Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để phát triển khu, cụm công nghiệp thực tiễn tại tỉnh long an - Pdf 66

575

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

LÊ VĂN NAM

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ,
TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
ĐỂ PHÁT TRIỂN KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP
- THỰC TIỄN TẠI TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

LÊ VĂN NAM

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KHU,
CỤM CÔNG NGHIỆP - THỰC TIỄN TẠI TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHAN THÔNG ANH


1.2.2. Đối tượng ......................................................................................................22
1.2.2.1. Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. .................................................. 22
1.2.2.2. Đối tượng chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. ........................................ 22
1.2.2.3. Một số trường hợp đặc biệt và trường hợp không được bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư ............................................................................................................................... 24

1.2.3. Trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ...........................................26
CHƢƠNG 2: NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƢỚNG HOÀN THIỆN VỀ BỒI
THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT ĐỂ
PHÁT TRIỂN KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH LONG AN ..............31
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI
ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KHU, CỤM
CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN ...........................................31


2.1.1. Sơ lược về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Long An – Nền tảng
để xây dựng, phát triển các Khu, cụm công nghiệp ................................................31
2.1.2. Tình hình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để phát
triển Khu, cụm công nghiệp tại tỉnh Long An ........................................................33
2.2. MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH THỰC
HIỆN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI
ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH LONG AN ....39
2.2.1. Giá đất để tính bồi thường chưa hợp lý ........................................................39
2.2.2. Các chính sách hỗ trợ, tái định cư còn nhiều bất cập ....................................43
2.2.3. Trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư còn thiếu chặt chẽ ..............46
2.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT ĐỂ
PHÁT TRIỂN KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP .........................................................49
2.3.1. Hoàn thiện việc xác định giá đất để bồi thường............................................49

Khu công nghiệp

LĐĐ

Luật Đất đai

TĐC

Tái định cư

THĐ

Thu hồi đất

UBND

Ủy ban nhân dân


TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài nghiên cứu “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất để phát triển Khu, cụm công nghiệp - Thực tiễn tại tỉnh Long An” được
tiến hành tại các huyện có khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An. Qua
những nghiên cứu trên, chúng ta sẽ thấy được trong quá trình tổ chức, thực hiện
công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để xây dựng khu, cụm công nghiệp còn gặp
phải những khó khăn, vướng mắc, sự thiếu đồng bộ của các ngành, các cấp và thiếu
sự đồng thuận của người dân. Từ những khó khăn, vướng mắc đó, tác giả đề xuất
kiến nghị những giải pháp có liên quan, giúp cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư trên địa bàn tỉnh Long An thật sự đạt hiệu quả, đúng quy định pháp luật và
đồng bộ, góp phần hạn chế tối đa việc khiếu nại, khiếu kiện của người dân trong

Nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong nước và tăng cường mở
rộng hợp tác quốc tế, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng phát
triển các khu, cụm công nghiệp kèm theo việc ban hành nhiều chính sách thông
thoáng để tạo môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn, thu hút các doanh nghiệp
trong và ngoài nước. Bên cạnh những tác động tích cực từ việc xây dựng các khu,
cụm công nghiệp đem lại, thì cũng đặt ra vô vàn khó khăn, thách thức cho Nhà
nước ta trong việc quy hoạch sử dụng đất và giải quyết các vấn đề phát sinh kéo
theo, đặc biệt phải kể đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất vì mục tiêu hình thành, phát triển các khu, cụm công nghiệp.
Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giải quyết chính sách đất đai
trong quá trình phát triển kinh tế, pháp luật đất đai Việt Nam qua các thời kỳ từ năm
1987 đã có những quy định bước đầu về thu hồi đất và dần hoàn thiện qua các năm.
Trải qua bốn lần thay đổi, đến nay Luật Đất đai năm 2013 đã quy định đầy đủ, chi
tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục tiêu kinh tế,
bao gồm phát triển các khu, cụm công nghiệp; góp phần tạo hành lang pháp lý vững
chắc cho các cơ quan nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ; đảm
bảo cân bằng, hài hòa quyền lợi giữa nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng và người dân có
đất bị thu hồi. Mặc dù vậy, thực tế áp dụng vẫn tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc,
nhất là về giá đất bồi thường, chính sách hỗ trợ chưa rõ ràng hay trình tự, thủ tục
còn nhiêu khê, chậm trễ triển khai dự án,…gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế.
Ở Việt Nam, tiêu biểu là tỉnh Long An, một trong những địa phương có số
lượng, tốc độ xây dựng, hình thành các khu, cụm công nghiệp nhanh nhất cả nước
và trọng điểm của khu vực phía Nam. Tuy nhiên, do những rào cản pháp lý về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, mà quá trình phát triển khu,
cụm công nghiệp ở địa phương này cũng gặp không ít trở ngại, khó khăn. Theo đó,
việc nghiên cứu, đánh giá quy định của pháp luật, chỉ ra những bất cập để từ đó đề
xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật đất đai là việc làm cần thiết. Vì
vậy, tác giả đã chọn “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất để phát triển Khu, cụm công nghiệp - Thực tiễn tại tỉnh Long An”
làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.

