ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN VĂN CHUYÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT, ĐỀ XUẤT
PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG QUẾ (CINNAMOMUM
CASSIA) TẠI HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
THÁI NGUYÊN - 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN VĂN CHUYÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT, ĐỀ XUẤT
PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG QUẾ (CINNAMOMUM
CASSIA) TẠI HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
Ngành: Lâm học
Mã số ngành: 8 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Thái
THÁI NGUYÊN - 2019
ngành lãnh đạo của huyện Bảo Yên và đặc biệt là nhóm nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu chọn giống Quế (Cinnamomum cassia.Presl) có năng suất và
hàm lượng tinh dầu cao phục vụ trồng rừng kinh tế tại tỉnh Lào Cai” chủ
nhiệm đề tài là TS. Vũ Văn Định cùng các cộng tác viên của Trung tâm
Nghiên cứu Bảo vệ rừng đã cùng tôi đi thực địa thu thập số liệu tại địa bàn
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc
nhất đến các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, Khoa sau Đại học và đặc
biệt là thầy giáo TS. Nguyễn Văn Thái người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài,
Tôi xin chân thành cám ơn tới TS. Vũ Văn Định cùng nhóm cộng tác
viên đề tài của Trung tâm Nhiên cứu Bảo vệ rừng – Viện Khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam đã cộng tác và thực hiện đề tài. Trong quá trình thực hiện
luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong nhận được sự giúp
đỡ của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản luận văn này hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2019
Học viên
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU ................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................. vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ............................................................................. vii
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 39
3.1. Điều tra đánh giá thực trạng trồng, khai thác, chế biến và thị trường tiêu
thụ Quế ở tỉnh Lào Cai .................................................................................... 39
3.2. Chọn cây Quế trội sinh trưởng nhanh và hàm lượng tinh dầu cao .......... 42
3.3. Nghiên cứu mật độ trồng và bón phân ..................................................... 45
3.4. Điều tra sâu bệnh hại và đề xuất biện pháp phòng trừ ............................. 48
3.5. Đề xuất biện pháp kỹ thuật gây trồng phù hợp ........................................ 49
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................... 57
1. Kết luận ....................................................................................................... 57
2. Tồn tại: ........................................................................................................ 57
3. Kiến nghị ..................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 59
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU
Chữ viết tắt/ký hiệu
Giải nghĩa đầy đủ
BNN &PTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
CT
Công thức
D1.3
R
Cấp bị sâu/bệnh
TCN
Tiêu chuẩn ngành
TLS
Tỷ lệ sống
XQ
Xung Quanh
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Sinh trưởng của cây Quế trội tại Bảo Yên, Lào Cai ....................... 43
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của Quế ở giai đoạn
rừng trồng ........................................................................................................ 46
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của Quế ở giai đoạn
rừng trồng ......................................................................................................... 47
Bảng 3.4: Danh mục thành phần loài sâu, bệnh hại Quế ................................ 48
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ở các vùng
đất đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý cây bản
địa. Theo thống kê diện tích rừng trồng theo từng loài cây của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2011 Lào Cai có diện tích rừng trồng Quế
2.513,8 ha trong những năm gần đây diện tích rừng trồng Quế tăng nhanh,
theo thông tin Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Lào Cai năm 2015 diện tích trồng Quế
của toàn tỉnh 11.198,5 ha trong đó huyên Bảo Thắng 1689,1 ha, huyện Văn
Bàn 1.754 ha, huyện Bảo Yên 4.848,2 ha, huyện Bắc Hà 2.907,2 ha. Hiện nay
giá vỏ Quế khô thường ít bấp bênh so với các cây trồng khác, lại bảo quản
2
được lâu nên không lo bị tư thương ép giá. Hiện nay, cây Quế đã khẳng định
là một trong những cây trồng mũi nhọn, góp phần xóa đói, giảm nghèo và làm
giàu cho đồng bào thuộc huyện Bảo Yên, Bảo Thắng... Ủy ban nhân dân tỉnh
Lào Cai đã có quy hoạch mở rộng vùng trồng Quế lên 25.000 ha từ nay đến
năm 2025, trong đó các huyện: Bảo Yên 7.800 ha, Bảo Thắng 5.500 ha, Văn Bàn
4.400 ha, Bắc Hà 7.300 ha, tổng diện tích tăng so với diện tích Quế hiện tại.
