BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGÔ THỊ AN
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
THỰC TIỄN TẠI HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH
DƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP. HồLỜI
Chí CAM
Minh ĐOAN
– Năm 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGÔ THỊ AN
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
THỰC TIỄN TẠI HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
ABSTRACT
LỜI NÓI ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI .... 6
1.1. Khái quát chung về giải quyết tranh chấp đất đai ................................. 6
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm tranh chấp đất đai ......................................... 6
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai .................................................. 6
1.1.1.2. Các dạng tranh chấp đất đai .................................................... 9
1.1.1.3. Đặc điểm của tranh chấp đất đai ........................................... 10
1.1.1.4. Nguyên nhân tranh chấp đất đai............................................ 12
1.1.2. Khái niệm, nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai ................... 15
1.1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai ............................... 15
1.1.2.2. Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp đất đai ............................. 16
1.2. Trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai ........... 19
1.2.1. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai .............................................. 19
1.2.1.1. Các bên tranh chấp tự thương lượng, hòa giải ...................... 19
1.2.1.2. Hòa giải ở cơ sở .................................................................... 20
1.2.1.3. Hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã tại nơi có đất ....... 21
1.2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai ................................... 27
1.2.2.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND........... 27
1.2.2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại TAND ........... 31
1.2.3. Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai ........................................... 33
1.2.3.1. Thủ tục hành chính tại UBND .............................................. 33
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thống kê số liệu hòa giải tranh chấp đất đai cấp xã trên địa bàn huyện
Bắc Tân Uyên ............................................................................................................ 46
Bảng 2.2. Thống kê số liệu hòa giải tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh Bình Dương
................................................................................................................................... 47
Bảng 2.3. Thống kê tình hình thụ lý, giải quyết các loại vụ việc
(Từ ngày
01/10/2015 đến ngày 30/11/2019) ............................................................................ 50
Bảng 2.4. Thống kê số lượng án hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán tại TAND
huyện Bắc Tân Uyên (Từ 01/10/2015 đến 30/11/2019) ........................................... 51
Bảng 2.5. Thống kê hòa giải thành trong giải quyết tranh chấp đất đai .................54b
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng dân sự
GCNQSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
TAND
Tòa án nhân dân
Land disputes are a common phenomenon today and tend to increase both in
number and complexity. Land dispute means a dispute over rights and obligations
of land users in determining who is a land user. Determining the concept and scope
of land disputes is the key to determining the competence as well as the order and
procedures for settling appropriate disputes. By using the methods of analyzing,
comparing, comparing, summarizing and analyzing each form of dispute resolution
between individuals and individuals from reality in Bac Tan Uyen district, Binh
Duong province, the author has point out some inadequacies and limitations in the
law on land dispute resolution. On that basis, proposed some recommendations, in
particular, the proposal to remove regulations on compulsory components of the
Land Dispute Reconciliation Council at the communal People's Committee is
representative of some households who have lived for a long time in disputed areas;
supplementing provisions on the competence to propose, grounds and procedures
for reviewing dispute settlement decisions according to administrative procedures
when detecting wrong or impossible to implement and supplementing regulations
on grounds for determination. amount of money advanced for property valuation,
on-spot examination and evaluation expense when settling disputes according to
procedural procedures. The author's recommendations towards building a legal
system for resolving land disputes are increasingly completed, the settlement is
timely, thorough.
Key words: Land disputes; land dispute resolution; People's Court of Bac
Tan Uyen district; Binh Duong Province.
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt
không gì thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng
các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai dẫn đến việc giải quyết gặp nhiều khó
khăn. Với số lượng văn bản pháp luật được xem là “đồ sộ” nhất trong các lĩnh vực
thì việc khắc phục thiếu sót vẫn còn là quá trình khó khăn nhất và tiêu tốn nhiều
giấy mực của cả các nhà lập pháp và các nhà nghiên cứu.
Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về
giải quyết tranh chấp đất đai, thẩm quyền giải quyết cũng như thực trạng giải quyết
tranh chấp đất đai là việc làm cần thiết, từ đó có những kiến nghị góp phần sửa đổi,
bổ sung pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai nhằm nâng cao chất lượng giải quyết
tranh chấp đất đai. Từ những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài "Pháp luật về giải
quyết tranh chấp đất đai - thực tiễn tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và
một số kiến nghị” làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai với nhiều cách tiếp cận, phạm
vi nghiên cứu khác nhau, trong đó có một số luận văn mà tác giả đặc biệt chú ý như
sau:
- Luận văn Tiến sĩ Luật học, “Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp
đất đai bằng Tòa án ở nước ta” của tác giả Mai Thị Tú Oanh, được thực hiện tại
Học viện Khoa học xã hội Việt Nam năm 2013 đã làm rõ những vẫn đề lý luận về
tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai bằng Tòa án ở nước ta. Từ đó, đưa
ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học, “Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai qua
thực tiễn tại Cà Mau” của tác giả Huỳnh Văn Vui, được thực hiện tại Trường Đại
học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017, tác giả đã trình bày được cơ sở lý
luận về giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ quan hành chính Nhà nước qua thực tiễn
3
4
cá nhân với cá nhân trong quá trình sử dụng đất, qua các hình thức giải quyết tranh
chấp tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một số phương pháp cụ thể
như sau:
Thứ nhất, phương pháp phân tích nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt
Nam về khái niệm, đặc điểm tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai
cũng như trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ quan hành chính Nhà
nước và tại cơ quan tư pháp.
Thứ hai, phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu các quy định của pháp
luật Việt Nam theo thời gian để làm rõ những thay đổi, điểm mới của luật qua thời
gian. Đồng thời, phương pháp này được sử dụng để phân tích, phản ánh thực tiễn
giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Thứ ba, phương pháp tổng hợp, thống kê các nguồn tài liệu là các báo cáo, sổ
thụ lý, giải quyết tại TAND huyện Bắc Tân Uyên và UBND huyện Bắc Tân Uyên
qua các năm, các tạp chí chuyên ngành về vấn đề nghiên cứu về giải quyết tranh
chấp đất đai và những vấn đề có liên quan nhằm bổ sung kiến thức về lý luận cũng
như tìm hiểu pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai.
5. Câu hỏi nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài sẽ trả lời cho các câu hỏi sau:
Thứ nhất, tranh chấp đất đai là gì? Giải quyết tranh chấp đất đai là gì? Tranh
chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai tại Việt Nam có những đặc điểm gì?
Phải tuân thủ những nguyên tắc gì?
Thứ hai, có các hình thức giải quyết tranh chấp đất đai nào, được tiến hành
theo những trình tự thủ tục ra sao?
Thứ ba, thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh
Bình Dương như thế nào? Có bộc lộ những hạn chế, bất cập gì? Từ đó, có những
1.1. Khái quát chung về giải quyết tranh chấp đất đai
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm tranh chấp đất đai
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những chính sách pháp luật đất đai khác
nhau, dù pháp luật có công nhận đất đai là tài sản thuộc sở hữu tư nhân hay sở hữu
chung toàn dân mà Nhà nước là đại diện và giao quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá
nhân, hộ gia đình,… thì ở nước ta, hiện tượng tranh chấp đất đai trở thành một trong
những vấn đề phức tạp nhất trong tất cả các loại tranh chấp. Tranh chấp đất đai là
một trong những vấn đề nóng xảy ra thường xuyên trong đời sống hàng ngày, ảnh
hưởng không nhỏ đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và việc sử
dụng đất nói riêng. “Sự kiện Bộ Tài nguyên – Môi trường từng đề xuất thành lập
một cơ quan tài phán chuyên trách để giải quyết các tranh chấp đất đai đã phần
nào cho thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề”2. Vậy những loại tranh chấp nào là
tranh chấp đất đai, tại sao nó lại trở thành vấn đề thời sự như vậy, để trả lời những
câu hỏi này thì trước hết phải hiểu khái niệm tranh chấp đất đai là gì. Việc làm rõ
nội hàm của khái niệm tranh chấp đất đai là cần thiết và có ý nghĩa thực tế sâu sắc
trong việc giải quyết có hiệu quả các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn vì không
có định nghĩa chính xác về khái niệm tranh chấp đất đai thì không thể xác định được
đối tượng tranh chấp trong tranh chấp đất đai, không xác định cơ quan có thẩm
quyền giải quyết cũng như áp dụng trình tự, thủ tục giải quyết phù hợp. Tranh chấp
đất đai được sử dụng trong đời sống xã hội để chỉ những bất đồng, mâu thuẫn xảy ra
trong quá trình quản lý và sử dụng đất. Còn dưới góc độ pháp lý thì khái niệm
“tranh chấp đất đai” được hiểu thế nào.