hỗ trợ.
Năm 2018, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật đã xuất bản cuốn sách
Những điều cần biết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của
tác giả PGS.TS.GVCC. Phan Trung Hiền, cuốn sách với 406 trang đã trả lời gần
200 câu hỏi liên quan đến pháp luật đất đai, xoay quanh đó là vấn đề bồi thường, hỗ


3

trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, giúp người đọc có tài liệu tham khảo trong
quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và thi hành LĐĐ năm 2013.
Năm 2018, tác giả Trần Hoa Nam đã thực hiện Luận văn Thạc sĩ Luật học tại
trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh với đề tài Áp dụng pháp luật về thu hồi
đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng khi xây dựng khu công nghiệp tại huyện Châu
Thành tỉnh Bến Tre. Qua đó, tác giả cho ta thấy được trong quá trình tổ chức thực
hiện công tác giải phóng mặt bằng xây dựng KCN tại huyện Châu Thành, Bến Tre
còn gặp phải những khó khăn, vướng mắc, thiếu sự đồng bộ của các ngành, các cấp
và sự đồng thuận của nhân dân, từ đó đề xuất kiến nghị những giải pháp làm cho
công tác giải phóng mặt bằng đạt hiệu quả thật sự, đúng quy định của pháp luật và
đồng bộ góp phần hạn chế thấp nhất việc khiếu nại của người dân trong vùng bị ảnh
hưởng của dự án.
Năm 2018, tác giả Nguyễn Thị Nhật Lệ đã thực hiện Luận văn thạc sĩ Luật
học tại trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất và thực tiễn thi hành tại huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội. Qua đó, tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Phân tích các quy định của pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và thực tiễn thi hành tại
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra định hướng, giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.
Năm 2019, TS. Nguyễn Quang Tiến và ThS. Đỗ Trần Hà Linh có bài viết

khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An (trong Luận văn này, tác giả chỉ
nghiên cứu khía cạnh bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để
phát triển kinh tế, cụ thể là phát triển khu, cụm công nghiệp tại tỉnh Long An).
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: trên địa bàn tỉnh Long An (Chủ yếu tại huyện Đức Hòa
và huyện Cần Giuộc).
Phạm vi thời gian: Tác giả nêu ra những nội dung cơ bản nhất trong quy định
của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi
đất theo LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nội dung: Trên cơ sở những quy định của pháp luật có liên quan, tác giả tập
trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Long An, chỉ ra những bất cập
và hướng hoàn thiện một số quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
5. Phƣơng pháp tiến hành nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:


