SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT LANG CHÁNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC
TIẾT 66: ÔN TẬP TIẾNG VIỆT - LỚP 6
Người thực hiện: Nguyễn Thị Tuyết
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường PTDTBT THCS Giao Thiện
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THANH HOÁ NĂM 2019
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
2.3. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
toàn diện trong mọi lĩnh vực.
Trong những năm qua, kể từ ngày Bộ Giáo dục & Đào tạo có chủ trương
đổi mới SGK thì những người dạy môn Ngữ văn như chúng tôi không ít có
những băn khoăn trăn trở. Đổi mới sách giáo khoa kéo theo sự thay đổi cả
phương pháp giảng dạy cũng như quan niệm, cách nhìn nhận rộng hơn, xa hơn.
Để phù hợp với việc dạy và học theo phương pháp mới thì học sinh cần phải tích
cực, tự giác, chủ động và sáng tạo.
Cùng với các bộ môn trong nhà trường THCS, môn Ngữ văn cũng hướng
đến nhiệm vụ chung ấy và có những đóng góp theo đặc trưng riêng. Trong bộ
môn Ngữ văn, phân môn Tiếng Việt cũng có vai trò và tác dụng quan trọng
trong việc giáo dục và đào tạo học sinh về nhiều mặt như tư tưởng, tình cảm,
đạo đức. Là môn học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn
ngữ học, hệ thống hóa khái niệm, quy tắc hoạt động của Tiếng Việt và những
sản phẩm của nó trong hoạt động giao tiếp. Nó có vai trò trọng yếu trong việc
giữ gìn và phát huy tiếng nói dân tộc.
Vậy mà thực trạng hiện nay cho thấy học sinh chưa thật hứng thú và sáng
tạo trong giờ học Tiếng Việt, mà đặc biệt là trong những tiết ôn tập. Bởi lẽ, ôn
tập sau mỗi chương, mỗi phần là việc làm cần thiết không thể thiếu để giáo viên
củng cố, khắc sâu và hệ thống hóa kiến thức cho học sinh. Qua thực tế dự giờ
tiết dạy của giáo viên cùng trường, khác trường đã cho thấy trong những giờ học
ôn tập Tiếng Việt, giáo viên chỉ đơn thuần cho học sinh nhắc lại lý thuyết một
cách nhàm chán, lặp lại mà chưa có sự vận dụng sáng tạo, đổi mới linh hoạt.
Làm thế nào để tổ chức giờ học ôn tập đạt hiệu quả như mong muốn? Đó là điều
mà người giảng dạy bộ môn Ngữ văn như tôi luôn trăn trở, băn khoăn. Xuất phát
từ những lí do trên mà tôi rất chú ý đến “Đổi mới phương pháp tổ chức dạy
học tiết 66: Ôn tập Tiếng Việt - Lớp 6”.
Đến với đề tài này tôi mạnh dạn đưa ra một vài kinh nghiệm nhỏ trong
giờ ôn tập Tiếng Việt ở học kì I của khối lớp khối lớp 6.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Phần từ loại cụm từ lớp 6 nhìn chung là không khó, nhưng đối với các em
học 2017- 2018, tôi đã bổ sung và điều chỉnh một số nội dung sau:
- Trong phần giới thiệu bài, tôi đã điều chỉnh là sử dụng sơ đồ tư duy để
khái khát toàn bộ kiến thức mà học sinh cần phải thực hiện.
- Hoạt động 1: Ôn tập lí thuyết
+ Bước 1. Trò chơi ô chữ: Thay đổi một số câu hỏi trong bảng dữ kiện để
phù hợp với kiến thức của hoạt động 1.
+ Bước 2. Thi trả lời nhanh:
Bổ sung phần kiến thức về lỗi dùng từ.
Dùng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, phân
loại từ theo nguồn gốc, lỗi dùng từ.
+ Bước 3: Thông qua hoạt động nối thông tin ở hai cột (từ loại và khái
niệm) nhằm củng cố các khái niệm về từ loại cho học sinh.
- Hoạt động 2: Luyện tập thực hành
+ Phần bài tập nhận biết và thông hiểu.
Bài tập 1: Thay đổi ngữ liệu để vừa sức với học sinh.
Bổ sung bài tập 2 để khắc sâu kiến thức về lỗi dùng từ.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
- Hiện nay toàn nghành Giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập. Trong
tiến trình một tiết dạy học thì nội dung và phương pháp dạy học bao giờ bao giờ
cũng gắn bó với nhau, mỗi nội dung đòi hỏi một phương pháp thích hợp. Phương
pháp tích cực hoá hoạt động của người học: Lấy học sinh làm trung tâm, trong đó
người dạy là người hướng dẫn, tổ chức các hoạt động của học
3
sinh, mỗi học sinh đều được tham gia hoạt động, đều được bộc lộ và phát triển
năng lực, kĩ năng của mình.