Huyện Bảo Yên là địa phương đi đầu trong toàn tỉnh Lào Cai về phát
triển các loài cây lâm nghiệp, hàng năm cung cấp ra thị trường hàng chục
nghìn mét khối gỗ các loại có nguồn gốc từ cây trồng. Qua khảo sát đánh giá
điều kiện khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng thích hợp nên cây Quế ở Bảo Yên
được xem là sản phẩm chất lượng cao, vỏ Quế dày, hương vị thơm ngon, chất
lượng, giá thành sản phẩm không khác Quế được trồng ở vùng huyện Văn
Yên tỉnh Yên Bái. Thực tế lá Quế có chứa tinh dầu mà hàng năm người trồng
Quế có thể tỉa thưa cành, lá cung ứng cho các cơ sở chiết xuất tinh dầu. Đây
có thể được xem là lấy ngắn nuôi dài, giúp người trồng Quế tạo công ăn việc
làm, có thu nhập ổn định, trong khi chờ thu hoạch sản phẩm chính.
Nhìn về điều kiện tự nhiên huyện Bảo Yên nằm về phía Nam của tỉnh
- Tuyển chọn được cây Quế trội có năng suất cao phục vụ công tác
trồng rừng của địa phương
- Đề xuất giải pháp về kỹ thuật gây trồng và phòng trừ sâu, bệnh hại
Quế tại Bảo Yên
1.3. Ý nghĩa nghiên cứu khoa học
1.3.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
Bổ sung những cơ sở khoa học về kỹ thuật gây trồng và phòng trừ sâu
bệnh hại Quế. Đồng thời giúp cho học viên tiếp cận phương pháp nghiên cứu
khoa học, giải quyết vấn đề thực tiễn của khoa học đặt ra.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Dựa trên cơ sở khoa học đưa ra các giải pháp kỹ thuật góp phần phát
triển hiệu quả hơn nữa rừng trồng Quế trên địa bàn huyện Bảo Yên.
4
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về cây Quế trên thế giới
- Phân loại và thực vật học
Chi Quế (tên khoa học: Cinnamomum) là một chi các loài thực vật
thường xanh thuộc họ Nguyệt Quế (Lauraceae). Lá và vỏ cây các loài thuộc
chi này có tinh dầu thơm. Chi này có khoảng hơn 300 loài, phân bố chủ yếu
tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam
Mỹ, châu Á, châu Đại Dương và Australasia.
- Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và kỹ thuật gây trồng
+ Đặc điểm sinh vật học
Quế (Cinnamomum cassia) là cây thường xanh được trồng rộng rãi ở
miền Nam và miền Đông châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Đài
Loan, Thái Lan và Việt Nam). Cây cao từ 10-15 m, vỏ màu xám, lá thuôn dài
Rừng Quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng. Ngoài chăm sóc
về lâm sinh và phân bón, tác động duy nhất là tỉa các cành thấp ở thân cây.
Phân bón được khuyến cáo là NPK với tỷ lệ 15-15-15, liều lượng 40 –
100kg/ha tùy thuộc tuổi cây, nhưng người trồng Quế hiếm khi sử dụng phân
bón (Akahil Baruah và Subhan C. Nath, 2004).
- Giá trị sử dụng
Dầu Quế được chiết xuất từ lá, vỏ cây, cành cây bằng cách chưng cất
hơi nước. Các thành phần hóa học chính của dầu Quế là aldehyd cinnamic,
cinnamyl acetate, benzaldehyde, linalool và chavicol.
Các đặc tính chữa bệnh của dầu Quế là chống đầy hơi, chống tiêu chảy,
chống vi khuẩn và chống nôn. Dầu Quế được sử dụng cho các bệnh cảm lạnh,
cúm, sốt, viêm khớp và thấp khớp…( />Vỏ Quế được dùng làm gia vị trong công nghiệp chế biến thực phẩm
(ướp thịt, cá, làm bánh kẹo, sản xuất đồ hộp, nước giải khát). Tinh dầu từ vỏ
và lá được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược phẩm và hoá mỹ phẩm. Tại
6
các nước châu Âu, tinh dầu từ vỏ Quế quan được dùng để uống với chè vì nó
có đặc tính kích thích và diệt khuẩn.
Ngoài tinh dầu trong vỏ Quế còn chứa tanin, nhựa dầu (oleoresin),
protein, pentosan, chất keo, xơ và các chất khoáng. Tinh dầu lá Quế thành
phần chính là eugenol (70-95%), ngoài ra còn khoảng 50 hợp chất khác, trong
đó các hợp chất có hàm lượng đáng kể là linalool, cinnamyl acetat, βcaryophyllen, (E)-cinnamic aldehyd, benzyl benzoat…. Do có hàm lượng
eugenol cao, nên tinh dầu lá Quế quan được dùng làm nguyên liệu để chuyển
hoá thành iso-eugenol và tổng hợp vanilin. Hạt chứa dầu béo (hàm lượng
khoảng 30%) nên được dùng làm dầu thực phẩm tại Ấn Độ và Sri Lanka.
