... 30
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo tồn và phát huy giá trị di
tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay......................... 30
2.2. Thành tựu trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy
giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay và
nguyên nhân của chúng ............................................................................. 37
2.3. Những hạn chế trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát
huy giá trị di tích kiến trục nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay ... 53
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT LÀNG CỔ Ở ĐƯỜNG LÂM
HIỆN NAY ..................................................................................................... 60
3.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ sở pháp lý.............................. 60


3.2. Hoàn thiện công tác chỉ đạo, điều hành, phân công phối hợp ........... 62
3.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, truyền thông, phổ biến, giáo dục
nhằm nâng cao nhận thứccủa các bên liên quan ....................................... 64
3.4. Phát triển nguồn nhân lực .................................................................. 67
3.5. Đa dạng hoá các nguồn lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá
trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay ................ 71
3.6. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và
hợp tác quốc tế .......................................................................................... 73
3.7. Một số giải pháp cụ thể khác ............................................................. 75
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 80

trường tồn, đồng thời là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Kho tàng di
sản văn hóa đồ sộ đó không chỉ góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam phong
phú và đa dạng mà còn đem lại những giá trị cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nhận thức rõ giá trị cũng như vai trò của di sản văn hoá, sau khi nước nhà
giành được độc lập, dù còn bộn bề công việc cần giải quyết, nhưng với tầm nhìn
của một vĩ nhân-danh nhân văn hóa kiệt xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc
lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam [13]. Sắc lệnh xác định
việc bảo tồn di sản văn hoá là việc rất cần cho công cuộc kiến thiết nước nhà.
Để đáp ứng được yêu cầu của việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản
văn hoá, các chính sách về lĩnh vực trên từng bước được ban hành và đưa vào
thực tiễn như: Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998 cũng đã đề ra
nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, bao gồm cả văn hóa vật thể
và phi vật thể [3]. Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ Quyết định lấy ngày 23-11
hàng năm là Ngày Di sản văn hóa Việt Nam [45], nhằm phát huy truyền thống và ý
thức trách nhiệm trên lĩnh vực di sản văn hóa. Năm 2001, Luật Di sản văn hóa ra
đời và được sửa đổi, bổ sung năm 2009 [39], điều chỉnh cả di sản văn hóa vật thể và
di sản văn hóa phi vật thể.
Trong những năm qua, các di sản văn hóa được nhận diện giá trị, bảo tồn
và phát huy, góp phần quan trọng vào việc giáo dục lịch sử, vun đắp truyền
thống tốt đẹp của dân tộc; góp phần xây dựng và quảng bá hình ảnh quốc gia ra
thế giới thông qua các hoạt động du lịch, giao lưu văn hóa, hợp tác phát triển
kinh tế - xã hội,... Di sản văn hóa ở Việt Nam đã và đang ngày càng rõ hơn vai
trò quan trọng trong việc giáo dục con người phát triển toàn diện, hình thành nên
nguồn nhân lực góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

1


Cùng với các di sản khác của đất nước, di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ
ở Đường Lâm với những giá trị vô cùng to lớn và đã được Bộ Văn hoá Thông tin


2


thực trạng thực hiện và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu
quả chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuậtlàng cổ
ở Đường Lâm là rất quan trọng.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu “Thực hiện chính sách
bảo tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm
hiện nay”là có giá trị lý luận và thực tiễn cần thiết ở nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy di sản nói
chung:
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch – Tổng cục du lịch phối hợp cùng Cơ
quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) xuất bản công trình “Cẩm nang thực tiễn
phát triển du lịch nông thôn Việt Nam”[72]. Công trình đề cập đến việc nhận
thức về du lịch nông thôn hiện nay; đã đưa ra phương pháp và quy trình phát
triển du lịch nông thôn ở Việt Nam, thông qua việc phân tích, giới thiệu một số
mô hình thực tế phát triển du lịch nông thôn hiện nay như: tại làng Đường Lâm,
thành phố Hà Nội; Làng Bồ Dương, xã Hồng Phong, tỉnh Hải Dương; Làng
Phước Tích, tỉnh Thừa Thiên Huế; Du lịch dựa vào cộng đồng Cơ Tu, huyện
Nam Giang, tỉnh Quảng Nam;vai trò và sự liên kết của các cơ quan hữu quan và
đề xuất thêm một số phương pháp phát triển du