- Các nhà nghiên cứu về khoa học phương pháp dạy học đã đưa ra một
thích tư duy sáng tạo, thích phát hiện những điều mới lạ.
- Nhà trường không ngừng trang bị thêm về cơ sở vật chất để thuận lợi
cho việc dạy và học. Được sự quan tâm sâu sát kịp thời của phụ huynh học sinh.
b. Khó khăn:
- Là học sinh đầu cấp nên các em còn nhiều bỡ ngỡ như trường mới thầy
cô giáo mới, bạn mới, mỗi thầy cô phụ trách một môn và đặt biệt là phương
pháp dạy học cũng mới lạ.
- Phần nhiều học sinh còn thụ động trong học tập, ít phát biểu xây dựng
bài, gặp câu hỏi khó thì không động não suy nghĩ. Giờ ôn tập lâu nay thường
được tổ chức dưới hình thức “dò bài” và gọi học sinh lên làm bài tập. Vì vậy mà
học sinh đón nhận giờ ôn tập với một tâm lí nặng nề, căng thẳng.
4
- Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh không mấy hứng thú với
giờ ôn tập vì phải ôn lại lượng kiến thức khá nhiều. Đối với học sinh khá giỏi thì
nhiệm vụ này không quá nặng nề nhưng chẳng có gì hấp dẫn còn đối với học sinh
yếu và lười thì đó là công việc nặng. Tuy nhiên, nhất là các em học sinh bậc THCS
đều mang tâm lí “thi đua” với bạn và luôn mong muốn chiến thắng, được khen
được tuyên dương. Chính vì vậy mà tôi nhận thấy việc tổ chức giờ ôn tập Tiếng
Việt dưới hình thức bằng các trò chơi, thi đua giữa các đội, các tổ trong lớp sẽ tạo
cho các em sự háo hức hăng say từ các bước chuẩn bị cho đến giờ ôn tập để nắm
vững kiến thức sẽ trở nên nhẹ nhàng thoải mái với các em hơn.
- Cơ sở vật chất thiếu thốn, về trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học
theo phương pháp mới còn hạn chế.
- Giáo viên tự làm đồ dùng dạy học nên mất nhiều thời gian, điều này ít
nhiều cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng việc soạn giảng của giáo viên.
c. Số liệu thống kê:
Sau đây là kết quả bài kiểm tra (15phút) sau giờ ôn tập Tiếng Việt trước
khi áp dụng đề tài. (HKI, năm học 2017 – 2018).
13
31
38
Trung bình
Số
Tỷ lệ
lượng
%
17
14
54
41
Yếu
Kém
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
lượng
% lượng
%
2
5
+ Ôn lí thuyết.
+ Luyện tập thực hành.
5
Sau đây tôi chọn Tiết 66: Ôn tập Tiếng Việt (HKI lớp 6). Trước khi tiến
hành ôn tập, giáo viên giới thiệu cho học sinh nắm được nội dung khái quát của
tiết ôn tập thông qua sơ đồ tư duy sau đây:
HOẠT ĐỘNG 1: Ôn tập lí thuyết( 15 phút)
Bước 1: Trò chơi ô chữ (đại diện các đội) (4 phút).
- Thể lệ: khi nghe xong câu hỏi học sinh đưa tay trả lời, đội nào đưa tay
trước được quyền trả lời.
- Trả lời đúng 1 ô chữ hàng ngang: 5điểm
- Trả lời đúng ô chữ hàng dọc : 15 điểm.
(Chỉ được giải ô chữ hàng dọc khi đã tìm được tất cả các ô chữ hàng ngang)
- Phải khái quát dữ kiện ô chữ hàng dọc: 10 điểm; nếu chỉ giải được ô chữ
mà không nêu được dữ kiện: 5 điểm.
Cách tiến hành: Giáo viên treo một bảng phụ có ô chữ và một bảng phụ
nêu dữ kiện (dán kín).
Giáo viên lần lượt gỡ dữ kiện, học sinh quan sát trả lời và gỡ từng ô chữ
sau khi học sinh trả lời đúng.
Bảng 1. Dữ kiện của các ô chữ hàng ngang
1. 6 chữ cái: Chức vụ điển hình của nó là làm chủ ngữ trong câu.
2. 5 chữ cái: Từ gồm một tiếng.
3. 6 chữ cái: Từ ghép và từ láy thuộc kiểu cấu tạo của từ…
4. 5 chữ cái: Đơn vị tạo nên từ.
5. 5 chữ cái: Đặc điểm của danh từ riêng.
