VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG THANH
ÁP DUNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG THANH
ÁP DUNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN VĂN ĐỘ
HÀ NỘI, 2020
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM
TỘI................................................................................................................. 52
3.1. Yêu cầu nâng cao chất lượng áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội............................................................................52
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội..................................................................... 56
KẾT LUẬN....................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Thống kê các vụ án hình sự do người dưới 18 tuổi thực hiện đã
được xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến năm 2019..........38
Bảng 2.2. Thống kê các tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện đã được
thụ lý và giải quyết trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến 2019....39
Bảng 2.3. Thống kê người dưới 18 tuổi phạm tội theo nhóm tuổi trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến năm 2019....................................................... 40
Bảng 2.4. Cơ cấu hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến năm 2019..................................... 41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người chưa 18 tuổi hay được gọi là người dưới 18 tuổi trong pháp luật
hình sự của Việt Nam. Xuất phát từ đặc điểm thể chất và tâm sinh lý chưa
phát triển hoàn toàn đầy đủ, trình độ nhận thức của họ còn hạn chế nên đây
chính là chủ thể đặc biệt trong pháp luật, họ thường nhận được nhiều sự quan
tâm hơn từ xã hội. Pháp luật có những chế định riêng dành cho người dưới 18
tuổi để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.Các quy định của pháp luật
về tội phạm thường dành riêng một nội dung để nói về việc áp dụng các hình
18 tuổi của hệ thống tòa án hai cấp trên địa bản tỉnh vẫn còn bộc lộ hạn chế, như:
Quán triệt, áp dụng chưa đúng quy định của BLHS về hình phạt nói chung, hình
phạt tù nói riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; không thống nhất khi xác
định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; một số trường hợp áp
dụng chưa đúng các điều, khoản của Bộ luật hình sự; áp dụng tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chưa phù hợp dẫn đến xử quá nhẹ hoặc quá nặng,
mức hình phạt tù chưa phù hợp…
Từ thực trạng đó đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện lý luận về áp dụng
hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đánh giá thực tiễn
để đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù có thời
hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong công tác xét xử. Vì vậy, tác giả
chọn đề tài: “Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” để thực hiện luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về áp dụng hình phạt tù nói chung và áp dụng hình phạt tù
đối với người dưới 18 tuổi nói riêng đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu, nhà khoa học:
2
Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền (2012), Hình phạt tù có thời hạn áp
dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu khái niệm, mục
đích, điều kiện áp dụng của hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của luật hình sự Việt Nam từ năm 1945
đến nay; thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội thông qua số liệu của các Tòa án và các bản án của Tòa án trong
những năm gần đây. Từ đó nêu lên thực trạng áp dụng hình phạt này trong
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua số liệu của các Tòa án và các
bản án của Tòa án trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2010 đến 2016. Từ đó
nêu lên thực trạng áp dụng hình phạt này trong thực tiễn và đưa ra giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình
phạt này trong thực tiễn.
Tác giả Trần Thị Thu Hằng (2011), Hình phạt tù và thi hành hình phạt
tù - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội. Bằng cách tiếp cận tổng thể từ cái chung đến cái cụ thể, đi
từ lý luận đến đánh giá thực tiễn xét xử, làm rõ khái niệm, mục đích của hình
phạt tù, vai trò ý nghĩa, bản chất pháp lý của hình phạt tù. Làm rõ các vấn đề
lý luận về thi hành hình phạt tù như khái niệm; các điều kiện thi hành hình
phạt tù; trình tự thủ tục thi hành hình phạt tù. Đánh giá thực trạng áp dụng
hình phạt tù và thi hành hình phạt tù nhằm làm rõ những ưu điểm, hạn chế và
những nguyên nhân của nó. Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước
về hình phạt tù và thi hành hình phạt tù, đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp
phần nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù và thi hành hình phạt tù.