lịch nông thôn có liên

quan.Những nội dung trình bày trong công trình là những gợi mở quan trọng
trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di dích lịch sử - văn hóa nói chung, ở làng
cổ Đường Lâm nói riêng.
Kỷ yếu hội thảo do UBND thành phố Hà Nội phối hợp với Trung ương

bảo tồn và phát huy di sản kiến trúc tập chung chủ yếu ở nhận thức chung về di
sản của các cấp, ngành, các cơ tham gia về công việc bảo tồn di tích còn hạn chế,
dẫn đến những nhận thức thức sai lệch trong việc thực hiện tu bổ, tôn tạo và phát
huy giá trị của di tích. Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao
hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản từ việc thay đổi nhận thức,
nội dung quản lý của các cấp, các ngành; việc đào tạo, học hỏi kinh nghiệm
trong và ngoài nước để nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn cho cho các
Kiến trúc sư, đến việc phát huy vai trò của cộng đồng trong lĩnh vực bảo tồn và
phát huy giá trị di tích [8].

4


Tác giả Hà Thị Thuỳ Dương trong bài viết “Giải quyết mối quan hệ giữa
bảo tồn, phát huy di sản văn hoá với phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay” đã
phân tích dựa những quy định hiện hành, những lý luận và những ví dụ thực tiễn
để nêu bật mối quan hệ chặt chẽ giữa bảo tồn và phát huy di sản văn hóa với phát
triển du lịch; thực trạng cũng như dự báo của sự phát triển du lịch có ảnh hưởng
tiêu cực của đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản, đồng thời đưa ra bảy
giải pháp để giải quyết các vấn đề trên [19].
Bài viết của tác giả Phạm Hùng Cường “Nhận diện giá trị di sản trong
công tác bảo tồn”, đã phân tích vai tr của lý luận trong việc nhận diện giá trị di
sản, khẳng định cần có lý luận nhận diện giá trị một cách đầy đủ, đúng đắn thì
mới có thể đề ra cách thức bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá đúng đắn.
Muốn làm được điều đó, theo tác giả cần xây dựng lý luận nhận diện di sản văn
hoá “tích hợp”, việc tích hợp là cần được xem xét dưới các góc độ, giá trị như:
Giá trị tự bản thân của di sản, các giá trị trị kế thừa, chuyển tiếp, giá trị văn hoá
phi vật thể ẩn mình trong di sản và các giá trị khi kết hợp các giá trị trên. [14];
Trong bài viết “Bảo tồn thích ứng các di sản làng xã truyền thống trong
quy hoạch nông thôn mới”, tác giả cho rằng, việc bảo tồn di sản các làng xã

Phi, Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản văn hóa trong thời kỳ mới; Đặng
Thị Bích Liên, Xã hội hóa hoạt động bảo tồn di sản văn hóa ở nước ta hiện
nay[37]; Triệu Thị Ngọc, Quan điểm, định hướng, mục tiêu bảo tồn, phát huy di
sản văn hóa vật thể ở Việt Nam[36]. Về cơ bản, dưới các góc độ hác nhau, như
văn hóa học, văn hóa dân gian, chính trị học,.., các công trình đều khẳng định
tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam; làm rõ
được một số thành tựu cũng như hạn chế trong bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa; từ đó đề xuất được một số định hướng cơ bản nhằm làm cho quá trình bảo
tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam ngày càng có hiệu quả hơn.
Thứ hai, những công trình nghiên cứu liên quan đến việc bảo tồn và phát
huy giá trị di tích kiến trúc và di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm:
Liên quan đến vấn đề bảo tồn và phát huy di tích kiến trúc, có thể có đến
các công trình “Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc”[28] của tác giả Nguyễn
Khởi (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 2011): công trình làm rõ một số khái niệm liên
quan, như bảo tồn, trùng tu, bảo tồn và trùng tu di sản văn hóa; làm rõ thực trạng