6. 12 chữ cái: Những từ có nhiều nét nghĩa gọi là…
7. 11 chữ cái: Hiện tượng … tạo ra từ nhiều nghĩa.
Ỗ
N
U
I
H
Ầ
D
A
I
Ể
C
T
N
Ù
N
V
Ề
N
H
Ừ
V
N
H
Ê
T
Ừ
Ơ
P
N
H
H
Ĩ
Ế
N
N
H
G
O
Ĩ
A
T
G
Ứ
C
A
A
Giáo viên: Phần Tiếng Việt ở học kì I đã cung cấp cho chúng ta một số
Bước này nhằm củng cố các khái niệm về từ loại.
TỪ LOẠI
1. Danh từ
2. Động từ
3. Tính từ
KHÁI NIỆM
… là những từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hoạt
A
động, trạng thái.
B …là những từ chỉ lượng ít hay nhiều của sự vật.
C ...là những từ dùng để trỏ vào sự vật nhằm xác định vị trí của
sự vật trong không gian, thời gian.
D
4. Số từ
5. Lượng từ
6. Chỉ từ
ĐÁPÁN:
…là những từ chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm.
E …là những từ chỉ số lượng, và thứ tự của sự vật.
G …là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.
1-D;
Danh từ
Cụm danh từ
Động từ
Cụm động từ
Tính từ
Cụm tính từ
Sau đây là những mảnh giấy HS dùng để ghép nối
Ba, bốn, mười
một trăm,…
Các, tất cả,
toàn bộ …;
mấy, mọi, vài...
Ấy, đó, nọ, kia,
đấy…
Học sinh, bộ
đội, Thạch
Sanh
Đi, chạy, ăn,
đọc…; dám,
định, phải…
6. Danh từ - cụm danh từ
7. Động từ - cụm động từ
8 Tính từ - cụm tính từ
9. Số từ
10. Lượng từ
11. Chỉ từ
HOẠT ĐỘNG 2: Luyện tập thực hành (25 phút)
- Thể lệ: Đại diện các đội dự thi và cả lớp. Đội nào làm nhanh và đúng
nhiều sẽ được điểm cao.
- Cách tiến hành: Giáo viên treo bảng phụ có chép bài tập và yêu cầu học
sinh làm vào bảng nhóm lần lượt từng câu. Hết thời gian, giáo viên yêu cầu học
sinh đại diện nhóm đưa bảng lên dán, sau đó các nhóm nhận xét chéo về bài làm
của các nhóm. Cuối cùng giáo viên đưa đáp án nếu học sinh làm sai nhiều, nếu
sai ít thì sửa trực tiếp vào bảng của học sinh.
10
Nội dung bài tập:
A. Phần bài tập nhận biết và thông hiểu:
Bài tập 1. Đọc đoạn văn và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“ Có một con ếch sống lâu ngày trong một giếng nọ. Xung quanh nó chỉ
có vài con nhái, cua, ốc bé nhỏ. Hằng ngày nó cất tiềng kêu ồm ộp làm vang
động cả giếng, khiến các con vật kia rất hoảng sợ. Ếch cứ tưởng bầu trời trên
đầu chỉ bé bằng chiếc vung và nó thì oai như một vị chúa tể.
Một năm nọ, trời mưa to làm nước trong giếng dềnh lên, tràn bờ, đưa ếch
ta ra ngoài.
(Trích Ếch ngồi đáy giếng - SGK Ngữ văn 6 tập I).
a. Từ “đầu’ ở trong đoạn trích trên được dùng với nghĩa nào?
b. Tìm các từ mượn?
c. Nhận biết số từ, lượng từ, chỉ từ có trong đoạn văn trên?
con
con
vị
T2
ếch
giếng
nhái, cua, ốc
ngày
vật
bầu trời
chúa tể
năm
nước
Phụ ngữ sau
(đặc điểm, vị trí)
s1
s2
nọ
bé nhỏ
kia
trên đầu
nọ
trong
giếng
Phụ ngữ sau
bằng chiếc vung
như một vị chúa tể
Bài tập 2: Hãy chỉ ra những lỗi dùng từ trong những câu sau và nêu cách
sửa? a. Em rất yêu con mèo nhà em, vì con mèo nhà em rất hay bắt chuột.
b. Truyện cổ tích đã tái hiện rất linh động cuộc sống của người dân Việt
Nam xưa kia.
c. Cả lớp lẳng lặng nghe cô giáo giảng bài.
Trả lời:
a - Lỗi: Lặp từ:
- Sửa: Em rất yêu con mèo nhà em, vì nó hay bắt chuột.
b. - Lỗi: Lẫn lộn các từ gần âm.