Tác giả Nguyễn Mạnh Tuấn (2014), Quyết định hình phạt tù có thời
hạn theo Luật Hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn của địa bàn
thành phố Hà Nội),Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội.Đây là công trình nghiên cứu một cách khá toàn diện về quyết định hình
phạt tù có thời hạn theo pháp luật hình sự Việt Nam. Luận văn tổng hợp
4
những quan điểm khoa học về quyết định hình phạt tù có thời hạn, việc
nghiên cứu một cách hệ thống về mặt lý luận chế định quyết định hình phạt tù
có thời hạn, trên cơ sở đó giải quyết những vướng mắc mà thực tiễn đặt ra, đề
xuất những phương án hoàn thiện pháp luật về vấn đề quyết định hình phạt tù
có thời hạn, đảm bảo sự nhận thức thống nhất trong thực thi pháp luật là vấn
đề mang tính cấp bách, có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và áp dụng
trình nghiên cứu trên đã giúp tác giả hình thành hệ thống các vấn đề lý luận liên
quan đến áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuồi, giúp tác giả rút ra được
các bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện việc quyết định hình phạt của
tòa án nhân dân hai cấp đối với người dưới 18 tuổi. Vì vậy, hy vọng việc nghiên
cứu về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ
thực tiễn tỉnh Bắc Ninh sẽ góp phần khiêm tốn mang tới những cái nhìn mới mẻ
về vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về áp dụng hình
phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi, phân tích quy định của pháp
luật và đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới
18 tuổi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến năm 2019, Luận văn đề
xuất các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối
với người dưới 18 tuổi ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội: Khái niệm, đặc điểm, nội dung và ý nghĩa của áp
dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội của các tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến
năm 2019, tìm ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân;
6
- Phân tích các yêu cầu hoàn thiện pháp luật về áp dụng hình phạt tù đối
với người dưới 18 tuổi và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng áp
dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đây là công trình nghiên cứu khoa học công phu, đề cập tương đối có
hệ thống và toàn diện về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới
18 tuổi phạm tội thông qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh, đồng thời góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về áp dụng
hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể được Toà án các cấp tham khảo để áp dụng
đúng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong quá
trình xét xử, quyết định hình phát, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh và phòng, chống tội phạm chưa thành niên và có thể được sử dụng trong
nghiên cứu, giảng dạy, học tập chuyên ngành Luật hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được cơ cấu thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt tù có thời hạn
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Chương 2: Pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng hình phạt tù có
thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng hình
phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ
THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
1.1. Khái niệm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới
trách nhiệm hình sự (Điều 2 Bộ luật Hình sự): “Chỉ người nào phạm một tội
đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Pháp
luật hình sự của Việt Nam chỉ cho phép các cơ quan có thẩm quyền thực hiện
việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội
(theo quy định của pháp luật), chỉ người nào phạm tội người ấy mới phải chịu
trách nhiệm hình sự theo đúng quy định. Quy định này của pháp luật hình sự
Việt Nam thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, một đặc thù của
pháp luật Việt Nam, thể hiện mục đích áp dụng hình phạt tù là giáo dục, cải
tạo người phạm tội để họ trở thành người lương thiện có ích cho xã hội, đồng
thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, xử đúng người đúng tội đúng
hình phạt.
Hình phạt nói chung và hình phạt tù có thời hạn nói riêng được quy
định chi tiết trong pháp luật Hình sự, do Tòa án nhân dân nhân danh Nhà
nước áp dụng đối với người phạm tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp
luật. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất nên Hiến pháp, Luật
tổ chức Tòa án, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự đều khẳng định Tòa
án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chỉ có
Tòa án mới có quyền xét xử và quyết định hình phạt với người phạm tội theo
trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Khi quyết định hình
phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình
sự, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, chính xác, khách quan, bảo đảm
không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của
10
Tòa án. Theo quy định của pháp luật nước ta, chỉ có Tòa án mới có quyền xét
xử và ra bản án hình sự áp dụng hình phạt. Quy định này còn thể hiện sự
thống nhất giữa tội phạm và hình phạt. Tội phạm là cơ sở phải chịu hình phạt,
ngược lại hình phạt là hậu quả pháp lý của tội phạm nhằm trừng trị vào giáo
dục người phạm tội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng
là phạm tội lần đầu và thế nào là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Hiểu tính chất, mức độ tăng nặng, giảm nhẹ khác nhau là phải xác định
trong mỗi tình tiết đó thì trường hợp nào nghiêm trọng hơn trường hợp nào.
Ví dụ: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” thì phải xác định tỷ lệ
tiền bồi thường so với tổng số tiền thiệt hại mà người phạm tội gây ra, để xem
mức độ giảm nhẹ nhiều hay ít.
Hiểu đủ là xác định đủ số lượng các tình tiết được quy định tại mỗi
điểm của Điều 51, 52 BLHS năm 2015 mà nhà làm luật đã quy định bao nhiêu
tình tiết? Ví dụ: Điểm r nhà làm luật quy định một tình tiết giảm nhẹ nhưng
điểm a khoản 1 Điều 51 nhà làm luật quy định hai tình tiết giảm nhẹ chứ
không phải một hoặc điểm a khoản 1 Điều 52 nhà làm luật quy định một tình
tiết tăng nặng nhưng điểm l khoản 1 Điều 52 nhà làm luật quy định đến 5 tình
tiết tăng nặng chứ không phải chỉ có một tình tiết...