5

Trong Chương 1, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu,
phân tích, tổng hợp để làm rõ quy định liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
theo pháp luật đất đai hiện hành, những thay đổi của pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư trên cơ sở sự thay đổi của hoàn cảnh kinh tế - xã hội.
Trong Chương 2, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp liệt kê, so sánh, trình
bày, phân tích, tổng kết thực tiễn, tổng hợp vấn đề, nhằm phản ánh thực trạng, nhận
diện giải pháp hoàn thiện, góp phần vào việc đẩy nhanh quá trình bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư trên thực tế.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy và nghiên
cứu tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu luật học. Luận văn cũng sẽ hữu ích cho các

Theo Từ điển tiếng Việt, bồi thường được hiểu là việc đền bù bằng tiền những
thiệt hại về vật chất mà mình phải chịu trách nhiệm1. Trong khoa học pháp lý, “bồi
thường” là khái niệm xuất hiện nhiều trong các lĩnh vực dân sự, thường gắn liền với
các cụm từ như trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, bồi thường thiệt hại vật chất, bồi thường thiệt hại về tinh thần…và
tương xứng với việc ai gây thiệt hại, người đó phải bồi thường; thiệt hại đến đâu,
bồi thường đến đó.
Theo pháp luật đất đai, đặc biệt trong bối cảnh các dự án xây dựng ngày càng
phát triển (nhất là các dự án khu, cụm công nghiệp) kéo theo diện tích đất người
dân đang sử dụng bị thu hồi ngày càng lớn, đã đặt ra bài toán cho các cơ quan hành
chính nhà nước trong việc quản lý đất đai, đặc biệt phải kể đến bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất.

1

Hoàng Phê, 2018. Từ điển tiếng Việt, NXB Hồng Đức, TP.HCM, tr.102.


7

Căn cứ theo Khoản 12 Điều 3 LĐĐ năm 2013, “bồi thường về đất” được
hiểu là “việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi
cho người sử dụng đất”.
Xuất phát từ thực tiễn quá trình Nhà nước THĐ sẽ gây ra những thiệt hại vô
cùng lớn, ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến cuộc sống vốn đã ổn định từ bao lâu nay
của người sử dụng đất. Chẳng hạn, người dân sẽ bị lâm vào tình cảnh bị mất chỗ ở,
mất đất để canh tác sản xuất nông nghiệp, mất đi nơi kinh doanh buôn bán hàng
hóa,…Việc THĐ không những gây thiệt hại về đất mà còn ảnh hưởng đến nhà ở,
các công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu, vật nuôi trên đất, ảnh
hưởng đến đời sống vật chất, mức thu nhập, sức khỏe, tâm lý của người dân có đất

phải đảm bảo sự hỗ trợ công bằng giữa những trường hợp thuộc diện THĐ theo
đúng trình tự luật định, chứ không còn là tùy nghi thực hiện nữa. Theo đó, đối chiếu
với quy định tại Khoản 2 Điều 83 LĐĐ năm 2013, các khoản hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất bao gồm:
Thứ nhất, hỗ trợ nhằm giúp người dân bị THĐ có điều kiện ổn định đời sống,
sản xuất; Trong đó, đối tượng, điều kiện và mức hỗ trợ sẽ căn cứ vào loại đất, diện
tích đất, địa bàn bị thu hồi đất4.
Thứ hai, đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp canh tác, sản xuất
nông nghiệp hoặc bị thu hồi đất ở kết hợp với kinh doanh và phải di dời chỗ ở thì sẽ
được hưởng chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề; tìm kiếm việc làm. Hình
thức hỗ trợ này được áp dụng linh hoạt tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất và chỉ
áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi, không áp dụng cho các tổ
chức hay đơn vị khác.
Thứ ba, trường hợp cá nhân, hộ gia đình hoặc người Việt Nam định cư ở nước
ngoài bị THĐ và phải di chuyển chỗ ở, thì được hỗ trợ TĐC. UBND cấp tỉnh sẽ phê
duyệt phương án TĐC với nhiều cấp nhà, diện tích nhà ở cho phù hợp với khả năng
tài chính, nhu cầu sử dụng và tình hình thực tế tại mỗi địa phương.
Thứ tư, các hình thức hỗ trợ khác theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, theo Điều 25 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính
phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, thì tùy
theo điều kiện, tình hình thực tế của từng địa phương và góp phần đảm bảo quyền
lợi cao nhất cho người sử dụng đất, thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền quyết
định các biện pháp hỗ trợ khác nhằm đảm bảo công bằng đối với người có đất thu
hồi và những trường hợp đặc biệt khác như người dân bị THĐ nhưng không được
hưởng bồi thường mà chỉ được hỗ trợ.