6


công tác bảo tồn và trùng tu di tích của một số quốc gia trên thế giới, cho thấy
những thành công và hạn chế của công tác này ở một số quốc gia trên thế giới;
trên cơ sở đó, công trình đã đưa ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Công trình “Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển”[21], tác giả Phan
Thanh Hải đã làm rõ inh nghiệm bảo tồn di sản của một số quốc gia trên thế
giới; khẳng định rằng,những kinh nghiệm bảo tồn di sản kiến trúc của các quốc
gia trên thế giới là bài học hữu hiệu cho Việt Nam trong thực hiện công tác bảo
tồn di sản kiến trúc. Công trình cũng đã đánh giáthực trạng hoạt động bảo tồn di
sản kiến trúc ở Thành phố Hồ Chí Minh; làm rõ nguyên nhân của thực trạng
này; qua đó đã đưa ra những giải pháp, định hướng, nhằm làm cho quá trình này
ngày càng hiệu quả hơn.

triển”[73, tr 38-39], tác giả Lê Thành Vinh cho rằng, việc nhận diện để có những
hiểu biết thấu đáo, đồng thời có cách ứng xử thích hợp trong nỗ lực bảo tồn là
những cơ sở quan trọng, là tiền đề để phát triển di tích làng cổ ở Đường Lâm.
Tác giả Khuất Tân Hưng trong bài viết “Bảo tồn và phát triển bền vững”[24,
tr.39-41], đã có những phân tích về việc phát triển bền vững trong bảo tồn di sản
văn hoá trên các quan niệm bền vững về tài nguyên nhân văn, xã hội, kinh tế và
môi trường. Tác giả Nguyễn Thu Hạnh trong bài viết “Phát triển du lịch từ cây
lúa”[22, tr.41] đã đề xuất việc tạo ra sự đột phá trong phát triển kinh tế cho di
tích làng cổ ở Đường Lâm thông qua chuỗi sản phẩm du lịch từ cây lúa, bao gồm
các sản phẩm: tour du lịch mùa lúa chín, du lịch tìm hiểu nông thôn, nghỉ ngơi
thư giãn, thưởng thức văn hoá ẩm thực từ hạt gạo, các sản phẩm du lịch từ vật
liệu truyền thống địa phương, tham quan làng cổ và di tích.
Trong công trình “Di sản Đường Lâm - Ẩm thực và Trang phục truyền
thống”[33], tác giả Phan Hải Linh đã nghiên cứu về nguyên liệu, cách chế biến các
món ăn, đồ uống của người dân trong những bữa ăn thường ngày cũng như trong
ngày tết, lễ; một số loại trang phục truyền thống từ quy trình dệt vải, phương pháp
nhuộm đến cách thức may trang phục, từ đó đề xuất một số biện pháp bảo tồn trang
phục và ẩm thực truyền thống của Đường Lâm.
Hội thảo ngày 20/11/2019 tại di tích làng cổ ở Đường Lâm, một số nhà
nghiên cứu, quản lý đã có bài phát biểu về giải pháp phát triển du lịch cho di tích
làng cổ Đường Lâm, như: Nguyễn Anh Tuấn ”Một số định hướng, giải pháp phát

8


triển du lịch tại làng cổ Đường Lâm”; Dương Văn Sáu “Kỹ năng hướng dẫn tham
quan và phục vụ khách du lịch tại làng cổ Đường Lâm”; Nguyễn Tiến Đạt “Giải
pháp phát triển du lịch ở Làng cổ Đường Lâm”; Nhà báo Hà Nguyên Huyến có
bài: “Du lịch Làng cổ ở Đường Lâm –Thực trạng và giải pháp”; Bùi Thị Thu
Phương “Khai thác nguồn tài nguyên di tích phục vụ cho phát triển du lịch: Vận


- Đánh giá thực trạng và nguyên nhân của thực trạng thực hiện chính sách bảo
tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay;
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính
sách bảo tồn và phát huy di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng:
Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ
thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Trong phạm vi khoanh vùng bảo vệ tại di tích kiến
trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay (164.02 ha).
Thời gian: Từ năm 2014 đến nay (vì đây là thời điểm Quy hoạch bảo tồn
và phát huy giá trị di tích làng cổ ở Đường Lâm được áp dụng trong việc bảo tồn
và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân
tích, so sánh, tổng hợp, thống kê; thu thập, sử lý tài liệu thứ cấp, điền dã thực
địa,
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận thực hiện chính sách bảo
tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di
tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ ở Đường Lâm hiện nay.