Ví dụ: Một người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vận chuyển trái phép
hàng hóa qua biên giới là thuộc trường hợp phạm tội quy định tại điểm d
khoản 2 Điều 189 BLHS năm 2015. Tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn”
trong trường hợp phạm tội cụ thể này đã là dấu hiệu định khung hình phạt,
nên khi quyết định hình phạt, Tòa án không được áp dụng tình tiết này là tình
tiết tăng nặng đối với bị cáo nữa.Các tình tiết là dấu hiệu định khung hình
phạt thực chất là dấu hiệu cấu thành tội phạm, nhưng nó là dấu hiệu của cấu
thành khác loại (cấu thành tăng nặng hoặc cấu thành giảm nhẹ).
12
Ví dụ, khoản 1 Điều 173 BLHS (Tội trộm cắp tài sản) là cấu thành cơ
bản có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ
06 tháng đến 03 năm và là tội phạm ít nghiêm trọng. Nhưng nếu người phạm
tội lại có hành vi hành hung để tẩu thoát thì thuộc trường hợp quy định tại
điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS là cấu thành tăng nặng, có khung hình phạt tù
từ 02 năm đến 07 năm và là tội nghiêm trọng. Ví dụ, khoản 1 Điều 119 (Tội
sự của trẻ em theo những tiêu chí riêng. Tuy nhiên một điều rõ ràng là tuổi
chịu TNHS của trẻ em không nằm ngoài phạm vi tuổi chịu TNHS. Tuổi chịu
TNHS là độ tuổi được luật hình sự quy định nhằm xác định khi một người
phát triển đến độ tuổi đó mới có thể phải chịu TNHS hoặc loại trách nhiệm,
mức hình phạt về hành vi phạm tội do mình gây ra. Khi bàn về khái niệm tuổi
chịu TNHS, trong các văn bản pháp luật, những thuật ngữ liên quan đến tuổi
chịu TNHS được sử dụng khá phổ biến nhưng không được định nghĩa hoặc
không có sự thống nhất trong cách gọi và cách hiểu. Trong nhiều tài liệu, tuổi
chịu TNHS có thể được hiểu như tuổi tối thiểu của TNHS. Tuy nhiên, việc sử
dụng thuật ngữ tuổi tối thiểu của TNHS đôi khi dẫn đến việc cần phải phân
biệt được các giới hạn tuổi khác nhau. Chẳng hạn, ở những quốc gia tồn tại
hai giới hạn độ tuổi tối thiểu chịu TNHS, độ tuổi tối thiểu trên và độ tuổi tối
thiểu dưới thì tuổi tối thiểu của TNHS phải được xác định theo hai mức. Theo
đó, người đạt được độ tuổi tối thiểu dưới nhưng chưa đạt độ tuổi tối thiểu trên
nếu thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm thì phải chịu
TNHS về một số tội phạm cụ thể hoặc trong một số trường hợp cụ thể. Người
đạt độ tuổi tối thiểu trên phải chịu TNHS trong mọi trường hợp.
Độ tuổi chịu TNHS của trẻ em được xây dựng dựa trên sự phát triển về
mặt thể chất và tinh thần của con người; trình độ phát triển về nhận thức xã
hội; điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong từng thời kỳ. Tham
14
khảo độ tuổi tối thiểu của trẻ em phải chịu TNHS trong pháp luật hình sự của
các nước cho thấy, có sự khác nhau rõ rệt về cách quy định mức tối thiểu về
độ tuổi chịu TNHS của trẻ em cũng như sự phân chia nhóm tuổi chịu TNHS.
Sự khác biệt trong pháp luật của các quốc gia cũng phản ánh sự thiếu đồng
thuận trong cộng đồng quốc tế về độ tuổi chịu TNHS.
Người dưới 18 tuổi là người đang trong quá trình phát triển và hoàn
thiện về thể chất, tâm sinh lý và nhân cách sống. Theo hướng dẫn tại Thông tư
chung và riêng của pháp luật hình sự, buộc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
phạm tội phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất
định nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở
thành công dân có ích cho xã hội; bảo vệ công lý, công bằng xã hội.
Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác
dụng răn đe, phòng ngừa. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18
tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã
thành niên phạm tội tương ứng và trong thời gian thích hợp ngắn nhất. Quy
định này phù hợp với đánh giá về sự thiếu hoàn thiện trong nhận thức và kinh
nghiệm sống của người dưới 18 tuổi và cũng là biểu hiện của đường lối xử lý
khoan hồng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm hạn chế tác động tiêu
cực của môi trường trại giam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đồng thời,
quy định này cũng là sự thể chế hóa các nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình
sự người dưới 18 tuổi được ghi nhận trong Công ước quốc tế về Quyền trẻ
em, theo đó, không có trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp
hoặc tùy tiện ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tư pháp người dưới 18 tuổi.
Người dưới 18 tuổi phạm pháp xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong
đó quan trọng nhất là nguyên nhân xã hội, nguyên nhân tổng hoà sự giáo dục
của gia đình, nhà trường, xã hội, quản lý nhà nước đối với xã hội nói chung,
16
trong đó có các thiết chế về phòng ngừa chung và những chính sách khác đối
với trẻ em.
Mục tiêu mà Nhà nước ta đang hướng đến là xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, do đó mọi chính sách của Đảng và Nhà nước trong đó
có chính sách pháp luật đều hướng đến xây dựng một nhà nước pháp quyền,
bảo vệ tối đa quyền con người. Các biện pháp cưỡng chế hình sự, tiêu biểu là
Trước hết, tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số
49/NQ-TW), trong đó Đảng ta đã chỉ rõ, cần phải “Coi trọng việc hoàn thiện
chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và
tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng
áp dụng hình phạt tiền, hạn chế áp dụng hình phạt tử hình…”. BLHS số
100/2015/QH13 (gọi là BLHS năm 2015) được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp
thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực toàn phần kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2018 đã kịp thời thể chế hoá chủ trương cải cách tư
pháp của Đảng, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp.
Bên cạnh đó, trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay,
tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện, các
cơ quan tư pháp còn một số lúng túng trong việc phòng ngừa và đấu tranh
chống các tội phạm này, nên việc áp dụng các loại hình phạt nói chung và
hình phạt tù nói riêng có vai tròng rất qua trọng. Hình phạt với tính chất là
biện pháp trách nhiệm hình sự được Nhà nước sử dụng như là một công cụ,
phương tiện quan trọng để trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội. Nó
thông thường gắn liền với việc áp dụng cưỡng chế của nhà nước. Tính cưỡng
chế của hình phạt, tức là dùng quyền lực nhà nước bắt phải tuân theo, được
thể hiện ở nội dung trừng trị là một đặc điểm cơ bản của hình phạt; đặc điểm
này cho phép phân biệt hình phạt với các biện pháp tác động xã hội khác. Nội
18
dung trừng trị của hình phạt có thể nặng, nhẹ khác nhau, nhưng chúng đều có
cùng tính chất là một loại biện pháp cưỡng chế trong hệ thống các biện pháp
cưỡngchế nhà nước.
Hình phạt là một hiện tượng xã hội, sự hình thành và phát triển của nó
gắn với từng giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội loài người, nên
nó trước hết mang bản chất xã hội. Hình phạt thể hiện bản chất xã hội chủ yếu
sự và tố tụng hình sự. Quan hệ này diễn ra vào thời điểm người dưới 18 tuổi
chưa đủ trưởng thành về tâm sinh lý cũng như hiểu biết pháp luật. Các thủ tục
tố tụng đặc biệt hết sức quan trọng để đảm bảo sự tiếp xúc với cơ quan tiến
hành tố tụng thì các em được đối xử một cách thân thiện, công bằng, được tạo
cơ hội và hướng dẫn để chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình, được tạo
cơ hội tránh mắc phải sai phạm như vậy trong tương lai và có trách nhiệm
chấp hành pháp luật.Việt Nam tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em
năm 1989 và đã thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền trẻ
em, nhất là những trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội. Để có thể kết luận
người dưới 18 tuổi là người phạm tội thì cần phải có bản án kết tội đã có hiệu
lực pháp luật của cơ quan Tòa án. Bản án là kết quả của một quá trình TTHS
của các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử
người dưới 18 tuổi. Tất cả những hoạt động này ảnh hưởng, liên quan trực
tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi khi họ tham gia
tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo trong vụ án hình sự và đến tính khách
quan, tính pháp lý của bản án. Do vậy, chính sách hình sự còn có nội dung là
những nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị can,
bị cáo là người dưới 18 tuổi. Với lý do này, pháp luật Tố tụng hình sự Việt
Nam đã có những quy định về thủ tục tố tụng đặc biệt dành cho người dưới 18
tuổi khi họ là bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự. Những quy định này
được quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 20