- Sâu bệnh hại Quế
Johns và cộng sự (1961) đã nghiên cứu và phát hiện 3 loài sâu gây hại
chính cho Quế ở miền Bắc nước Mỹ như: Sâu cuốn lá (Homona coficaria
Orthaga vitialis, Dasychira mendosa. Sâu đục quả Alcides sp. Và sâu vẽ bùa
Acrocercops spp..
Theo Vander và cộng sự (2004) đã chỉ ra 2 loài sâu gây hại Quế chính ở
SriLanka là sâu hại lá Chilasa clytia và Graphium sarpedon. Loài Chilasa
clytia sâu trưởng thành có kích thước lớn, đẻ trứng đơn lẻ ở cả mặt trên và
dưới của lá non. Trứng có hình cầu, màu sáp và màu cam vàng. Sâu non màu
đen hoặc xanh đen, ăn cả lá non và lá bánh tẻ, chúng ăn toàn bộ lá và chỉ chừa
lại gân lá. Sâu non tuổi lớn có màu vàng nhạt với sọc đen ở hai bên và có
chiều dài khoảng 2,5 cm. Nhộng có hình trụ được bọc trong kén trông giống
một cành củi gãy. Đối với loài sâu ăn lá Graphium sarpedon cũng là một loài
sâu hại Quế phổ biến. Trưởng thành có màu đen với các hoa văn màu xanh
đặc trưng. Trứng được đẻ ở mặt dưới của lá, hình tròn có màu vàng nhạt.
Theo Le (1992) loài Bọ xít (Pseudodoniella chinensis Zheng) gây hại
trên cành bánh tẻ và gây chết cả cây Quế tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng
Tây, Trung Quốc.
Dharmadasa và Jayasinghe (2000) phát hiện loài sâu (Synanthedon spp.) hại
thân, cành Quế, làm cho các cành chết. Sâu non dài khoảng 2,5cm khi trưởng
8
thành, đầu màu nâu sẫm và thân màu trắng đậm. Sâu non thường ăn phần gỗ
để sống và có xu hướng ăn theo chiều ngang. Sâu trưởng thành, đẻ trứng vào
các vết nứt hoặc vết thương trên vỏ cây và trứng nở trong khoảng 1- 4 tuần.
Theo Amalendu và cộng sự (2014) loài sâu Cricula trifenestrata ăn lá
hại một số loài cây thuộc họ Lauraceae, cụ thể như loài Cinnamomum
glanduliferum, C. glaucescens ở Đông Bắc Ấn Độ, loài C. zeylanicum ở vùng
Đông Bắc Á và SriLanka, loài Persea bombycina ở vùng Đông Nam Ấn Độ,
Nepal và loài Litsea cubeba ở Ấn Độ.
Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu hại Quế
monocrotophos/25 L trong khoảng thời gian 4 ngày làm giảm lượng u bướu
đến mức thấp nhất. Quinalphos 0,05% hoặc Dimethoate 0,06% cũng được
khuyến cáo sử dụng để kiểm soát lá và chồi bị u bướu.
Nghiên cứu bệnh hại Quế
9
Ở Ấn Độ và SriLanka cho biết, Quế có thể bị các bệnh thối đen do nấm
Phellinus lamaensi, mục trắng do Fomes lignosus, đốm khảm do nấm phấn
hồng Corticium salmonicolor, thán thư do Glomerella cingulata và gỉ sắt do
tảo Aecidium cinnamoni, Cephaleuros virescens, Diplodia spp., Exobasidium
spp…. Cũng đã gặp một số loài sâu hại vỏ, chồi non và lá như Phyllocnistis
chrysophthalma, Sorolopha archimedias, Acrocercops spp, Eriophyes bois,
Eriophyes doctersi, Typhlodromus spp… Một số loài tuyến trùng như
Meloidogyne spp…. xâm nhập từ đất vào rễ cũng có thể gây hại đối với các
quần thể Quế (Akhtar Husain et al.,1988).