2
Th.s Lưu Quốc Thái, 2006. Bàn về khái niệm “Tranh chấp đất đai” trong Luật đất đai năm 2003.
Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2006.
4
Trường Đại học Luật Hà Nội, 1999. Từ điển giải thích thuật ngữ luật học. Nxb. Công an nhân dân,
5
Khoản 26 Điều 4 Luật đất đai năm 2003.
tr.74.
8
cụ thể, đây chỉ là người sử dụng đất hay là còn tất cả các chủ thể liên quan đến
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong quan hệ tranh chấp đất đai.
Tuy định nghĩa tranh chấp đất đai theo Luật đất đai năm 2003 còn gây ra
nhiều ý kiến, quan điểm trong cách hiểu và áp dụng pháp luật nhưng đến Luật đất
đai năm 2013 tại khoản 24 Điều 3 lại tiếp tục giữ nguyên khái niệm về tranh chấp
đất đai. Tuy nhiên, có sự thay đổi về cách sử dụng thuật ngữ tranh chấp đất đai. Bởi
lẽ, nếu như Luật đất đai năm 2003 sử dụng cả hai khái niệm “Tranh chấp đất đai” và
“Tranh chấp về quyền sử dụng đất” (Điều 135 và Điều 136) thì Luật đất đai năm
2013 lại sử dụng khái niệm “Tranh chấp đất đai” và “Tranh chấp về tài sản gắn liền
với đất” (Điều 203). Hay nói cách khác, tuy sử dụng cùng một khái niệm nhưng với
việc sử dụng thuật ngữ tranh chấp đất đai đã xác định được đối tượng của tranh
chấp đất đai là tranh chấp quyền sử dụng đất, phân biệt với tranh chấp về tài sản gắn
liền với đất. Điều này là phù hợp với chính sách pháp luật về đất đai của nước ta,
bởi lẽ:
Thứ nhất, chế độ sở hữu đất đai của Việt Nam được quy định trong Hiến
pháp năm 2013 là “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
như sau: 1. Tranh chấp đất đai mà các đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một
trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản
gắn liền với đất thì do TAND giải quyết…”.
Từ những phân tích trên đây đã cho thấy sự tương đồng trong khái niệm
tranh chấp đất đai chỉ có thể là tranh chấp về quyền sử dụng đất, không bao gồm
tranh chấp tài sản gắn liền với đất và có thể định nghĩa về tranh chấp đất đai như
sau: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của những người sử
dụng đất trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đất”.
1.1.1.2. Các dạng tranh chấp đất đai
Trong điều kiện kinh tế hàng hóa, quyền sử dụng đất được coi là một loại tài
sản, một loại hàng hóa đặc biệt được giao dịch phổ biến trên thị trường thì việc xảy
ra tranh chấp quyền sử dụng đất là điều hiển nhiên. Ngoài tranh chấp “trực tiếp”
quyền sử dụng đất, các chủ thể có thể tranh chấp tài sản gắn liền với đất đai mà con
người đã đầu tư, tạo lập trên đất; tranh chấp khi thực hiện các giao dịch quyền sử
10
dụng đất7. Đây là các tranh chấp liên quan đến đất đai nên việc giải quyết ít nhiều
cũng liên quan đến pháp luật đất đai, dù đối tượng tranh chấp không phải là đất đai.