- Sửa: Truyện cổ tích đã tái hiện rất sinh động cuộc sống của
người dân Việt Nam xưa kia.
c. - Lỗi: Dùng từ không đúng nghĩa.
- Sửa: Cả lớp im lặng nghe cô giáo giảng bài.
B. Phần bài tập vận dụng sáng tạo:
Hãy viết một đoạn văn ngắn (7-10 câu) kể lại buổi lễ chào cờ đầu tuần ở
trường em, trong đó có sử dụng từ láy, từ mượn, danh từ riêng. Sau khi học sinh làm
xong, gọi học sinh lên bảng trình bày (hoặc thu vở một số em về nhà chấm điểm).
Hoạt động 3: Tổng kết (2 phút)
Giáo viên tổng kết điểm các đội, nhận xét về tinh thần chuẩn bị bài, thái
độ học tập của học sinh. Yêu cầu học sinh về nhà chuẩn bị bài mới.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Học sinh ngày càng tiến bộ hơn trong học tập, kết quả chất lượng cao
hơn. Đó luôn là niềm mong mỏi của những ngừơi giáo viên. Để có được điều
đó, bản thân chúng tôi luôn nghiên cứu tìm tòi để tìm ra phương pháp dạy hợp lí
và đem lại hiệu quả cao nhất cho học sinh.
8
6
25
18
Khá
Số
lượng
Tỷ lệ
%
16
17
50
50
Trung bình
Số
Tỷ lệ
lượng
%
8
11
25
Qua đây, toâi thấy rằng, việc nghiên cứu tìm ra phương pháp giảng dạy
phù hợp cho đặc trưng môn học là nhiệm vụ thiết yếu của người giáo viên đứng
lớp. Làm thế nào để tìm ra phương pháp phù hợp nhất có hiệu quả nhất để áp
dụng vào việc giảng dạy cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của
giáo viên và học sinh ở Trường THCS.
Để áp dụng tốt đề tài này, giáo viên không ngừng tham khảo thêm nhiều
tài liệu, đặc biệt là sách có nội dung kiến thức liên quan đến chương trình dạy và
học ở trường phổ thông của Nhà xuất bản Giáo dục để ngày càng nâng cao trình
độ chuyên môn và tìm ra nhiều phương pháp dạy học cho mình. Học sinh cần
trang bị cho mình bộ sách tham khảo về phân môn Tiếng Việt như về từ, câu…
Ở nhà, tích cực học bài và làm bài tập trước khi đến lớp. Bản thân tôi luôn
lắng nghe ý kiến đóng góp của quý thầy cô đồng nghiệp, quý cấp lãnh đạo và
luôn nghiên cứu, tìm tòi, tham khảo tài liệu nhằm nâng cao phương pháp giảng
dạy cho mình.
Với đề tài này có thể áp dụng cho các tiết ôn tập ở tất cả các khối lớp, đặc
biệt là khối lớp 6.
Có thể nói rằng, niềm vui của người giáo viên đứng lớp là khi thấy được
học sinh của mình ngày càng tiến bộ hơn trong học tập. Đó luôn là niềm mong
mỏi của những người giáo viên như chúng tôi. Có được điều đó, giáo viên giảng
dạy luôn nghiên cứu tìm tòi để tìm ra phương pháp giảng dạy hợp lí, đem lại
hiệu quả cao nhất cho học sinh.
3.2. Kiến nghị:
Để thực hiện và đáp ứng yêu cầu của đề tài này, giáo viên giảng dạy
khuyến khích học sinh trang bị cho mình bộ sách tham khảo, hướng dẫn học
sinh tiếp cận một cách tích cực và hiệu quả nhất. Nhà trường tăng cường thêm
sách báo ở Thư viện như báo Văn học tuổi trẻ, những quyển sách có nội dung
kiến thức về Từ và Từ loại Tiếng Việt.
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện thời gian và kinh nghiệm
giảng dạy còn hạn chế. Rất mong được lắng nghe lời nhận xét, đóng góp ý kiến
của quý thầy cô đồng nghiệp và quý cấp lãnh đạo để tôi tiếp tục rút kinh
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Tuyết.
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường PTDTBT THCS Giao Thiện.
TT
Tên đề tài SKKN
1.
Nguyên nhân và biện pháp khắc
phục lỗi chính tả cho học sinh
THCS.
Một số kinh nghiệm bồi dưỡng
học sinh giỏi Ngữ văn 9.
Một số phương pháp dạy văn tả
cảnh lớp 6.
Đổi mới phương pháp tổ chức dạy
học tiết 66: Ôn tập Tiếng Việt Lớp 6.
2.
3.
4.
Cấp đánh giá xếp
loại
Kết quả