Theo Luật di sản văn hoá 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009, được
hợp nhất năm 2013 có quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây
dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm
đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”. [70, tr.2]
Theo Điều 28 Luật di sản văn hoá 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009,
được hợp nhất năm 2013 có quy định:
“Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu
của quốc gia hoặc của địa phương;
b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát
triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;
c) Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;
d) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát
triển kiến trúc, nghệ thuật”[70, tr.10]

12


Như vậy, theo quy định về các tiêu chí trên thì ta có thể hiểu di tích iến
trúc nghệ thuật là một bộ phận, là một phần của di tích lịch sử - văn hóa, có giá
trị tiêu biểu về iến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử, liên
quan đến iến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử, quá trình
hình thành, xây dựng và phát triển đất nước; là nơi ghi dấu những công sức, trí
tuệ của con người qua quá trình lao động, sáng tạo. Di tích iến trúc nghệ thuật
là tài sản quý giá của nhân loại, của đất nước là những bằng chứng cụ thể, chính
xác minh chứng cho một thời ỳ phát triển của lịch sử, chứa đựng các giá trị cả
về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Di tích iến trúc nghệ thuật tồn tại hông chỉ là dấu mốc về thời gian đã

những người có tay nghề cao tách ra hỏi nghề nông để chuyên lo việc sản xuất
để cung cấp cho người dân trong làng. Từ đây hình thành một đội ngũ thợ, nơi
trao đổi hàng hoá, phát triển dần lên, xưởng sản xuất và chợ quê cũng ra đời.Từ
đó xuất hiện một số làng nghề như: Nghề r n, nghề đúc, nghề dệt vải, nghề thủ
công mỹ nghệ...
- Đặc điểm Làng cổ Việt Nam:
Cổ: Những đối tượng, cổ vật được xem là cổ hi phải đạt được nhiều yếu
tố, trong đó có yếu tố có thời gian tồn tại trên 100 năm [70, tr.2]
Làng cổ Việt Nam là một đơn vị tụ cư truyền thống chủ yếu của người nông
dân Việt ở nông thôn (một số ít ở thành thị cũng được gọi là Làng), có những
đặc điểm nổi bật như: có địa vực, cơ sở hạ tầng, cơ cấu tổ chức, phong tục, tập
quán, tâm lý, quan niệm, tính cách và cả “hương âm”, "thổ ngữ" tức "giọng
làng" riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định trong quá trình lịch sử. Đặc biệt,
để duy trì trật tự, nền nếp, mỗi làng đều có hương ước, được coi như bộ luật của
làng; có thời gian tồn tại và phát triển trên 100 năm.
Làng cổ Việt Nam đã từng có đặc điểm tự trị, tự quản. Nhà nước chỉ can
thiệp vào làng trong việc lớn, trọng đại như: thu thuế, bắt lính, xử lý những vụ
án tranh chấp dân sự làng hông h a giải được, can thiệp hi có dịch bệnh
lớn,

, c n lại thuộc quyền tự trị, tự quản của các làng xã.
Cơ cấu tổ chức làng xưa đơn giản nhưng chặt chẽ, hệ thống tổ chức gồm

Hội đồng hương chính và Lý trưởng do dân làng tự bầu, Nhà nước phê chuẩn,
nếu vị chức sắc nào thực hiện trách nhiệm ém cỏi hay có sai phạm, dân làng sẽ
bầu người hác thay thế. Làng có đội ngũ tuần phiên, có trách nhiệm bảo vệ an
ninh, trật tự trong làng và ngoài đồng. Do tính chất tự trị, tự quản cao như thế
nên người ta đánh giá làng cổ truyền Việt Nam “như một nước cộng h a thu

14

nông thôn Việt Nam, có thời gian tồn tại lâu dài (trên 100 năm), về mặt kiến trúc