Việc phân định này có ý nghĩa quyết định trong việc phân định về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục giải quyết tranh chấp.
Như vậy, có thể phân loại tranh chấp về đất đai gồm các dạng sau:
- Tranh chấp quyền sử dụng đất: Đây là dạng tranh chấp đất đai trực tiếp
nhất. Trong dạng tranh chấp này, chúng ta thường gặp các loại tranh chấp về ranh
đất, tranh chấp quyền sử dụng đất khi ly hôn, tranh chấp thừa kế đất đai, tranh chấp
đòi đất.
- Tranh chấp tài sản gắn liền với đất bao gồm công trình xây dựng, cây lâu
năm, cây rừng trên đất.
1.1.1.3. Đặc điểm của tranh chấp đất đai
Chủ thể phát sinh tranh chấp không phải là chủ sở hữu tài sản, chính vì vậy
đối tượng trong quan hệ tranh chấp cũng không là tài sản mà chỉ là quyền quản lý,
sử dụng tài sản. Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc sở hữu của các bên tranh
chấp mà thuộc quyền sở hữu toàn dân, không thuộc sở hữu riêng của bất cứ cá nhân
hay tổ chức nào.
Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai của nước ta mang tính đặc thù, phù
hợp với chế độ chính trị của nước ta bởi lẽ việc sở hữu tư nhân đối với đất đai trong
điều kiện nước ta hiện nay có nguy cơ dẫn đến những hệ lụy tất yếu. Việt Nam đang
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên nhu cầu sử dụng đất với
diện tích lớn để làm công trình lớn, các dự án lớn trong khi trường hợp sở hữu tư
nhân sẽ gây khó khăn cho công tác quy hoạch. Ngoài ra, có thể tạo điều kiện để
phát sinh tầng lớp địa chủ có nhiều tiền thì gom đất còn người nghèo thì không có
đất để canh tác, kéo theo sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng giai cấp.
Thứ ba, nội dung tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp
Hoạt động quản lý, sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường hiện nay diễn rất
đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, nhu cầu sử
dụng khác nhau. Trong nền kinh tế hiện nay thì đất đai không còn chỉ đơn thuần là
tư liệu sản xuất mà còn là một loại hàng hóa đặc biệt, quyền sử dụng đất đai là đối
12
tượng trong các giao dịch dân sự, có giá trị thương mại và có khả năng sinh lời. Do
đó, việc quản lý, sử dụng đất đai càng phong phú thì những mâu thuẫn, bất đồng
phát sinh cũng trở nên gay gắt và phức tạp hơn.
Thứ tư, tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng tới lợi ích trực tiếp của các
bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước
Quan hệ đất đai liên quan đến lợi ích của nhiều đối tượng trong xã hội: Nhà
nước, cộng đồng dân cư, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cơ sở tôn giáo,… Do đó, khi
phát sinh tranh chấp đất đai không chỉ liên quan đến lợi ích của một bên mà còn liên
ngoại xâm thì tình hình sử dụng đất có nhiều diễn biến phức tạp”9.
Năm 1975 khi đất nước thống nhất, Nhà nước đã tiến hành hợp tác hóa nông
nghiệp và xây dựng hàng loạt các lâm trường, nông trường, trang trại. “Đến năm
1977 – 1978 và năm 1982 – 1983 với chính sách chia cấp đất theo bình quân đầu
người dẫn đến những xáo trộn lớn về ruộng đất, ranh giới đất, số lượng và mục đích
sử dụng đất”10.
Khi nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung kế hoạch hóa, quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm cho đất đai
trở thành một loại tài sản đặc biệt và ngày càng trở nên có giá. Dưới góc độ kinh tế,
đất đai trở nên có giá trị, trở thành một loại hàng hóa trao đổi và đối tượng của các
hợp đồng dân sự. Từ khi nhà đất trở nên có giá trị cao đã tác động lớn đến tâm lý
của nhiều người dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại tài sản mà trước đó đã bán,
tặng cho,... diễn ra ngày càng phức tạp.