Karunakaran and Chandrasekharan (1980) đã nghiên cứu bệnh đốm lá
và khô cành ngọn cây Quế Cinnamomum Zeylanicum do nấm
Collectotrichum gloeosporides. Trên những cây mới bị bệnh từ 3 – 5 thì triệu
chứng phát triển chưa rõ ràng, nhưng tới khi 8- 10 ngày triệu chứng bị bệnh
rất đặc trưng. Một số bệnh hại ảnh hưởng tới Quế như đốm xám trên lá vào
tháng 6, 7 ở nhiều vùng của Kerala, Ấn Độ. Triệu chứng xuất hiện là những
điểm nhỏ màu nâu vàng và sau đó chuyển thành trắng tới xám với những viền
màu nâu đậm. Ban đầu vết đốm có hình bầu dục sau đó nó có dạng vết đốm
hoại tử lớn, kích thước từ 14 – 42 mm. Lá bị nặng dẫn tới bị khô và rụng
(Karunakaran et al., 1993)
Theo Zheng và cộng sự (2004) bệnh đốm tảo do Cephaleuros virescens
lây nhiễm vào cây chủ bằng bào tử động trong điều kiện mưa và trong không
khí, từ tháng 3 tới tháng 10 ở vùng Hua’an tỉnh Fujian là bệnh rất nghiêm
những thân cây bị nhiễm bệnh thì chuyển màu nâu tối hoặc màu đen, báo hiệu
cái chết của mô sau sự xâm nhập của nấm. Mô xylem của của cây bị tắc
nghẽn và sự vận chuyển dinh dưỡng bị gián đoạn bởi nấm bệnh Phomopsis
sp. Ở giai đoạn này, gân lá úa vàng, điển hình ở những lá bánh tẻ giống như
triệu chứng của bệnh. Phủ định mối quan hệ giữa mức độ bị bệnh và sự xáo
trộn hấp thụ những chất dinh dưỡng chính (N, P, K) của lá.
Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh hại Quế
11
Kiểm soát bệnh đốm tảo do Cephaleuros virescens bằng hỗn hợp hợp
1% Bordeaux, 50% Topsin và 50% Carbendazim lần lượt là 66,2%, 45,9%, và
33,8% (Zheng et al. (2004).
Rajapakse and Wasantha (2007), để khống chế bệnh đốm lá do C.
gloeesporioides bằng cách phun Chlorothalonil 75% WP, Carbendazim 50%
WP, Mancozeb 80%WP or Thiphanatemethyl 70% WP khoảng 7 -10 ngày,
có thể cải thiện bệnh. Bệnh Phấn hồng do Corticicum salmonicolor chưa có
biện pháp hóa học nào được đề xuất quản lý loại bệnh này mà đốt cháy cành
hoặc phần của cây bị nhiễm bệnh là biện pháp làm giảm tỷ lệ bị bệnh. Phòng
trừ bệnh loét sọc bằng cách cải thiện hệ thống thoát nước làm cho tỷ lệ bị
bệnh thấp đi. Việc loại bỏ và tiêu hủy các bộ phận bị nhiễm bệnh và băng vết
thương bằng nhựa đường cũng được đề xuất để kiểm soát bệnh.
1.2. Tình hình nghiên cứu về cây Quế ở trong nước
- Phân loại và thực vật học
Tên khoa học: Cinnamomum cassia. BL
Thuộc chi: Cinnamomum
Họ: Lauraceae
Tên Việt Nam: Cây Quế
Tên địa phương: Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế
Quế Giao chỉ (Quế Việt Nam) trước đây được coi là sản vật quý giá, có
giá trị như ngà voi, chim công… sử dụng để làm quà ngoại giao, biếu tặng
trong và ngoài nước. Nhân dân Thanh Hoá còn gọi Quế địa phương là Ngọc
Quế Châu Thường. Quế được sử dụng một khối lượng lớn để làm gia vị vì
Quế có vị thơm, cay và ngọt có thể khử bớt được mùi tanh, gây của cá, thịt,
làm cho các món ăn hấp dẫn hơn, kích thích được tiêu hoá. Quế còn được sử
dụng trong các loại bánh kẹo, rượu: như bánh Quế, kẹo Quế, rượu Quế được
sản xuất và bán rất rộng rãi.
Quế được sử dụng làm hương vị, bột Quế được trộn với các vật liệu
khác để làm hương khi đốt lên có mùi thơm được sử dụng nhiều trong các lễ
hội, đền chùa, thờ cúng trong nhiều nước châu á nhất là các nước có đạo phật,
13
đạo Khổng Tử, đạo Hồi. Gần đây nhiều địa phương còn sử dụng gỗ Quế, vỏ
Quế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như bộ Khay, ấm, chén bằng
vỏ Quế, đĩa Quế, đế lót dầy có Quế. Bột Quế còn được nghiên cứu thử
nghiệm trong thức ăn gia súc để làm tăng chất lượng thịt các loại gia súc, gia
cầm. Ngoài ra, gỗ Quế còn được sử dụng làm ván ghép thanh, cột chống,
đóng đồ gia dụng, làm đũa và làm tăm suất khẩu…
Cây Quế có giá trị rất lớn trong đời sống sinh hoạt của nhân dân ta
trong nhiều thế kỷ qua. Trước hết đây là một vị thuốc quý cả về thuốc Nam
lẫn thuốc Bắc (một trong bốn vị thuốc đầu bảng Sâm – Nhung – Quế - Phụ).