15


nghệ thuật phải phản ánh, thể hiện, chứa đựng được phong cách kiến trúc nghệ
thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử nước ta. Kiến trúc nghệ thuật ở đây có
thể được thể hiện ở nhiều hình thức hác nhau như: cấu trúc, quy hoạch của làng
cổ mang đậm tính truyền thống đặc trưng cho vùng, miền nông thôn ở Việt Nam;
kiến trúc của các công trình đơn lẻ gồm nhà ở dân dụng, các công trình công
cộng truyền thống như Đình, Đền, Miếu, Điếm, Quán.... Đây là các yếu tố cơ
bản để tạo nên kiến trúc, nghệ thuật của một làng cổ Việt Nam, tùy từng vùng,
miền, khu vực có các đặc trưng cụ thể khác nhau. Theo mức độ đặc trưng, số
lượng, loại hình các công tình di tích còn bảo tồn được, giá trị của di tích khác
nhau, di tích kiến trúc nghệ thuật làng cổ có thể xếp hạng ở các mức độ khác
nhau từ cấp tỉnh, quốc gia đến quốc gia đặc biệt.
1.1.2. Thực hiện chính sách
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể
để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian
nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương
hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị,
kinh tế, văn hóa...” [48, tr.475].
Theo từ điển Tiếng Việt (2011) “Chính sách là những sách lược và kế
hoạch cụ thể nhằm đề ra mục đích nhất định, dựa và đường lối chính trị chung
và tình hình thực tế mà đề ra” [49, tr.88]
Như vậy, có thể thấy rằng: Chính sách là những hành động, ứng xử của chủ
thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được
mục tiêu nhất định.
Cụm từ “chính sách” hi gắn việc thực hiện chức năng, vai tr của nhà
nước (khu vực công) được gọi là chính sách công. Thuật ngữ “chính sách” sử

vậy, có thể đưa ra một khái niệm chung về việc thực hiện chính sách công là một
giai đoạn trong chu trình chính sách công, “là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý
chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm
đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước”[7,tr.1].
Về cơ bản, việc thực hiện chính sách bao gồm nhiều giai đoạn. Theo các
tác giả Lê Như Thanh và Lê Văn H a, chu trình thực hiện chính sách công gồm
các bước: (1) Xây dựng và ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực hiện

17


chính sách công. (2) Tổ chức thực hiện các văn bản, chương trình, dự án,... thực
thi chính sách công. Giai đoạn này bao gồm nhiều nội dung nhỏ, như xây dựng
kế hoạch; tuyên truyền, phổ biến; tập huấn văn bản, bồi dưỡng những kiến thức
và kỹ năng cần thiết để triển khai; bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phú, tổ chức bộ
máy và nguồn nhân lực để triển khai; chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, đôn đốc. (3) Sơ
kết, tổng kết thực hiện [41, tr.109-111].
Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn xem xét quy trình tổ chức thực hiện
chính sách công bao gồm những nội dung sau:
“- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách.
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách.
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
- Duy trì chính sách
- Điều chỉnh chính sách
- Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
- Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm”. [7, tr.4-6].
1.1.3. Bảo tồn và phát huy
Có nhiều hái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy” tuỳ
từng lĩnh vực hác nhau, nhưng để làm rõ hơn hái niệm về bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa, ta có thể hiểu như sau:

để hoạt động bảo tồn được thực hiện đầy đủ và đúng nghĩa thì bên cạnh việc bảo
tồn cần có các hoạt động để phát huy giá trị di sản. Ngoài việc bảo vệ sự tồn tại
của các di sản văn hoá, bảo tồn còn phải lưa chọn những yếu tố để phát huy chúng,
để chúng có thể tồn tại trong đời sống xã hội. Mục đích cao nhất của bảo tồn là giữ
gìn sự tồn tại của di sản đồng thời phát huy giá trị của chúng thông qua việc đưa di
sản văn hóa vào cuộc sống . Quan điểm trên cần phải được nhìn nhận một cách linh
hoạt.
Nói tóm lại bảo tồn di sản văn hóa cần phải thực hiện đồng bộ với việc
khai thác, phát huy giá trị của nó trong đời sống. Bảo tồn và phát huy là hai mặt
hoạt động, phải có sự tương hỗ với nhau. Bảo tồn phải đi

m với phát huy giá

trị của văn hóa trong đời sống xã hội. Và ngược lại, phát huy các giá trị văn hoá
là đưa giá trị văn hóa đến cộng đồng, giúp cộng đồng phát triển kinh tế và đáp
ứng cho công tác bảo tồn di sản văn hoá hoàn thiện hơn. Vấn đề quan trọng là

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status