Thứ hai, về nguyên nhân chủ quan:
- Lỗi trong cơ chế quản lý đất đai: Trước đây việc quản lý đất đai, Nhà nước
phân công, phân cấp cho quá nhiều ngành dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt
chẽ. “Có thời kỳ mỗi loại đất cấp cho một ngành quản lý. Có lúc chính quyền xã,
hợp tác xã thậm chí cả trưởng thôn cũng có quyền cấp đất cho nông dân; cơ quan, tổ
chức cũng có quyền cấp đất cho quân nhân, dẫn đến tình trạng sử dụng đất không
Huỳnh Văn Vui, 2017. Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai qua thực tiễn tại Cà Mau. Luận
văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 11.
9
Huỳnh Văn Vui, 2017. Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai qua thực tiễn tại Cà Mau. Luận
văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 11.
10
14
đất, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và một số kiến nghị. Tạp chí Tòa án nhân dân.
<https://tapchitoaan.vn/bai-viet/xet-xu/tranh-chap-quyen-su-dung-dat-thua-ke-quyen-su-dung-dat-mot-loaitranh-chap-phuc-tap-vi-sao>, đăng tải ngày 05/02/2020, [truy cập ngày 25/3/2020].
12
Viện Nghiên cứu chính sách, Pháp luật và Phát triển Việt Nam, 2013. Hòa giải tranh chấp đất đai
tại Việt Nam, phân tích pháp luật hiện hành, các thực tiễn và khuyến nghị cho cải cách, tr.22.
13
15
hợp tác xã lớn trong khi trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ công chức không đáp
ứng yêu cầu làm cho tình trạng đất đai sử dụng bừa bãi, lãng phí và kém hiệu quả.
Bên cạnh đó, việc Nhà nước tiến hành chia, tách, nhập, thành lập mới những đơn vị
hành chính dẫn đến việc phân định địa giới hành chính không rõ ràng dẫn đến các
cơ quan nhà nước “đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau” đồng thời, tạo nên những “cơn
sốt đất” đẩy giá lên cao nhiều lần làm cho tình hình tranh chấp đất đai ngày càng
phức tạp.
- Về công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật: Công tác tuyên
truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật đất đai còn chưa được coi trọng, pháp luật đất
đai chưa đi sâu vào đời sống nhân dân dẫn đến tình trạng người sử dụng đất thiếu
trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ sử dụng đất và chấp hành pháp luật đất
đai.
1.1.2. Khái niệm, nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai
1.1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai hiện nay đang là một vấn đề nóng, là thách thức đối với
các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết dứt điểm nhằm duy trì sự ổn định chính
trị, trật tự an toàn xã hội và tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Nhận thức được
tầm quan trọng của công tác giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước ta đã chú trọng
đến việc ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp đất đai. Tuy
vấn đề nhạy cảm, tác động không nhỏ đến tâm lý của các bên, gây nên tình trạng
mất đoàn kết trong nội bộ quần chúng nhân dân. Điều này là cơ hội, là kẽ hở để các
thế lực thù địch tuyên truyền chống phá Nhà nước ta. Do đó, hơn bao giờ hết Nhà
nước cần có chính sách, giải pháp để giải quyết tranh chấp đất đai từ khi còn bất đầu
xảy ra mâu thuẫn, không để tình trạng tranh chấp kéo dài lấy lại niềm tin của người
dân vào sự quản lý của Nhà nước.
Thứ hai, về khía cạnh kinh tế. Khi một thửa đất phát sinh tranh chấp sẽ phải
giữ nguyên hiện trạng đất, các bên tranh chấp không được tiến hành các hoạt động
kinh tế trong thời gian chờ cơ quan nhà nước tiến hành xem xét, giải quyết. Ngoài
ra, để theo đuổi một vụ kiện các bên tranh chấp phải bỏ ra tiền của, công sức, thời
gian của mình cho quá trình giải quyết. Thời gian tranh chấp càng dài thì kinh tế bỏ
Trường Đại học Luật Hà Nội, 1999. Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Phần Luật Đất đai,
Lao động, Tư pháp quốc tế), Nxb Công an nhân dân.
15