Nghiên cứu về giá trị dược liệu của cây Quế, Đỗ Tất Lợi (1970) chỉ rõ trong
Tây y, Quế và tinh dầu Quế được coi là một vị thuốc có tác dụng kích thích
làm cho sự tuần hoàn máu được lưu thông, hô hấp cũng mạnh lên. Đông y coi
Quế như là một vị thuốc bổ, có nhiều công dụng có khi chữa cả đau mắt, ho
hen, bồi bổ cho phụ nữ sau khi sinh nở, chữa bệnh đau bụng, đi tả nguy hiểm
đến tính mạng.
Trong các bộ phận của cây Quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu,
đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5%. Tinh
dầu Quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng
70 – 90%. Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở
nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên
của lá, màu trắng hay phớt vàng. Quế ra hoa vào tháng 4,5 và quả chín vào
tháng 1,2 năm sau. Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang
màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình
bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt. Bộ rễ Quế phát triển mạnh,
rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy Quế có
khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc.
+ Đặc điểm sinh thái học
Đây là lĩnh vực nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm và được tiến
hành trên nhiều vùng trồng Quế khác nhau ở nước ta.
15
Nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng của cây Quế con
trong vườn ươm, Vũ Đại Dương (2002), cho rằng độ che sáng có ảnh hưởng
rõ rệt đến tỷ lệ cây sống ở giai đoạn này.
Trần Hợp (1991), tại các điểm nghiên cứu Đài Sơn (Yên Bái), Quất
Động (Quảng Ninh) và Hom Cán (Thanh Hóa) cho thấy khi còn non, Quế là
cây chịu bóng tuổi vườn ươm, che bóng bằng nứa đan lọt ánh sáng là tốt nhất.
Nghiên cứu qua các ô dạng bản (1m2) trong rừng tự nhiên thì thấy Quế con
tái sinh nhiều dưới tán cây mẹ, ra chỗ hết che bóng thì hầu như không thấy
nữa; mặc dù hạt Quế có thể phát tán khá xa gốc cây mẹ, nhưng có lẽ chỉ nảy
mầm và thành cây Quế con trong điều kiện dưới tán cây. Như vậy, dưới 1 tuổi
cây Quế là cây chịu bóng cao.
Nghiên cứu phân vùng sinh thái: Công trình nghiên cứu của Hoàng Cầu
Những nhận xét trên hầu hết mang tính định tính, ví dụ như việc chia 5
năm thành 1 cấp tuổi đối với Quế mới chỉ dựa vào kinh nghiệm, mặc dù vậy
có thể xem đây là một tài liệu có giá trị tham khảo tốt.
Từ những nghiên cứu trên cho thấy phần lớn các tác giả đều thống nhất
Quế là cây chịu bóng ở giai đoạn tuổi nhỏ, từ 5 tuổi trở lên cây Quế ưa sáng
hoàn toàn. Quế được trồng dưới tán rừng, hoặc trồng theo nhiều phương thức
và phương pháp khác nhau. Cây Quế có thể dẫn giống để mở rộng phạm vi
phân bố tự nhiên của nó ra những vùng khác có điều kiện khí hậu và đất đai
tương tự như nơi nó đã phát sinh. Nhìn chung cây Quế ít bị sâu bệnh khi trồng
ngoài khu vực phân bố tự nhiên của nói; nhưng bệnh tua mực có thể xuất hiện
ở độ cao trên 400m tại miền Trung (Nguyễn Trung Tín, 1999). Tuy nhiên,
chất lượng vỏ Quế ở các vùng này chưa có cơ sở để kết luận. Những nghiên
cứu so sánh và định lượng quá trình sinh trưởng của Quế ở các vùng trồng
Quế tập trung trong nước chưa được các tác giả trên quan tâm, trong đó có
vùng Thanh Hóa.
Đỗ Thanh Hoa (1977) cho rằng loài Cinnamomum cassia thích hợp ở
các tỉnh phía Bắc Việt Nam nơi có nhiệt độ bình quân năm tương đối thấp,
nhiệt độ cao tập trung vào mùa hè. Lượng mưa và số ngày mưa cũng tập trung