4

Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ


hại, trong đó thiệt hại lớn nhất, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt vốn có của người
dân là bị mất chỗ ở, phải tìm và chuyển sang chỗ ở khác ngoài địa bàn đang sinh
sống, gây xáo trộn, đảo lộn cuộc sống. Nhằm đảm bảo cho người dân bị THĐ sớm
ổn định lại cuộc sống, ngoài việc phải bồi thường những thiệt hại, Nhà nước có
trách nhiệm bố trí nơi ở mới cho người dân khi họ phải di chuyển nơi ở hay gọi
cách khác là tái định cư.
Theo đó, TĐC được hiểu là việc bố trí chỗ ở mới hoặc trả chi phí để người có
đất bị thu hồi tìm một chỗ ở mới, giúp ổn định lại cuộc sống, trong trường hợp
người bị THĐ không còn nơi ở nào khác trong phạm vi địa phương nơi có đất bị thu
hồi và phải di chuyển chỗ ở. Đồng thời, căn cứ vào đặc điểm, tình hình quỹ đất của


10

mỗi địa phương, mà áp dụng hình thức để bố trí TĐC khác nhau như: bồi thường
bằng nhà ở; bồi thường bằng giao đất ở mới; hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ
ở mới, nên TĐC còn được xem là một hình thức hỗ trợ, giúp đỡ người dân một
phần cho giai đoạn ban đầu khi bị chuyển đổi công việc đang có, hay đang bị biến
động quá trình sinh sống và làm việc của gia đình khi bị Nhà nước thu hồi đất.
(iv) Về “thu hồi đất”
Nếu như các khái niệm về giao đất, cho thuê đất là những hình thức pháp lý
làm hình thành một quan hệ pháp luật đất đai giữa Nhà nước với người sử dụng đất,
thì THĐ là căn cứ pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai. Trong đó, “thu
hồi” theo Từ điển tiếng Việt còn được coi là một động từ thể hiện sự thu về lại, lấy
lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác5.
Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 có đề cập đến vấn đề quản lý, sử
dụng đất đai như: Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và
pháp luật, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và mang lại hiệu quả. Đến Hiến
pháp năm 2013, đã được bổ sung thêm những nội dung quy định mới hoàn toàn so
với các Hiến pháp trước đây nhằm siết chặt hơn các quy định về THĐ. Cụ thể, tại

hiểu là: nơi sản xuất và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, có ranh giới địa lý được xác định rõ ràng, được đầu tư xây dựng hạ
tầng kỹ thuật nhằm thu hút, di dời các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổ hợp tác, hợp tác
xã vào đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cụm công nghiệp được xem là một dạng của KCN thu nhỏ, chủ yếu được
thành lập nhằm thu hút và di dời các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, tổ hợp
tác, hộ kinh doanh cá thể ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh, nhằm khắc
phục tình trạng ô nhiễm môi trường, phát triển nghề, làng nghề ở địa phương. Quy
mô diện tích của CCN từ 10-75 ha, đối với CCN ở các huyện miền núi và CCN làng
nghề có quy mô diện tích từ 5-75 ha.
Thông qua việc tìm hiểu các thuật ngữ có liên quan, tác giả cho rằng có thể
hiểu “Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển Khu,
cụm công nghiệp” là việc Nhà nước thực hiện các hoạt động theo nguyên tắc, trình
tự, thủ tục luật định để đền bù, trợ giúp cho tổ chức, cá nhân bị tổn thất, thiệt hại khi
bị thu hồi đất nhằm giúp người dân ổn định nơi ở, cuộc sống sinh hoạt, sản xuất sau
thu hồi; và góp phần tạo quỹ đất sạch để sử dụng cho mục đích phát triển các khu,
cụm công nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm
Qua từng thời kỳ, quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tuy đã có sự thay
đổi cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, song vẫn có những đặc điểm cơ bản sau:
1.1.2.1. Đặc điểm chung
a) Chỉ phát sinh khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất, thể hiện tính quyền lực
Nhà nước và được thể hiện bằng quyết định hành chính.


12

Căn cứ theo Điều 61, Điều 62 LĐĐ năm 2013, trong những trường hợp cần
thiết như khi cần xây dựng căn cứ quân sự, thực hiện các dự án quan trọng cấp quốc
gia; xây dựng, phát triển KCN, cụm công nghiệp thì Nhà nước phải THĐ. Việc

b) Được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định.
Trình tự là sự sắp xếp lần lượt, thứ tự trước sau6, thủ tục là những việc cụ thể
phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính
thức7. Như vậy, trình tự, thủ tục là những công việc cần thực hiện theo từng bước đã
được sắp xếp theo thứ tự trước, sau. Cho đến nay, chưa có văn bản quy phạm pháp
luật nào giải thích khái niệm về trình tự, thủ tục nói chung, cũng như trình tự, thủ
tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC nói riêng. Mặc dù vậy, trong quá trình nghiên cứu,
cũng có một số tác giả nêu ra định nghĩa, diễn giải thuật ngữ liên quan. Cụ thể, theo
tác giả Châu Hoàng Thân thì trình tự, thủ tục THĐ vì mục đích quốc phòng an ninh;
phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là những công việc phải
thực hiện từng bước theo thứ tự do pháp luật quy định khi nhà nước thực hiện việc
THĐ để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi
ích quốc gia, công cộng8. Do THĐ để phát triển Khu, cụm công nghiệp thuộc nhóm
mục đích để phục vụ cho việc phát triển kinh tế, nên có thể hiểu trình tự, thủ tục bồi
thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước THĐ để phát triển khu, cụm công nghiệp là
những công việc phải thực hiện trong từng bước theo thứ tự, quy trình chặt chẽ, có
hệ thống do pháp luật quy định nhằm mục đích xây dựng, phát triển các khu, cụm
công nghiệp.
Mặc dù chưa được giải thích rõ ràng về từ ngữ “trình tự, thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”, nhưng pháp luật đất đai đã quy định
khá cụ thể, chi tiết về các bước để thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ TĐC. Điều này
góp phần đảm bảo việc công bằng, khách quan, thống nhất trong việc áp dụng pháp
luật đối với các đối tượng bị ảnh hưởng của việc THĐ trên phạm vi cả nước. Thêm
nữa, việc quy định chặt chẽ, rõ ràng, công khai, minh bạch quy trình thực hiện là
tiền đề cơ bản cho sự thành công của toàn bộ quá trình - công cụ quản lý, kiểm soát

6

Hoàng Phê, 2018. Từ điển tiếng Việt, NXB Hồng Đức, TP. HCM, tr. 1314.


phí chi trả tiền bồi thường: (i) Đối với những dự án thuộc thẩm quyền quyết định
đầu tư của Quốc hội, của Chính phủ nhưng do Bộ, ngành triển khai hoặc do chính
Bộ làm chủ đầu tư thì Bộ, ngành phải tự có trách nhiệm đảm bảo kinh phí để chi trả
bồi thường, hỗ trợ; (ii) Đối với những dự án đầu tư do UBND tỉnh phê duyệt thì Ủy
ban phải đảm bảo nguồn chi trả bồi thường; (iii) Trường hợp chủ đầu tư dự án
không thuộc trường hợp (i) và (ii) mà tự nguyện đứng ra chi trả chi phí bồi thường
thì phải có trách nhiệm đảm bảo khả năng tài chính để thực hiện.
Theo đó, dù dự án khu, cụm công nghiệp do Thủ tưởng chính phủ phê duyệt
chủ trương đầu tư và không bắt buộc chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng khu, cụm công
nghiệp phải tự mình chi trả tiền bồi thường, nhưng trên thực tế hầu hết các dự án
hình thành khu, cụm công nghiệp đều do chủ đầu tư tự nguyện đứng ra chi trả tiền
bồi thường, hỗ trợ. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do nếu để cơ quan nhà
nước chi trả kinh phí thì phải trải qua trình tự, thủ tục chặt chẽ để xét duyệt, rót
nguồn vốn theo tiến độ, giai đoạn sẽ gây mất thời gian, kéo dài dự án. Còn trường
hợp chủ đầu tư tự nguyện chi trả tiền thì việc thẩm định, xin phê duyệt dự án sẽ
nhanh hơn do chứng minh được năng lực tài chính và góp phần đẩy nhanh tiến độ
THĐ, tạo mặt bằng sạch để sớm triển khai dự án, thu hút đầu tư. Hơn hết, số tiền


15

chủ đầu tư tạm ứng sẽ được cấn trừ vào nghĩa vụ đóng tiền sử dụng đất, tiền thuê
đất và khoản tiền chênh lệch nếu có sẽ được tính vào chi phí thực hiện dự án theo
Khoản 4 Điều 30 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP.
Đây được xem là một trong những đặc điểm nổi bật, quan trọng nhất trong
việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước THĐ để phát triển kinh tế nói chung và
phát triển khu, cụm công nghiệp nói riêng. Bởi đối với những trường hợp bồi
thường, hỗ trợ, TĐC không vì mục tiêu phát triển khu, cụm công nghiệp, mà hướng
tới mục đích xây dựng công trình công cộng, chẳng hạn như: trụ sở cơ quan nhà
nước, hệ thống giao thông, các công trình tôn giáo, tín ngưỡng; cơ sở y tế, giáo dục,


tỉnh sẽ ra quyết định THĐ, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ trên cơ sở tình
hình thực tế của địa phương và đặc điểm của dự án.
Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những quy
định khá chi tiết về trình tự, thủ tục THĐ, bồi thường, hỗ trợ TĐC cho người dân có
đất thuộc diện thu hồi. Tuy nhiên, do đặc điểm, tình hình kinh tế của mỗi địa
phương khác nhau, mức sống và thu nhập của người dân cũng không giống nhau,
nên trong giới hạn nhất định UBND tỉnh đều có văn bản để cụ thể, chi tiết hóa các
quy định pháp luật trong việc bồi thường, hỗ trợ TĐC để phù hợp với địa phương
mình. Trong đó, ngoài việc ghi nhận rõ hơn trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ,
TĐC theo quy định pháp luật, thì quyết định của UBND còn làm rõ mức bồi
thường, hỗ trợ khi THĐ trên địa bàn, có cập nhật thay đổi tùy thuộc vào biến động
của thị trường về giá, mức thu nhập,…
Chẳng hạn, theo Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND của UBND tỉnh Long An,
thì địa phương này quy định mức chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ đào
tạo đối với trường hợp Nhà nước THĐ nông nghiệp là không được vượt quá 0,4 lần
giá đất nông nghiệp. Mức hỗ trợ này được áp dụng thống nhất trên toàn tỉnh Long
An, đối với mỗi dự án cụ thể sẽ do UBND cấp huyện đề xuất mức hỗ trợ phù hợp.
Trong khi đó, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương áp dụng mức hỗ trợ theo Khoản
6 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành LĐĐ (không quá 05 lần11); Tỉnh
Bình Phước hỗ trợ không quá 1,5 lần12; tỉnh Bến Tre hỗ trợ bằng 1,5 lần và không
quá 05 lần đối với trường hợp cá biệt13.

11

Khoản 2 Điều 30 Quyết định số 28/2018/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của UBND thành phố Hồ Chí
Minh quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước THĐ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; Và,
Khoản 1 Điều 30 Quyết định số 51/2014/QĐ-UBND ngày 18/12/2014 của UBND tỉnh Bình Dương ban
hành quy định về chính sách, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi nhà nước THĐ trên địa bàn tỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status